Bao Giờ
Tổng quan Bài hát "Bao Giờ" do nhạc sĩ Đỗ Bảo sáng tác phần nhạc. Phần lời và năm sáng tác: Đang cập nhật. Nội dung nghệ thuật "Bao Giờ" mang đặc t...
Khám phá kho lưu trữ kỹ thuật số, nơi kết nối các thế hệ nghệ sĩ, câu chuyện đằng sau những bản nhạc bất hủ và mạng lưới tri thức âm nhạc sâu rộng.
Tổng quan Bài hát "Bao Giờ" do nhạc sĩ Đỗ Bảo sáng tác phần nhạc. Phần lời và năm sáng tác: Đang cập nhật. Nội dung nghệ thuật "Bao Giờ" mang đặc t...
Anh ngủ thêm đi - Nhạc: Hamlet Trương, Trình bày: Tâm Đoan Đang tải...Anh ngủ thêm đi anh, em phải dậy lấy chồng - Nhạc: Hamlet Trương, Trình bày: ...
Trình duyệt của bạn không cho phép chơi nhạc. Ba mươi năm - Võ Tá Hân phổ nhạc, Khắc Dũng trình bày...
Tổng quan Bài hát "Anh vẫn buồn như xưa" được sáng tác và viết lời bởi nhạc sĩ Tăng Nhật Tuệ. Năm sáng tác: Đang cập nhật. Tăng Nhật Tuệ là một nhạc ...
update_topic(strategic_intent='Creating an encyclopedia entry for Phượng Hằng based on the provided data, adhering to all specified formatting and con...
Nhạc thiếu nhi...
Viết tiếp mạch cảm xúc từ những chia ly ngày hè của tuổi trẻ học đường. Bài hát tựa như một bức thư tay lưu bút ghi dấu những ước hẹn ngây thơ e ấp dưới hàng phượng vĩ rơi đầy lối đi, gửi gắm niềm tin vào ngày tựu trường gặp lại rạng rỡ nắng thu.
Mặc dù nhạc sĩ Dương Thiệu Tước theo học nhạc Tây từ thuở nhỏ, nhưng từ thời kỳ cuối thập niên 1940, nhạc của ông thấm đẫm tính dân tộc. Lúc sinh thời, ông từng nói: “Theo tôi tân nhạc Việt Nam phải thể hiện rõ cá tính Việt Nam. Để đạt được điều này, người sáng tác phải hiểu rõ nhạc Việt qua cách học nhạc cụ cổ truyền cũng như hát được các điệu hát cổ truyền”. Điều đó được thể hiện rõ qua các ca khúc nhưƠn Nghĩa Sinh Thành, Đêm Tàn Bến Ngự, đặc biệt làTiếng Xưacủa nhạc sĩ Dương Thiệu Tước. Click để nghe Thái Thanh hát Tiếng Xưa trước 1975 Ca khúcTiếng Xưalà những tâm sự bàng bạc của một người lữ khách khi đứng trước những thành quách cũ rêu phong đã thành phế tích, cảm nhận được những oai linh uy vĩ, người nhạc sĩ chợt nhớ về câu chuyện Tỳ Bà Hành của Bạch Cư Dị năm xưa, và nghe như khúc nghê thường vọng về từ ngàn năm trước: Hoàng hôn lá reo bên thềmHoàng hôn tơi bời lá thuSương mờ ngậm ngùi xuân xanhBâng khuâng phím loan vương tình Click để nghe Giao Linh hát trước 1975 Khung cảnh của bài hát được giới thiệu là một buổi hoàng hôn với lá thu rụng tả tơi bên thềm, xa xa là sương mờ giăng khuất lối. Một cảnh gợi buồn và làm lòng người bâng khuâng, vương tình lên những phím loan. “Phím loan” là một từ cổ, có nghĩa là cung đàn, mà ở phần sau đó nhạc sĩ nhắc lại trong câu hát“cung đàn nhỏ lệ Tầm Dương”. Đâu bóng trăng xưa mơ khúc nghê thườngPhai tàn một thời liệt oanhxa đưa gió may lạnh lùng… Bài hát này được nhạc sĩ Dương Thiệu Tước viết trong hoàn cảnh ông thường xuyên đi về giữa Hà Nội và Huế để tìm hiểu về những làn điệu dân nhạc và cổ nhạc xa xưa. Huế với những phế tích u buồn trầm mặc suốt trăm năm, làn gió heo may lạnh lùng như từ cõi nào xa xăm thoảng qua hồn người lữ khách, mang theo cả linh khí của những đấng quân vương đã một thời liệt oanh còn in hằn trên những rêu phong thành quách, như khúc nghê thường bàng bạc sương khói mông mênh của những ngày xưa cũ. Trước cảm giác có vẻ rất mơ hồ, nhưng trong lòng người lại cảm nhận được sự đau xót thực sự, và 2 dòng châu đã tuôn trào niềm xót xa trong tâm khảm: Chiều thu nhớ nhung vì đâu,Thắm đôi giòng châuTiếc thay tại sao đành lỡ làng Man mác khói hương bay dịu dàngNhư tóc mây vươngDáng liễu mơ màngCung đàn nhỏ lệ Tầm Dươngai đó tri âm biết cùng. Nhạc sĩ Phạm Duy từng có nhận xét về tân nhạc thời kỳ đầu, đại loại, ông nói rằng cả một dòng nhạc tiền chiến được “thoát thai từ Đường thi”. Và nhạc sĩ Dương Thiệu Tước (rồi sau này là Đoàn Chuẩn, Cung Tiến, Nguyễn Văn Đông…) đã thường xuyên đưa những điển cố, điển tích vào trong âm nhạc. Click để nghe Hoàng Oanh hát trước 1975 Với bàiTiếng Xưa,nhạc sĩ Dương Thiệu Tước đã sử dụng nhiều hình ảnh trong bài thơ Tỳ Bà Hành của thi sĩ Bạch Cư Dị, và có thể nói rằng Tầm Dương đã vượt thoát ra khỏi một địa danh cụ thể ở bên Trung Hoa để trở thành Tầm Dương chung của muôn triệu lòng người. Trước đó, những hình ảnh như “bóng trăng”, “khúc nghê thường”, “giòng châu” hay “ai đó tri âm” cùng đều liên quan đến bài thơ “Tỳ Bà Hành” nổi tiếng. Bến Tầm Dương từ thơ của Bạch Cư Di với nét phong sương lãng đãng của tài tử cùng nỗi sầu của người kỹ nữ truân chuyên vì đã quá tuổi và nhan sắc tàn tạ. Trong hơi thu quạnh quẽ vào lúc đêm tàn, người kỹ nữ dáng liễu mơ màng rung lên khúc nghê thường để mong tìm chút đồng cảm tri âm của người khách qua đường. Lần thứ nhất, tiếng tỳ bà mời khách vang lên từ xa “nghe vẳng bên sông” hòa với hơi thu, với tiếng lau lách đìu hiu. Lần thứ hai, tiếng tỳ bà réo rắt với bao thanh âm huyền diệu nhặt khoan, sầu thương giữa tiệc hoa. Lần thứ ba, tiếng tì bà ai oán rung lên cuối tiệc rượu. Tiếng đàn người kỹ nữ, chén rượu tiệc hoa, giọt lệ trên chiếc áo xanh lam của quan Tư Mã trong đêm thu tượng trưng cho những phận người gian truân và chìm nổi ở trên đời. Hơn 1000 năm sau đó, nhạc sĩ Dương Thiệu Tước đứng giữa trời đất và thành quách xưa cũ, nghe gió thu về vọng âm như khúc nghê thường năm xưa, chính là Tiếng Xưa đã làm dâng lên bao nhiêu niềm xúc cảm. Click để nghe Thanh Thúy hát trước 1975 Bài hát này còn được nhạc sĩ Dương Thiệu Tước viết lời 2 như sau: Hoàng hôn gió sương lạnh lùngHoàng hôn bao niềm nhớ nhungThiết tha đàn rung tiếng tơVấn vương trôi theo mây mờ Đâu khúc cô liêu duyên dáng tiêu điềuDư âm chìm theo giòng châutràn lan sóng vương mạch sầu. Đàn ôi thiết tha vì đâutiếng xưa trầm ngâmlắng rung đường tơ bao mơ màng Lưu luyến hương thu thêm dịu dàngAi có hay chăngSay khúc ưu tư,gió sương chiều thu buồn mơAi đó tri âm hững hờ. Bài: Đông KhaBản quyền bài viết của nhacxua.vn Nếu Dương Thiệu Tước là người viết ca khúc khêu gợi nhất từ thời “tiền chiến”, thời phôi thai của... Nhạc sĩ Dương Thiệu Tước sinh năm 1915, là một trong những người đầu tiên đặt nền móng cho tân... Trong gia tài đồ sộ những tác phẩm âm nhạc vượt thời gian của nhạc sĩ Dương Thiệu Tước, công... Nhạc sĩ Dương Thiệu Tước là nhạc sĩ thế hệ đầu của tân nhạc Việt Nam với những ca khúc... Nhạc sĩ Dương Thiệu Tước được ghi nhận là một trong những người đặt nền móng cho nền tân nhạc... Nhạc sĩ Dương Thiệu Tước - tác giả của những ca khúc nổi tiếng của thời kỳ đầu tân nhạc... © 2020NhacXua.VN- Nhạc Xưa Thời Báo.
Trong nhạc vàng, có một ca khúc mang phảng phất triết lý Phật giáo, đó là bài hátVề Với Cát Bụicủa nhạc sĩ Minh Kỳ được sáng tác vào thập niên 1960. Về sau này, nhiều trung tâm băng đĩa ghi nhầm tên bài hát thànhTrở Về Cát Bụi. Click để nghe Elvis Phương hát Về Với Cát Bụi Theo quan điểm Phật giáo, con người từ hạt bụi mà tới, rồi sẽ trở lại thành cát bụi. Một kiếp phù sinh sẽ thoảng qua nhanh, và khi đó thì người giàu sang hay người nghèo khó trên đời này cuối cùng cũng sẽ thành cát bụi vĩnh hằng… Sống trên đời này người giàu sang cũng như người nghèo khó.Trời đã ban cho ta cám ơn Trời dù sống thương đau.Mai kia chēt rồi trở về cát bụi giàu – khó như nhau.Nào ai biết trước số phận ngày sau ông Trời sẽ trao. Nếu thấu hiểu được ý nghĩa đó của cuộc đời, thì sẽ nhận ra rằng dầu là nhà lớn hay lầu vàng son, chức quyền cao sang hay ái tình phù du cũng nào còn ý nghĩa gì nữa, tất cả cũng sẽ tan theo cùng hư vô mà thôi: Này nhà lớn lầu vàng sonNày lợi danh chức quyền cao sang.Có nghĩa gì đâu sao chắc bền lâuhay như nước trôi qua cầu. Này lời hứa, này thủy chung,Này tình yêu chót lưỡi đầu môi cũng thế mà thôiSẽ mất ngày mai như áng mây cuối trời. Nhạc sĩ Minh Kỳ sáng tác ca khúc này khi ông đang cùng với nhạc sĩ Anh Bằng và Lê Dinh (nhóm Lê Minh Bằng) hợp tác với hãng dĩa Sóng Nhạc trong khoảng từ năm 1966 đến 1970. Sự hợp tác này đã mang lại những thành tựu rất to lớn không chỉ đối với nhóm Lê Minh Bằng và còn đối với cả dòng nhạc vàng miền Nam. Tuy nhiên trong quá trình hợp tác làm ăn, không tránh khỏi những hiểu lầm và trách móc giữa nhóm nhạc sĩ và ông chủ hãng Sóng Nhạc. Một trong những lần như vậy, nhạc sĩ Minh Kỳ đã sáng tácVề Với Cát Bụi, như là một lời nhắc nhở ông giám đốc hãng dĩa trong cách đối xử với anh em, bằng hữu và những người cùng làm việc chung. Sống trên đời này tựa phù du có đây rồi lại mất.Cuộc sống mong manh xin nhắc ai đừng đổi trắng thay đen.Nào người sang giàu đừng vì tham tiền bỏ nghĩa anh em.Người ơi nên nhớ cát bụi là ta mai này chóng qua. Người nhớ cho ta là cát bụi trở về cát bụiNgười nhớ cho, xin người nhớ cho… Đoạn cuối là lời gửi gắm, nhắc nhở rất ý nghĩa của tác giả. Sau này, nhạc sĩ Lê Dinh kể lại: “Nhạc sĩ Minh Kỳ hờn giận, không nói ra mà chỉ bày tỏ bằng lời ca, nhưng ông chủ Sóng Nhạc không biết, tưởng đâu rằng nhóm Lê Minh Bằng viết bài “Về Với Cát Bụi” không phải để “nhắn nhủ” mình, mà là một bài ca nghiêng về giáo lý của nhà Phật, cuộc đời là hư không, khi nhắm mắt không đem theo được gì. Và ca khúc này được coi như một “lá thư ngỏ” gửi cho ông N.T.O, lại là một bài hát đem lại cho Minh Kỳ khá nhiều về tài chánh qua số đĩa hát tiêu thụ, với giọng ca thu đĩa lần đầu tiên của Elvis Phương và sau đó, tiếng hát của Thế Sơn làm sống lại ca khúc này ở hải ngoại”. Click để nghe Thế Sơn hát Ca khúcVề Với Cát Bụinày nổi tiếng đến nỗi có rất nhiều phiên bản nhạc chế trong dân chúng dựa theo giai điệu của bài hát để hát một cách vui vẻ mà hầu như ai cũng biết đến, nổi tiếng không kém phiên bản gốc. Thậm chí có người chỉ biết đến phiên bản chế mà không biết lời gốc. Đông KhaBản quyền bài viết của nhacxua.vn Nếu bạn là một người quan tâm đến các hoạt động âm nhạc ở Sài Gòn thập niên 1960, chắc... Những cơn mưa thường gợi nhớ kỷ niệm để cho lòng nhớ nhung những ngày đã xa. Một người đã... Trong làng nhạc Sài Gòn đầu thập niên 1960, nhạc sĩ Hoài Linh nổi tiếng với biệt tài viết lời... Trong tâm thức của nhiều người, nếu có hình ảnh nào mà khi nhắc tới là đều gợi lên một... Gác Nhỏ Đêm Xuân là một sáng tác chung của 2 nhạc sĩ Lê Dinh và Minh Kỳ, là một... Trong cuộc đời và sự nghiệp ngắn ngủi của mình, nhạc sĩ Minh Kỳ đã để lại cho đời hàng... © 2020NhacXua.VN- Nhạc Xưa Thời Báo.
Nhạc sĩ Đức Huy là một trong những tên tuổi tiêu biểu của nhạc trẻ Sài Gòn những năm 1960-1970. Ông là một ca sĩ hát trong các ban nhạc trẻ, đồng thời cũng là nhạc sĩ, tác giả của nhiều bài hát quen thuộc, đa số là sáng tác sau năm 1975 và thường có giai điệu tươi vui với gam trưởng, nổi tiếng nhất làVà Tôi Cũng Yêu Em, Người Tình Trăm Năm, Mùa Xuân Trong Đôi Mắt Em, Yêu Em Dài Lâu, Lời Yêu Thương, Và Con Tim Đã Vui Trở Lại… Đức Huy cũng có sáng tác nhiều bài hát có nội dung buồn, như làKhóc Một Dòng Sông, Mùa Đông Sắp Đến, Tiếng Mưa Đêm, Trái Tim Ngục Tù…nhưng bài có giai điệu buồn nhất của ông với gam thứ có lẽ là bàiĐừng Xa Em Đêm Nay, một ca khúc rất gần với dòng nhạc vàng. Bài hát này được sáng tác vào khoảng năm 1988, thời điểm Đức Huy cùng ban nhạc biểu diễn trên du thuyền đi khắp các nước vùng Caribe. Thời gian này ông gặp một nữ ca sĩ nghiệp dư có nghệ danh Thảo My. Năm 1989, nhạc sĩ Đức Huy cùng ca sĩ Thảo My kết hôn và định cư tại California, trước khi kết hôn không lâu, nhạc sĩ đã sáng tácĐừng Xa Em Đêm Nayđể dành tặng cho vị hôn thê. Lúc đó dù sắp cưới nhưng phải sống xa nhau, một người ở phía Bắc, một người ở tận miền Nam Cali, và nỗi buồn xa cách đã trở thành nguồn cảm hứng để nhạc sĩ Đức Huy sáng tác ca khúc có lời ca thật da diết: Đừng xa em đêm nay khi bóng trăng qua hàng câyđừng xa em đêm nay đêm rất dàivòng tay em cô đơn đêm khuya vắng nghe buồn hơncon tim em khát khao yêu thương Đừng xa em đêm nay hãy nói anh sẽ ở đâyđừng để em một mình nơi chốn nàyhãy ôm em trong tay cho em biết anh cần emvà hãy nói anh vẫn yêu em Giọt nước mắt nàođổ trong bóng tối khi nằm lắng nghe tiếng đêmlắng nghe tiếng đêm nghe nhịp đập con timru em giấc ngủ yên… Bài hát nói thay tâm sự của người con gái đang rất tha thiết với tình yêu, khao khát yêu thương, mong muốn được ở gần bên nhau. Tuy nhiên vì hoàn cảnh xa cách nên cô gái chỉ có thể vòng tay ôm chính mình để nghe đêm khuya vắng càng buồn hơn, dài lê thê trôi qua trong vắng lạnh. Xung quanh nàng chỉ là bóng đêm hoàn toàn tĩnh lặng, và khi người ta có thể“lắng nghe tiếng đêm”,thì có nghĩa đó là một không gian u ám rợn người, một nỗi hiu quạnh đến tận cùng. Muôn đời từ xưa đến nay, người con gái dù mạnh mẽ đến đâu thì cũng sẽ có lúc yếu mềm trong tình yêu, đặc biệt là khi phải trải qua những ngày tháng cô đơn đến như vậy. Nàng không cần những lời hứa hẹn, lời nói yêu thương vô nghĩa, điều duy nhất nàng muốn hiện giờ là sự hiện diện của người yêu ở bên cạnh, giống như chính lời tâm sự của tác giả bài hát như sau: “Đối với tôi, món quà lớn nhất dành cho nhau trong tình yêu là sự có mặt của người yêu, chứ đừng nói yêu em mà anh chỉ cần gửi quà đến, chẳng thấy anh đâu… Sự hiện diện từ tâm hồn đến thể xác là món quà lớn” (Đức Huy) Click để nghe chính Thảo My hát Đừng Xa Em Đêm Nay Đời em vắng lạnhvà anh đã đến như ngọn nến trong bóng đêmnến trong bóng đêm soi vào tim emnhững xao xuyến đã ngủ quên Đừng xa em đêm nay khu phố quen đã ngủ sayđừng xa em đêm nay đêm rất dàihãy yêu em đêm nay cho quên hết đi ngày maiđừng xa em đừng xa em đêm nay Hãy ôm em trong tay cho em biết anh cần emvà hãy nói anh vẫn yêu emhãy yêu em đêm nay cho quên hết đi ngày maiđừng xa em đừng xa em đêm nay… Rồi một ngày người yêu cũng đã đến bên cạnh, đưa nàng thoát xa những tháng ngày tối ám. Người đến như là ngọn nến nhỏ nồng nàn, soi vào tận trong tim nàng để sưởi những hơi ấm nhẹ nhàng, đánh thức nàng và mang đến những cảm xúc yêu thương tưởng như là đã quên lãng sau một thời gian dài chìm đắm trong vực sâu bóng tối. Một người con gái khi yêu, dù có mạnh mẽ như thế nào thì họ vẫn có những nỗi hoang mang lo sợ, và lời nói “anh cần em” hoặc là “anh yêu em” có thể đánh tan đi mọi lo âu của nàng, và khi đó nàng có thể trao đi tất cả những gì nàng có. Nỗi khát khao yêu đương cháy bỏng được thể hiện ở những câu hát được lặp đi lặp lại:“hãy yêu em đêm nay cho quên hết đi ngày mai”. Có chàng trai nào mà không “tan chảy” khi nhận được lời đề nghị đắm đuối và mê say đến nhường ấy từ cô gái mình yêu thương? Bài: Đông KhaBản quyền bài viết của nhacxua.vn Ngày 22/8/2024, khi ở tuổi 61, Trường Vũ - ca sĩ nổi tiếng với các ca khúc "Thân phận nghèo",... Giai điệu Bolero, với xuất xứ từ các thể loại nhạc như Rumba, Habanera, Valse và Tango, đã du nhập... Việc tặng bông trong các buổi đờn ca tài tử đã trở nên phổ biến trong những thập kỷ gần... Trong bài hát "Chiều Trên Phá Tam Giang" của nhạc sĩ Trần Thiện Thanh có câu: "Giờ này Thương Xá... Trong những thập niên 1950, 1960 và 1970, hình ảnh những chiếc taxi hai màu xanh - trắng (hoặc vàng... Những ai từng học ở trường Đại học Văn Khoa xưa, nay là trường Đại học Khoa học Xã hội... © 2020NhacXua.VN- Nhạc Xưa Thời Báo.
Nhạc phẩm lời Việt viết từ nguyên tác ca khúc Nhật Bản trữ tình nổi tiếng. Phạm Duy viết lời Việt đầy tính văn học cảm thương cho số phận mong manh, thanh khiết của người con gái đẹp. Giai điệu bay bổng pha chút u uất chậm rãi tôn vinh vẻ đẹp rực rỡ nhưng ngắn ngủi của đóa hoa dưới giông bão cuộc đời, gợi nhắc con người biết nâng niu trân quý cái đẹp quanh mình.
Đôi nghệ sĩ, đôi tình nhân, đôi vợ chồng Lê Uyên & Phương là một trường hợp rất đặc biệt và là có thể xem duy nhất của nền tân nhạc Việt Nam. Nhắc đến âm nhạc của họ, nếu chỉ nhắc đến riêng một người, thì sẽ như thể là cắt đôi cái tên Lê Uyên Phương ra để nói, mà một nửa sự thật mãi mãi không bao giờ là sự thật, một nửa Lê Uyên hoặc Phương có lẽ sẽ chẳng thể làm nên một Lê Uyên & Phương huyền thoại. Trong hầu hết các sáng tác nổi tiếng nhất của mình, nhạc sĩ Lê Uyên Phương chỉ viết riêng cho cuộc tình của Lê Uyên & Phương, với những trăn trở, suy tư, và đam mê của chính họ. Câu chuyện xung quanh cái tên Lê Uyên Phương (Lê Uyên – Phương, Lê Uyên & Phương) Dù có tên thật là Lê Minh Lập, nhưng nhạc sĩ Lê Uyên Phương thực chất không phải người họ Lê. Thân sinh của Lê Minh Lập là người họ Phan, quê gốc ở Quảng Nam nhưng đã bỏ nhà đi từ năm 9 tuổi và bị thất lạc mất cha mẹ. Trên đường lưu lạc, do lo sợ bị ảnh hưởng bởi của cuộc cách mạng của cụ Phan Bội Châu nên nhiều người họ Phan đã đổi họ. Cha Lê Uyên Phương tự đổi sang họ Lê mà không hề biết rằng gia đình ở quê đã đổi thành họ Dương sau đó. Sau thời gian phiêu bạt khắp nơi, cha Lê Uyên Phương cưới vợ ở Nha Trang, rồi chuyển về Đà Lạt sinh sống và sinh ra Lê Uyên Phương tại Đà Lạt vào ngày 2 tháng 2 năm 1941. Khác với quá khứ phiêu bạt của cha, mẹ của Lê Uyên Phương xuất thân từ dòng dõi vua chúa. Bà tên thật là Công Tôn Nữ Phương Nghi, tức công chúa Phương Nghi, con gái thứ chín của vua Thành Thái. Và dù tên thật là Lập, nhiều người vẫn gọi Lê Uyên Phương bằng cái tên Lộc, bởi Lê Văn Lộc chính là cái tên trên giấy tờ mà sau nhiều lần sửa đổi, làm lại giấy tờ đã bị cán bộ hộ tịch viết sai. Nghệ danh Lê Uyên Phương được chàng nhạc sĩ Lê Minh Lập sử dụng từ trước khi quen biết nàng tiểu thư Lâm Phúc Anh (tức ca sĩ Lê Uyên sau này), trong đó Lê là họ, Phương là chữ trong tên mẹ, còn Uyên là tên người bạn gái đầu tiên. Sau này, khi cả hai đi biểu diễn cùng nhau thì lấy luôn cái tên Lê Uyên Phương (hoặc có nơi ghi là Lê Uyên – Phương, Lê Uyên & Phương, Lê Uyên và Phương) để làm nghệ danh chung. Nguyên nhân là do một lần nọ, sau khi biểu diễn xong, cặp đôi nghệ sĩ vừa xuống sân khấu thì được một nhóm phóng viên tới phỏng vấn. Khi được hỏi, ai là Lê Uyên Phương, do lúc này Lê Uyên mới đi hát, chưa có nghệ danh nhưng không muốn dùng tên thật nên chàng nhạc sĩ đã khéo léo trả lời thay rằng:“Đây là Lê Uyên. Còn tôi là Phương”. Vì vậy, Lê Uyên Phương vừa là nghệ danh chung của cặp đôi, cũng vừa là bút danh riêng của nhạc sĩ được ông ký dưới các ca khúc của mình. Tuy nhiên, có một sự quy ước, và để tránh bị nhầm lẫn, trong những bài viết đăng trên nhacxua.vn, khi viết là Lê Uyên Phương, thì đó là nhạc sĩ Lê Uyên Phương (một người), còn khi muốn nhắc đến nghệ danh chung của 2 người, xin được viết là Lê Uyên & Phương, như cách ghi của chính họ trong một số văn bản xưa. Chuyện tình đẹp như phim Ngược lại hoàn toàn với chàng nhạc sĩ, cũng là “ông giáo” Lê Uyên Phương dù dòng dõi vua nhưng nghèo khó, thì tiểu thư Lâm Phúc Anh (ca sĩ Lê Uyên) là con gái trong một gia đình thương nhân gốc Hoa giàu có. Cha Lê Uyên là người gốc Hải Nam, mẹ là người gốc Triều Châu. Mẹ của cô là vợ thứ năm trong số 9 người vợ của cha cô. Lê Uyên sinh ngày 17 tháng 7 năm 1952 tại Hà Nội, đến năm 1954 thì theo cha mẹ vào Sài Gòn sinh sống. Gia đình cô ở trong một căn nhà khá bề thế tại khu Chợ Lớn, đồng thời cũng là văn phòng công ty vận vải của gia đình, chuyên chạy tuyến Sài Gòn đi các tỉnh miền Trung. Cuộc tình định mệnh của họ bắt đầu vào năm 1967. Năm đó, Lâm Phúc Anh chừng 15 tuổi được cha mẹ gửi lên Đà Lạt để theo học tại trường Virgo Maria, ngôi trường Tây chỉ dành cho con nhà giàu có, quý tộc. Tình cờ ngôi nhà số 18 đường Võ Tánh (này là đường Bùi Thị Xuân – Đà Lạ) mà Lâm Phúc Anh ở lại nằm ngay gần nhà của Lê Uyên Phương, chỉ cách có một căn. Sau này, ca sĩ Lê Uyên kể lại: “Tôi ở căn nhà số 18 còn anh Phương ở số nhà 22. Tôi lúc đó có vô số người theo, ngày đó anh Phương cũng có vô số người con gái theo, toàn là mỹ nhân đẹp nhất Đà Lạt. Phần anh, anh không chọn ai bởi vì anh hiểu rõ mình đang mang tật bệnh, lại không có tiền, lỡ chăng mất sớm thì anh không muốn ai phải khổ vì mình”. Tuy nhiên, trời xui đất khiến, cô gái mới lớn Lâm Phúc Anh lại trúng tiếng sét ái tình với chàng công tử nhà nghèo ngay lần đầu nhìn thấy nhau: “Một hôm tôi nhớ mình mặc chiếc áo dài để ra đường, tôi cảm thấy sợ sợ khi có một anh chàng dõi theo mình đi. Chợt anh chàng đó đứng dậy và nhẹ nhàng nói “Chào cô!”, lúc đó tim tôi muốn ngừng đập. Tiếng sét ái tình bỗng vang lên khi tôi nhìn vào mắt anh, cảm giác quen thuộc như mình đã từng biết nhau lâu lắm. Đúng là định mệnh, dù từ trước đến nay chúng tôi chưa bao giờ xao xuyến trước một người nào, nhưng khi nhìn thấy nhau, chúng tôi yêu nhau ngay từ lần đầu gặp mặt. Tôi như ᴄhết lặng trước mọi thứ diễn ra xung quanh mình, miệng tôi không thể thốt lên dù chỉ một từ mà lặng lẽ bước đi”. Sau lần gặp gỡ “ngang qua” đó, Lê Uyên được bạn mời đi xem ca nhạc tại Hội quán Thanh Niên. Tại buổi diễn, Lê Uyên ngỡ ngàng khi thấy anh chàng hàng xóm đang kéo violon trên sân khấu rất thuần thục và xuất sắc. Chính lần gặp thứ hai này đã đánh gục trái tim cô tiểu thư. Không chỉ Lê Uyên mà cả chàng thanh niên 26 tuổi Lê Uyên Phương cũng nhanh chóng bị rung động bởi cô thiếu nữ xinh đẹp, cũng là người hàng xóm mới. Tuy nhiên, hai người yêu nhau chưa bao lâu thì bố mẹ Lê Uyên biết chuyện và ra sức ngăn cấm. Đứng ở vị trí người làm cha làm mẹ, cha mẹ Lê Uyên cảm thấy không thể chấp nhận được việc cô con gái mới chỉ chưa tròn 16 tuổi còn ngây thơ, trong trắng, lại bị “quyến rũ” bởi một thầy giáo nghèo, tay trắng và lớn hơn cô đến 11 tuổi. Sau nhiều ngăn cản, cấm đoán mà không chia cắt được đôi tình nhân, cha mẹ Lê Uyên quyết định đưa con gái về Sài Gòn giam lỏng. Tuy nhiên, tình yêu của cặp đôi đã quá nồng đậm không dễ gì buông bỏ. Cứ mỗi cuối tuần, Lê Uyên Phương lại bắt xe đò về Sài Gòn để thăm người yêu. Trong thời gian đó, nhạc sĩ Lê Uyên Phương đã sáng tácDạ Khúc Cho Tình Nhânđể bày tỏ nỗi lòng mình. Click để nghe Lê Uyên & Phương hát Dạ Khúc Cho Tình Nhân trước 1975 Mặc cho cha mẹ ngăn cấm, Lê Uyên bất chấp mọi thứ để bảo vệ tình yêu của mình, không chỉ lén lút gặp gỡ, cô còn ép cha mẹ đồng ý bằng nhiều cách, như là uống thuốc nɡủ khiến gia đình phải đưa đi ᴄấp ᴄứᴜ, bỏ nhà đi theo Lê Uyên Phương lên Bảo Lộc sống cùng nhau cả tuần. Lê Uyên đã làm những việc có thể xem là quyết liệt nhất, kinh khủng nhất, và cũng dại dột nhất, nhưng mẹ cô vẫn một mực ngăn cấm. Trước tình hình đó, Lê Uyên đành chọn cách xuống nước năn nỉ cha nhờ ông thuyết phục mẹ. Cuối cùng, cha mẹ Lê Uyên đành chấp nhận tác thành cho cuộc hôn nhân của họ. Lê Uyên kể:“Tôi sung sướng thông báo với anh về Sài Gòn làm lễ cưới ngay. Anh đi mượn tiền, đủ để sắm hai cái nhẫn cưới nhỏ, tức tốc về Sài Gòn. Cưới xong, chúng tôi quay lại Đà Lạt”. Đó là ngày 2/11/1968, họ về chung nhà và đồng thời bắt đầu hành trình chung đôi trên sân khấu âm nhạc, bắt đầu từ Đà Lạt sương mù. Âm nhạc Lê Uyên Phương Có thể khẳng định, âm nhạc Lê Uyên Phương khác biệt với tất cả các thể loại nhạc khác của âm nhạc Việt Nam trước đó, ngay tại thời điểm nó ra đời, và cho đến tận sau này cũng hiếm có thứ nhạc nào mang nhiều chất men say nồng nàn và khắc khoải mãnh liệt đến như vậy. Nhạc sĩ Phạm Duy từng nói rằng Lê Uyên Phương chắc hẳn là một tín đồ của chủ nghĩa hiện sinh, nên dù sáng tác những ca khúc đậm chất cá nhân, riêng tư, vừa mê đắm, cuồng say, vừa “chất ngất” âu lo, sầu muộn, nhưng cũng là tiếng kêu than của cả một thế hệ trước thời cuộc. Nhạc sĩ Lê Uyên Phương có sáng tác đầu tay vào năm 1960 khi mới 19 tuổi tại Pleiku là bàiBuồn Đến Bao Giờ.Tuy nhiên, cho đến gần 10 năm sau, tức cuối thập niên 1960, cái Lê Uyên Phương vẫn là một tên tuổi hầu như vô danh trong làng nhạc Việt dù khi đó Lê Uyên Phương đã có rất nhiều ca khúc viết cho Lê Uyên & Phương mà sau đó đều trở thành bất hủ, tiêu biểu làDạ Khúc Cho Tình Nhân, Lời Gọi Chân Mây, Vũng Lầy Của Chúng Ta, Tình Khúc Cho Em, Cho Lần Cuối, Hãy Ngồi Xuống Đây, Uống Nước Bên Bờ Suối… Đầu năm 1970, nhà thơ Đỗ Quý Toàn, vị huynh trưởng trong phong trào hướng đạo sinh tại Việt Nam, trong một lần từ Sài Gòn lên Đà Lạt tham gia hội họp với các nhóm hướng đạo sinh Đà Lạt đã tình cờ được người quen của nhạc sĩ Lê Uyên Phương cho nghe một băng nhạc tự thu của ông tại nhà. Bất ngờ với thứ âm nhạc đặc biệt của Lê Uyên Phương, Đỗ Quý Toàn ngỏ ý muốn gặp mặt và tìm cách giúp đỡ Lê Uyên & Phương. Trong kỳ nghỉ Tết Nguyên Đán ngay sau đó, cặp đôi Lê Uyên & Phương đã xuống Sài Gòn và được nhà thơ Đỗ Quý Toàn giới thiệu đến gặp nhà báo Đỗ Ngọc Yến, một người hoạt động tích cực trong các phong trào văn hoá văn nghệ của sinh viên. Ông Đỗ Ngọc Yến sau đó đã sắp xếp cho cặp đôi Lê Uyên & Phương biểu diễn trong chương trình văn nghệ sinh viên được tổ chức tại Trường Quốc Gia Âm nhạc và Kịch nghệ. Cũng chính từ lần biểu diễn này, sau cuộc gặp gỡ với phóng viên báo chí, hai cái tên Lê Uyên & Phương chính thức ra mắt làng nhạc Sài Gòn. Trong vòng 19 ngày có mặt tại Sài Gòn, Lê Uyên & Phương liên tục được mời biểu diễn cho sinh viên các trường Văn Khoa, Sư Phạm, Y Khoa, Luật Khoa, biểu diễn cho Đài truyền hình và cả quán cafe Nai Vàng của nhạc sĩ Cung Tiến. Thành công đột ngột và vang dội của cặp đôi nghệ sĩ có lẽ là điều cả hai chưa từng tưởng tượng đến trước đó. Âm nhạc Lê Uyên Phương giống như một mồi lửa bén, khác lạ và mới mẻ, đốt cháy các sân khấu âm nhạc Sài Gòn, thu hút gần như mọi sự chú ý của công chúng yêu nhạc và cả giới văn nghệ sĩ. Nhạc sĩ Phạm Duy trong hồi ký của mình đã viết về âm nhạc Lê Uyên Phương như sau: “Thời ấy, giữa không khí ngột ngạt của chiến tranh, Trịnh Công Sơn tìm đến những ca khúc phản chiến, còn Lê Uyên Phương thốt lên tiếng nói tuyệt vọng của một thế hệ thanh xuân trong trẻo, muốn được sống để yêu đương trong thanh bình thì lại bế tắc trước thực tại. Họ vùi sâu vào tình yêu mà tìm quên. Họ công khai mong manh, công khai tàn lụi, Lê Uyên Phương chắc đã là một tín đồ của chủ nghĩa hiện sinh nên đã thốt lên tiếng kêu than của thế hệ thanh niên ấy bằng một thứ âm nhạc trẻ trung có nhuốm mùi nhục cảm. Những giai điệu ấy đã được Phương và vợ là ca sĩ Lê Uyên – một giọng nữ cũng đầy nhục cảm hát giữa thanh niên, sinh viên Sài Gòn. Và họ được đón nhận nồng nhiệt.” Và chính nhạc sĩ Phạm Duy cũng không ngần ngại thừa nhận, ông ít nhiều bị thu hút và ảnh hưởng bởi thứ âm nhạc đặc biệt đầy dục tính của Lê Uyên Phương khi viết ca khúcCỏ Hồng: “Vào năm 1970, sau khi tôi đã soạn xong những bài như Trả Lại Em Yêu, Con Đường Tình Ta Đi… vốn là những bài ca tình cảm mô tả cuộc tình của những lứa đôi đang sống một cuộc đời bấp bênh vì không tránh khỏi cảnh xa nhau bởi thời thế. Một nhạc sĩ khác, Lê Uyên Phương, tung ra một loạt ca khúc mang chất dục tính, ví dụ như bài Vũng Lầy Của Chúng Ta. Tôi bắt chước anh, soạn một bài có tính chất xưng tụng nhục thể”. Sau thành công ở các sân khấu sinh viên, Lê Uyên & Phương liên tiếp nhận được lời mời biểu diễn và ký kết hợp đồng với 5 phòng trà khác nhau ở Sài Gòn, với mức thù lao cao chất ngất trong vòng 4 năm. Một đêm diễn phòng trà (hát 3 bài) như vậy cặp đôi được trả thù lao là 5000 đồng, bằng lương giáo viên 1 tháng của Lê Uyên Phương. Năm 1970, nhạc sĩ Lê Uyên Phương phát hành 2 tập nhạc là Khi Loài Thú Xa Nhau và Yêu Nhau Khi Còn Thơ với lời giới thiệu của nhạc sĩ Cung Tiến như sau: “Chỉ một lần nghe, ta cũng có thể cảm thấy ngay đó là những khúc ca được sáng tác với cảm hứng âm nhạc đích thực, nhưng đó là một cảm giác không làm dáng và cũng không làm ra quá đáng, mà độ lượng, như là cố ý cầm lại vừa với tầm ngậm ngùi, ngao ngán của kiếp sống… Tiếng nói mới đó, những “chansons de sanglot” đó, không biểu tỏ gì khác hơn là hạnh phúc ái tình giống như một hòn đảo mịt mù sương trong cơn giông thời đại. Bởi vậy mà ta nghe thấy nhiều đau đớn, nhiều nức nở đến thế. Chẳng phải là niềm đau mê man, mà là niềm đau sáng suốt: mắt mở thật lớn, ta nhìn nó đi thẳng vào tim ta đau nhói. Đó là tại sao những melodies đau đớn của PHƯƠNG – nơi ta có lẽ đã bắt lại được một machochisme huy hoàng – luôn luôn ở mode majeur. Cái “buồn majeur” là cái buồn sâu thẳm nhất trong âm nhạc có chủ âm. Và đó chính là “thú đau thương” đơn và thuần vậy…” Tình yêu chuyển thành tình thân Năm 1979, cặp đôi Lê Uyên & Phương di cư đến Mỹ. Sau khi ổn định cuộc sống, họ tiếp tục cống hiến trên sân khấu âm nhạc hải ngoại. Nhạc sĩ Lê Uyên Phương cũng sáng tác thêm nhiều ca khúc khác. Giữa thập niên 1980, từ những lần trả lời phỏng vấn và cả tâm sự trên sân khấu âm nhạc của nhạc sĩ Lê Uyên Phương sau đó, khán giả đều hiểu rằng cuộc hôn nhân của họ đã tan vỡ sau hơn 15 năm chung sống, có 2 người con gái tên là Lê Uyên Uyên và Lê Uyên My. Click để xem liveshow Lê Uyên Phương năm 1990 và lời tâm sự của Lê Uyên Phương Trong một đêm diễn ở phòng trà Phương Đông năm 1990, chính nhạc sĩ Lê Uyên Phương đã trực tiếp xác nhận rằng hôn nhân của Lê Uyên & Phương đã tan vỡ như sau: “Kính thưa quý vị. Không biết cái điều sau đây là 1 sự tình cờ, là định mệnh, hay là sự thấu thị trong nghệ thuật, mà những điều chúng tôi viết cách đây 20 năm trong những bài tình ca, 20 năm sau những sự kiện đó xảy ra y như thật. Tất cả những ca khúc viết cách đây 20 năm trong thời kỳ tràn trề hạnh phúc thì chỉ nói lên những điều chia cách và báo hiệu những điều không tốt đẹp trong đời sống tình cảm của chúng tôi. Thì tới lúc này những điều đó đã xảy ra”. Tuy nhiên trong một lần trả lời phỏng vấn báo chí trong nước thời gian gần đây, ca sĩ Lê Uyên khẳng định tình cảm của họ chưa bao giờ tan vỡ, luôn một lòng một dạ yêu thương nhau cho tới giờ phút cuối cùng. Nguyên văn đoạn trả lời của ca sĩ Lê Uyên như sau: “Cho đến ngày anh qua đời, tôi và anh vẫn một lòng một dạ yêu thương nhau, chưa từng mang cho nhau một thương tổn gì, chưa từng để cho một người thứ 3 chen vào. Sang Mỹ, anh sống những ngày rất rỗng, rất sốc và nhớ Đà Lạt. Anh gần như mất hết cảm hứng sáng tác. Thương anh, tôi mở một quán nhạc để chúng tôi đàn hát lại, thỏa đam mê mỗi tối. Và rồi một hôm, khi chuẩn bị dọn dẹp quán sau buổi diễn, có một băng giang hồ gây lộn và bắп nhau ngay trong quán tôi. Đứa con nhỏ của tôi đang đứng ngay ở cửa. Tôi biết rằng, đạп có thể bay vào người con tôi bất cứ lúc nào. Thế là tôi, bằng bản năng của một người mẹ, xông ra đưa con vào trong. Một viêп đạп đã trúng vào tôi, thủпɡ ruột. Tôi được cứu sống. Nhưng phải mổ lấy viên đạп và phải điều trị rất lâu. Tôi phải nghỉ hát trong nhiều năm liền. Những khi đó, anh vẫn ở bên cạnh chăm sóc, lo lắng, yêu thương như bao năm anh đã yêu. Có lẽ vì lý do vắng bóng đó, mà những tin đồn tan vỡ mọc lên. Hôn nhân chúng tôi chưa bao giờ tan vỡ.” Tuy nhiên, dựa trên những lời đồn đoán và cả những tâm sự của nhạc sĩ Lê Uyên Phương thì có thể hiểu rằng, mối quan hệ của cặp đôi Lê Uyên & Phương từ tình yêu đã chuyển thành tình bạn, tình thân. Thứ tình thân quý giá và hiếm hoi giữa những người từng yêu nhau, như lời chia sẻ của nhạc sĩ Lê Uyên Phương trong bài trả lời phỏng vấn của Trường Kỳ thực hiện vào năm 1998 tại nhà riêng của Lê Uyên Phương, trước khi ông qua đời chỉ 1 năm. Khi được hỏi về tình cảm của hai người sau khi đổ vỡ hôn nhân, nhạc sĩ Lê Uyên Phương khẳng định: “Không có ai thân với bà như tôi với bà ấy hết. Bà ấy cũng không coi ai thân trong đời bà ấy như đối với tôi. Không có chuyện gì mà bà Uyên không hỏi tôi hết. Nhưng hai đứa tôi hoàn toàn trong sạch một cách kinh khủng. Như một người bạn, hoàn toàn bạn một trăm phần trăm. Nhưng mà chia sẻ là chia sẻ perfect, trừ một vấn đề là thể xác không chia sẻ. Còn mọi thứ tôi đều sẵn sàng chia sẻ với bà ấy hết”. Niệm Quân (nhacxua.vn) biên soạn Câu chuyện tình của Lê Uyên & Phương đã trở thành một huyền thoại của làng nghệ thuật Việt Nam,... Trong làng nhạc miền Nam trước năm 1975, dòng nhạc Lê Uyên Phương có một chỗ đứng độc tôn, khác... Uống Nước Bên Bờ Suối là một trong số 12 ca khúc trong tập nhạc "Tình Khúc Lê Uyên Phương... Chuyện tình Lê Uyên & Phương đã trở thành huyền thoại trong âm nhạc Việt Nam, được khởi đầu vào... Những ca khúc nhạc Lê Uyên Phương rất khác biệt với hầu hết các ca khúc khác của nhạc trữ... "Dạ Khúc Cho Tình Nhân" là một trong những bài hát nổi tiếng nhất của nhạc sĩ Lê Uyên Phương.... © 2020NhacXua.VN- Nhạc Xưa Thời Báo.
Tổng quan “Diễm xưa” là tình khúc tiền chiến diễm lệ và nổi tiếng nhất của Trịnh Công Sơn, sáng tác năm 1960 tại cố đô Huế. Tác phẩm lấy cảm hứng từ...
Tác phẩm mới được tổng hợp và đưa vào hệ thống.
Tác phẩm mới được cập nhật vào kho lưu trữ kỹ thuật số.
Tháng 5 năm 2014: Hiện tượng "Chắc ai đó sẽ về" làm khuynh đảo các bảng xếp hạng V-Pop, đồng thời mở ra cuộc tranh luận lớn nhất về vấn đề bản quyền trong lịch sử âm nhạc Việt Nam.
Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại gia tài âm nhạc đồ sộ với hơn 600 ca khúc, trong đó phần lớn là các bản tình ca buồn.
Khám phá mạng lưới kết nối giữa các nhạc sĩ và ca sĩ định hình âm nhạc đại chúng Việt Nam những năm 1990-2000.
Khám phá bản đồNhững câu chuyện thâm cung bí sử, hoàn cảnh sáng tác phía sau những bài hát bất hủ.
Sự giao thoa tuyệt đẹp giữa thi ca và âm nhạc. Những bài thơ được chắp cánh bởi giai điệu.
Một góc nhìn sâu sắc về các trào lưu âm nhạc đa dạng đã nảy nở tại Sài Gòn.