Những mảnh ghép tri thức âm nhạc

Khám phá kho lưu trữ kỹ thuật số, nơi kết nối các thế hệ nghệ sĩ, câu chuyện đằng sau những bản nhạc bất hủ và mạng lưới tri thức âm nhạc sâu rộng.

Ngẫu nhiên

Những Mảnh Ghép & Giai Thoại

Xem tất cả
Thông tin Bài hát

Anh đứng đây là đâu

Tổng quan Tên bài hát: Anh đứng đây là đâu Người sáng tác nhạc: Đang cập nhật Người viết lời: Đang cập nhật Năm phát hành: Đang cập nhật Nội dung n...

Thông tin Bài hát

Bao Giờ

Tổng quan Bài hát "Bao Giờ" do nhạc sĩ Đỗ Bảo sáng tác phần nhạc. Phần lời và năm sáng tác: Đang cập nhật. Nội dung nghệ thuật "Bao Giờ" mang đặc t...

Thông tin Bài hát

Anh vẫn buồn như xưa

Tổng quan Bài hát "Anh vẫn buồn như xưa" được sáng tác và viết lời bởi nhạc sĩ Tăng Nhật Tuệ. Năm sáng tác: Đang cập nhật. Tăng Nhật Tuệ là một nhạc ...

Tiểu sử Nghệ sĩ

Phương Vy

update_topic(strategic_intent='Creating an encyclopedia entry for Phương Vy based on the provided data, following specified formatting and content rul...

Giai Thoại Cuốn Hút

Xem tất cả

Hạ buồn

Ra đời từ một buổi chiều hè tà dương nhạc sĩ đứng bên cổng trường cũ hoang vắng rợp tiếng ve kêu se sắt lòng người. Cánh cổng khép hờ cùng bóng đa già đứng lặng yên gợi nhắc về bóng hình ông giáo già và tà áo tím ngày xưa xưa đã thúc giục ông viết nên bản hạ buồn mang nỗi nhớ thương ngàn sau.

Sang ngang

Ngay từ năm 1973, nhạc sĩ Phạm Duy đã có những nhận xét rất xác đáng về âm nhạc của nhạc sĩ Đỗ Lễ: Ai từng yêu nhạc mà không âm thầm nghĩ đến Đỗ Lễ, cái lặng lẽ âm thầm ấy là sự đau thương trong tình khúc reo hờn trầm buồn đi thẳng vào cuộc đời. Từ muôn trùng, mỗi lần nghe tiếng nhạc trỗi vang là mỗi lần cảm thấy lòng bùi ngùi se sắt lại, tình bâng khuâng với giòng nước, hồn lơ lửng theo mây gió. Trong những phút tuyệt vời ấy, người ta lại thầm nghĩ tới người nghệ sĩ đã soạn thành những tình khúc dang dở của tình yêu, hình dung đến cái đẹp hào hoa tao nhã của con người nhiều lãng mạn và mộng mơ, để lòng thổn thức với thế nhân. Những hình ảnh đẹp rực rỡ huy hoàng của chàng nhạc sĩ Đỗ Lễ là người mang đầy những thơ mộng dày đặc những đau thương và sầu khổ đã phủ kín đời anh. Đỗ Lễ ra đời năm 1941 tại Hà nội, Trời đã phú cho Đỗ Lễ từ thuở nhỏ, năm 14 tuổi đã sáng tác, đến năm 18 tuổi nổi tiếng nhạc phẩm đầu tiên Tan Vỡ & Sang Ngang, tiếng nhạc trở nên réo rắt và tâm hồn trở nên tha thiết trong mối tình đầu dang dở ấy. Những tiếng nhạc buồn như mời mọc, van xin và sự sầu khổ man mác tạo thành những ca khúc tuyệt vời là tiếng lòng thổn thức của Đỗ Lễ. Tôi yêu nét nhạc đậm đà của Đỗ Lễ và Đỗ Lễ tiếp tục hát, nghe em!” Trong đó, nhiều ý kiến cho rằng, nhạc phẩm Sang Ngang của nhạc sĩ Đỗ Lễ có thể được coi là “đệ nhất thất tình” trong số những ca khúc thất tình trước năm 1975. Đây là một nhạc phẩm được hoài thai từ chính mối bi tình đẫm lệ của nhạc sĩ Đỗ Lễ dành cho nữ ca sĩ nổi tiếng Lệ Thanh. Click để nghe đọc về hoàn cảnh sáng tác ca khúc Sang Ngang Những năm cuối thập niên 1950 – đầu thập niên 1960, khi Lệ Thanh đã là một ngôi sao sáng trên bầu trời âm nhạc thì Đỗ Lễ vẫn còn là một tên tuổi mờ nhạt, ngày ngày “trồng cây si” theo người đẹp khắp các phòng trà ca nhạc Sài Gòn. Nhưng nữ ca sĩ nổi tiếng là ngoan hiền, kín đáo, thường tránh né các đám đông, và cũng né tránh mối tình si của Đỗ Lễ. Nàng đột ngột bỏ dở sự nghiệp ca hát khi đang ở trên đỉnh cao danh vọng để cất bước “sang ngang” theo chồng, để lại rất nhiều sự nuối tiếc cho khán giả mến mộ, và người bị đau buồn, hụt hẫng lớn nhất chính là Đỗ Lễ. Rất nhiều lần, ngồi ngắm nhìn Lệ Thanh biểu diễn trên sân khấu, chỉ cần thấy Lệ Thanh mỉm cười là trái tim Đỗ Lễ đã thắt lại. Chàng trai trẻ tưởng như người đẹp đang cười riêng với mình, hát riêng cho mình nghe. Tâm trạng não nề, Đỗ Lễ tìm tới men say rượu đắng, mơ tưởng ra một cuộc tình bi luỵ không thành của mình và Lệ Thanh, rồi viết thành ca khúc Sang Ngang với những lời ca chia ly sầu muộn: Thôi nín đi emLệ đẫm vai rồiBuồn thương nhớ ơi! Em hỡi đôi mìnhMộng này đã tanTình đã dở dang Click để nghe Thái Thanh hát Sang Ngang trước 1975 Bức tranh chia ly thê thiết của đôi tình nhân được vẽ lên bằng những lời ca dịu dàng mà chua xót. Trong bức tranh mờ mịt, mơ hồ ấy chỉ có hai người tình ngồi cạnh nhau, xen giữa tiếng khóc nức nở của cô gái là những lời vỗ về đứt quãng, nghẹn đắng của chàng trai: Em khóc những chiềuAnh xót xa nhiềuThương cho tình yêu Nỗi buồn chua cayKhi lòng đổi thayThôi hết sum vầy Nước mắt của cô gái thì tuôn trào trên khoé mắt, ướt đẫm vai chàng trai, còn nước mắt của chàng trai thì chảy ngược vào trong “chua cay” và “xót xa”. Từng câu hát thả rơi chầm chậm hàm chứa những ẩn ức sâu kín của một cuộc tình đã “đổi thay”. Người yêu đã đổi thay, đã quyết dứt áo đi lấy chồng nhưng chàng trai chẳng thể oán trách, chẳng thể giận hờn chỉ có thể câm lặng vỗ về cô gái đang chìm trong suối lệ, chua xót cho cuộc tình đã rơi vào ngõ cụt. Những giọt nước mắt chảy ra của cô gái có thể làm vơi phai đi nỗi sầu muộn của chính cô, phần lại cứu chuộc tội lỗi nhưng những giọt nước mắt chảy ngược vào trong của chàng trai thì chỉ khiến cõi lòng thêm tái tê, đau đớn, khiến cho sự phẫn uất, oán hờn càng thêm dữ dội: Nếu biết rằng tình là giây oanNếu biết rằng hợp rồi sẽ tanNếu biết rằng yêu là đau khổThà dương gian đừng có chúng mình Chàng trai vùng vẫy, mong đào thoát khỏi kiếp sống nhân sinh:“thà dương gian đừng có chúng mình”,nhưng nào có dễ dàng gì buông bỏ một kiếp người. Vậy nên càng vùng vẫy lại càng đau khổ, càng muốn buông sầu lại càng sầu như trong hai câu thơ nổi tiếng của nhà thơ Lý Bạch khi xưa: Rút dao chém xuống nước, nước càng chảy mạnhNâng chén tiêu sầu, càng sầu thêm Nhưng dù có khổ đau, phẫn nộ, chàng trai vẫn nhớ rằng, có một cô gái đang khóc lả trên vai chàng. Lau mắt đi emGần hết đêm rồiBuồn thêm nữa sao? Mai bước sang ngangLòng thêm nát tanTình đã dở dang Trong đêm đen mờ mịt như hiện thực phũ phàng của cuộc tình hoa mộng, chàng trai nén lòng, dìu đỡ cô gái dậy, lau nước mắt cho cô, vỗ về cô bằng những lời ca dịu dàng mà kiên quyết, băng lạnh. Bởi tình yêu nồng nhiệt, ấm áp trong chàng giờ đây đã chỉ còn lại những chua chát, đớn đau: Thôi khóc làm gì?Đã lỡ duyên thềThương nhau làm chi? Nỗi buồn ai hay?Khi mình chia tayXa cách nhau rồi Hàng loạt câu hỏi thả xuống:Buồn thêm nữa sao? Thôi khóc làm gì? Thương nhau làm chi? Nỗi buồn ai hay?nghẹn đắng những dằn dỗi. Chàng quyết định buông tay, quyết định quay lưng bước đi bởi chẳng còn hy vọng gì nữa, bởi“lòng đổi thay”rồi, bởi người ấy“mai bước sang ngang”, còn gì nữa đâu để mà níu giữ? Click để nghe Lệ Thu hát Sang Ngang trước 1975 Hẳn là nhạc sĩ Đỗ Lễ cũng đã tự nhủ lòng mình hãy “buông bỏ” khi người đẹp Lệ Thanh đột ngột “sang ngang” lên xe hoa, nhưng con tim nào có chịu ngủ im theo sự sắp đặt của lý trí, vẫn thổn thức không thôi những nhịp đập trái ngang. Vậy nên, ông lại viết thêm lời 2 để hát tiếp về cơn mộng tình bi luỵ: Năm tháng trôi qua!Nay bỗng nhớ lạiChuyện tình đắng cay Anh nuốt thương đauNhìn tình dở dangLòng thêm khóc than Ôi xót xa nhiềuLệ bỗng tuôn tràoThương cho tình côi Trách thầm người yêuNỡ phụ tình tôiKhông nói nên lời Ở phần lời 2 này, đã chẳng còn nước mắt, chẳng còn bóng dáng của cô gái năm xưa. Chỉ có tiếng khóc và những giọt lệ tuôn trào của chàng trai sau bao nhiêu năm tháng ôm mối tình xưa ngậm ngùi, cay đắng giấu chặt trong lòng. Khi chia tay nhau, chàng trai câm lặng bước đi chẳng buông một lời trách móc với cô gái “thay lòng” thì bây giờ chàng đã biết“trách thầm người yêu nỡ phụ tình tôi”.Dù là lời trách móc chỉ lặng lẽ âm thầm“không nói nên lời”nhưng chàng trai dường như đã bắt đầu thả lỏng với cõi lòng mình, không còn nín nhịn mà bộc bạch, bày tỏ, bung xoã cõi lòng. Nếu biết rằng cuộc đời ngang tráiNếu biết rằng tình này chóng phaiCho chúng mình mang nhiều đau khổThì yêu đương đành cố chôn vùi Những ẩn ức, oán thán cũng phần nào dịu lại, không còn phẫn uất, cuồng nộ, vùng vẫy nữa mà bình thản chấp nhận. Thôi nhé em ơiTình đã lỡ rồiBuồn cũng thế thôi Anh nén chua cayNhìn em khóc thanTình duyên bẽ bàng Thôi nhắc làm gìCho xót xa nhiềuBao nhiêu hận căm Mối tình ngày xưaXóa dần trong mơChôn xuống tuyền đài Thay cho hàng loạt câu hỏi giằng xé, đớn đau, băng lạnh ở cuối cuộc chia tay trong phần lời 1, là những lời ca mềm mại, đầy ve vuốt. Câu hát“thôi nhé em ơi”đầy ngọt ngào, trìu mến tưởng như viết cho cô gái năm xưanhưng không có bóng dáng người em nào trong phần hồi nhớ này, chỉ có cõi lòng nuối thương, chua cay của nhạc sĩ đang dậy sóng, nên đành viết để ve vuốt, vỗ về cõi lòng của chính mình. Có thể thấy nhạc sĩ đã dùng một loạt chữ “thôi” trong những lời hát sau cuối này: Thôi nhé em ơi, tình đã lỡ rồi Những lời hát như những lời nhắc nhở, dằn xuống những đau thương xưa cũ, chôn vùi những đốm lửa le lói vừa bất chợt loé lên giữa đống tro tàn. Bạn bè đương thời nhận xét, Đỗ Lễ mặc dù là một người quảng giao, vui vẻ nhưng đồng thời cũng là một nhạc sĩ có tâm hồn nhạy cảm, đa sầu đa cảm. Mối tình đầy tuyệt vọng với nữ ca sĩ Lệ Thanh vừa đẩy nhạc sĩ rơi vào hố sâu sầu thảm nhưng đồng thời cũng đẩy âm nhạc của ông thăng hoa rực rỡ như một vầng pháo hoa trên bầu trời nghệ thuật khiến bao người ngưỡng mộ và cảm mến. Trước năm 1975, bài Sang Ngang được cả 3 nữ danh ca nổi tiếng nhất Sài Gòn hát, đó là Thái Thanh, Lệ Thu và Khánh Ly: Trước 1975, Khánh Ly chỉ hát lời 2 của ca khúc Sau năm 1975, phiên bản được yêu thích nhất có lẽ là giọng hát đượm buồn của Ngọc Lan: Click để nghe Ngọc Lan hát Sang Ngang Vào những năm cuối đời, trong những lần tâm sự với bè bạn, nhạc sĩ Đỗ Lễ từng nói rằng chuyện tình của ông với Lệ Thanh năm xưa không phải là “tình đơn phương” như người đời đồn thổi. Tuy nhiên vì nhà ông nghèo nên không “môn đăng hộ đối”, và lần chia ly trong bàiSang Ngangđã đẫm lệ sầu bi. Thời gian sau đó, nhạc sĩ Đỗ Lễ còn sáng tác thêm ca khúc mang tênChia Ly, cũng nhắc đến lần tạ từ đó: Mai lên xe hoa em sầu trong áo cướiMai lên xe hoa còn thương nhớ một ngườiAi gieo đau thương đếm từng đêm tiếc nuốiEm đã đi rồi, em đã quên người tình rồi… Bài: Niệm QuânBản quyền bài viết của nhacxua.vn Ca khúc Sang Ngang của nhạc sĩ Đỗ Lễ được xem là bài thất tình tiêu biểu nhất của nhạc... Sau mối tình đơn phương tuyệt vọng dành cho nữ ca sĩ Lệ Thanh, nhạc sĩ Đỗ Lễ ôm mối... Trong số những nhạc sĩ nổi tiếng nhất của dòng nhạc trữ tình của miền Nam trước 1975, dù Đỗ... Sáng sớm 24/3/1997, khi tôi chuẩn bị đi làm thì nhận được một bì thư dày do nhạc sĩ Đỗ... Nhạc sĩ Đỗ Lễ đã cống hiến hầu hết cuộc đời tài hoa của mình cho âm nhạc, cho tình... © 2020NhacXua.VN- Nhạc Xưa Thời Báo.

Nhạc sĩ Ngô Thụy Miên kể về hoàn cảnh sáng tác những bài tình ca bất tử

Ngô Thuỵ Miên là một trong những nhạc sĩ nổi tiếng nhất của dòng nhạc trữ tình Việt Nam từ thập niên 1960. Ông cùng với nhạc sĩ Từ Công Phụng là 2 trong số những nhạc sĩ đã dành trọn cả sự nghiệp chỉ để viết tình ca. Dưới đây là những lời tâm sự của chính nhạc sĩ Ngô Thụy Miên, kể về hoàn cảnh sáng tác, hoặc cảm hứng sáng tác những bài tình ca bất tử như Giáng Ngọc, Từ Giọng Hát Em, Em Còn Nhớ Mùa Xuân… Tôi sáng tác nhạc từ khi còn rất trẻ, những ngày tôi còn theo học trường Quốc Gia Âm Nhạc, có lẽ vì thế, những nhạc phẩm đầu tay của tôi đã chịu ảnh hưởng nhạc cổ điển tây phương rất nhiều. Cho đến năm 1965, tôi bắt đầu chuyển hướng, và từ đó những tình khúc Ngô Thụy Miên được ra đời. BàiMùa Thu Cho Emkhông phải là nhạc phẩm đầu tay của tôi, nhưng đó là bài tình ca đầu tiên được thu dĩa, là bài hát đầu tiên đã mang tên tuổi Ngô Thụy Miên đến với khán giả. Click để nghe Thanh Lan hát Mùa Thu Cho Em trước 1975 Tất cả những bản nhạc trong cuốnTình Ca Ngô Thụy Miênphát hành năm 1974 tại Saigon đã được tôi viết từ năm 1965 đến năm 1972. Bài hát đầu tiên được hoàn tất trong năm 1965 làChiều Nay Không Có Emvà bài cuối cùng được viết trong năm 1972 làMắt Biếc. Cllick để nghe Băng nhạc Tình Ca Ngô Thụy Miên 1974 Với bài hátGiáng Ngọc, đó chỉ là cái tên tôi đặt cho một người con gái có thực. Cô có một vẻ đẹp lãng mạn, kiêu sa. Ngày đó cô là một nữ sinh của trường trung học nổi tiếng ở Sài Gòn là Trưng Vương, còn tôi là một anh sinh viên lang thang ở trường đại học. Cô là nguồn cảm hứng cho tôi viết bàiDấu Tình Sầuvà dĩ nhiên là cả bàiGiáng Ngọc. Đã nhiều năm trôi qua, tất cả đã đi vào quên lãng, nhưng bàn tay, mái tóc và dáng người đó đã cho tôi niềm cảm hứng để viết bài hát với những câu“bàn tay năm ngón em vẫn kiêu sa, vẫn tóc mây bay má môi hồng thắm…” Click để nghe Lệ Thu hát Giáng Ngọc Bài hátTừ Giọng Hát Emlà một trong những bản nhạc mà tôi thích nhất, là bài tôi đã bỏ ra rất nhiều công phu, nhiều thì giờ để viết, rồi trau chuốt từ lời ca đến ý nhạc. Bài nhac có mang một chút âm hưởng nhạc cổ điển tây phương, là do tôi sử dụng vài hợp âm giống như những bài aria, tức là những bài nhạc đạo của Bach. Click để nghe Châu Hà hát Từ Giọng Hát Em Mỗi một nhạc sĩ có một phương cách riêng biệt để viết về tình yêu. Trong bài hát của tôi cũng có những chia lìa, tan vỡ, nhưng với tôi tình yêu luôn luôn trong sáng và nhẹ nhàng. Tuy nhiên không phải vì thế mà cuộc sống tình cảm của tôi bằng phẳng mà cũng rất gập ghềnh và vất vả. Có một sáng tác đặc biệt được tôi viết ngay sau năm 1975 làEm Còn Nhớ Mùa Xuân, có mang một chút hình ảnh thời sự. Đó là tình khúc duy nhất tôi đã viết khi còn lại ở Sài gòn sau năm 1975 trong nỗi nhớ người bạn gái đã ra đi, giữa những đổi thay, mất mát xảy ra quanh mình trong những ngày tháng đó. Bài hát đã nhắc đến những kỷ niệm đẹp của chúng tôi trong bối cảnh của Sài Gòn – Đà Lạt một thời thơ mộng: Trời Sài Gòn chiều hôm nay còn nhiều mây baynhiều niềm đau thương bi hận tràn đầyGượng nụ cười giọt lệ trên môiNhìn đất nước tơi bời một thời em có hay Những thành phố em sẽ đi quaĐây Ba-Lê, đây Luân Đôn, đây VienneNhưng có đâu bằng Sàigòn hôm quaNhưng có đâu bằng Sàigòn mai sauEm có mơ ngày hát câu hồi hương… Click để nghe Sĩ Phú hát Em Còn Nhớ Mùa Xuân Cuối năm 1978 tôi hoàn tất bản nhạc và hát lần đầu tiên trong một đêm văn nghệ tổ chức trên đảo Bidong trước khi lên đường đi Canada. Cuối năm 1979, tôi đã gặp lại và thành hôn với người bạn gái năm đó. Với nhiều khán giả, nhạc của tôi đã gắn liền với thơ Nguyên Sa. Giữa thi sĩ Nguyên Sa và nhạc sĩ Ngô Thụy Miên không hề có liên hệ nào ngoài sự cảm thông giữa hai con người cùng yêu nghệ thuật. Nhà thơ Nguyên Sa là một trong những nhà thơ có những bài thơ tình mà tôi ưa thích nhất. Kể từ ngày tôi quen biết anh ở Sàigòn cho đến bây giờ thì trong nhạc của tôi, thơ của anh luôn luôn có chỗ đứng rất đặc biệt. Sài Gòn của chúng ta không phải chỉ có một Nguyên Sa. Chúng ta còn rất nhiều những nhà thơ nổi tiếng khác đã viết những bài thơ tình rất tuyệt vời. Nhưng cho đến bây giờ, hình như nhạc Ngô Thụy Miên chỉ có duyên với thơ Nguyên Sa thôi. Nhờ cái duyên này mà tôi có đượcÁo Lụa Hà đông, Paris Có Gì Lạ Không Em, Tuổi 13….Trong thời gian đi học, tôi đọc thơ của Nguyên Sa nhiều nhất, ngâm nhiều nhất nên đã thấm vào trong tâm hồn. Trong tất cả 4 thập niên viết nhạc của tôi thì thơ của ông ấy lúc nào cũng bàng bạc ở trong dòng nhạc Ngô Thụy Miên. Với tôi, chiên tranh chỉ là giai đoạn. Tình yêu mới là vĩnh cửu. Từ khi bắt đầu viết nhạc, tôi đã chọn cho mình một hướng đi, đó là tình ca. Và trước tôi cũng như sau tôi đã có nhiều nhạc sĩ viết về chiến tranh, về quê hương, về thân phận… Tất cả chúng tôi đều đóng góp cho nền âm nhạc Việt Nam, mỗi người một khuynh hướng khác nhau. Tôi chỉ xin được nhớ đến như một người viết Tình Ca không hơn không kém. Tôi không viết nhạc để sống, mà tôi sống để viết nhạc… Nếu đời (hay người đời) chia sẻ được với tôi thì đó là một niềm vui. Nhạc tình ca của Ngô Thụy Miên luôn có đầy đủ những cung bậc hạnh phúc lẫn thương đau, nhạc... Bản Tình Cuối là một trong số 17 Miên Tình Khúc được nhạc sĩ Ngô Thuỵ Miên sáng tác và... Khi dấn thân vào địa hạt âm nhạc, mỗi nhạc sĩ sẽ tìm cho mình một con đường riêng để... Sự nghiệp âm nhạc của nhạc sĩ Ngô Thuỵ Miên trải dài từ trước đến sau năm 1975, từ Việt... Nhạc sĩ Ngô Thuỵ Miên là một trong những nhạc sĩ hiếm hoi đứng ngoài những trào lưu, thị hiếu... Nhắc đến danh ca Thái Thanh có thể kể ra một loạt ca khúc bất hủ gắn liền với tên... © 2020NhacXua.VN- Nhạc Xưa Thời Báo.

Thu sầu

Viết từ hình ảnh thực tế của những chiếc lá bàng lá me vàng rơi rụng đầy trên vỉa hè Sài Gòn xưa những chiều gió heo may chớm lạnh buông xuống thị thành vắng lặng. Cảnh sắc mùa thu đượm buồn gợi nhớ về một mối tình thời thơ ấu đẹp đẽ e ấp nhưng dở dang, khơi nguồn sáng tác tình khúc u sầu diễm lệ bất hủ này.

Hạ trắng

Ra đời từ một lần nhạc sĩ Trịnh Công Sơn bị sốt cao mê man trên giường bệnh tại Huế xưa lạnh buốt. Trong cơn mơ mộng ảo, ông chứng kiến đám tang của một cụ bà qua đời tiếp nối mối duyên tình chung thủy với người chồng già tạ thế trước đó không lâu. Hình ảnh những bông hoa huệ trắng buốt tỏa hương ngào ngạt hoàng hôn đã đánh thức cảm xúc dạt dào để ông dệt nên khúc hạ trắng bất hủ dâng đời.

Chuyện cô Tiên

Ba tôi qua đời bất ngờ năm 1964, nhỏ em út còn trong bụng Má. Tôi phải nghỉ học, tìm việc làm ngày đêm để phụ giúp Má tôi nuôi 6 đứa em còn nhỏ dại. Đầu năm 1965, tôi được mời đến dạy kèm Toán cho cô con gái lớn một gia đình người Việt ở Nam Vang. Mỗi ngày 2 tiếng, từ 7 đến 9 giờ tối, từ thứ Hai đến thứ Sáu. Em học trường Providence, còn gọi là trường Bà Phước, lúc đó chỉ dành cho nữ sinh. Em nhỏ hơn tôi một tuổi nhưng mới ở lại Cinquième, trong khi tôi đã đậu Brevet d’Études du Premier Cycle hai năm trước. Có lẽ vì là con gái nhà khá giả nên em hơi… làm biếng học, nhất là toán, géometrie và algèbre. Lúc đầu, tôi hơi nản lòng vì… em nhìn bài vở như thấy ma, tôi thường phải làm bài giùm em, nhưng từ từ em nghe lời tôi khuyên, chịu làm bài, chịu học bài, và được lên lớp mỗi năm. Đầu năm 1968, em học Troisième, chuẩn bị thi Brevet. Tôi kèm em từng môn, giúp em làm những bài vở mà đúng ra tôi không cần giúp. Em trả ơn bằng cách mời tôi ở lại ăn cơm tối. Tôi cho em mượn những quyển sách mà tôi đã học qua, trong một lần trả sách, em kèm theo tấm giấy chỉ viết một câu“cho moi làm amie intime của toi nha”. Tôi gật đầu vì sợ em giận, em không thèm học nữa. Từ đó, em hẹn tôi đi chơi cuối tuần, tôi cũng gật đầu với điều kiện là em phải xin phép Ba Má đàng hoàng và phải ráng học. Tôi biết em thương tôi, tôi cũng thương em. Tôi gọi em là “cô Tiên” vì em có dáng dấp qua cầu gió bay, có bước đi lả lướt nhẹ nhàng như các nàng tiên nữ trong vũ khúc nghê thường, vì em đã mang đến cho tôi những cảm xúc mà người trần gian chưa từng cho tôi trước đó. Những ngày mưa, không đi chơi được thì tôi ngồi hát em nghe bên mái hiên nhà: Một chiều cuối tuần mưa bay lất phất và mây trắng giăng giăngEm đến thăm anh vì trời mưa mãi nên không kịp vềBên anh, em lặng nhìn bầu trời và ánh mắt mộng mơSợ người yêu khóc, khe khẽ bên tai anh kể chuyện ngày xưa. Chuyện xưa kể rằng trên thiên giới ấy ngày vui kết hoa đăngThiên Quốc đang vui một nàng tiên nữ làm rơi ly ngọc ngàĐang say nên trời bèn đọa đày nàng tiên xuống trần gianLàm người dương thế không biết bao lâu mới được quay về trời. Em ơi nàng tiên ấy xuống dương trần một chiều mưa bay nhiềuVà vì thương trần thế, thương kiếp sống phong sươngNên dù rằng một hôm Thiên Quốc trời saiGom mây hồng làm xe đưa tiên vềTiên nói dối tiên còn đang giận trời nên tiên chẳng về đâu. Nàng tiên giáng trần không đôi cánh trắng giờ đang ngắm mưa bayĐang đứng bên anh thầm cầu mưa mãi cho tiên đừng vềAnh ơi lỡ mà trời gọi về thì tiên chẳng về đâu (Bài hát “Huyền Thoại Một Chiều Mưa”) Nhưng tôi luôn nhớ mình là con trai nhà nghèo, chỉ có chiếc Mobylette cà tàng làm chân đi kiếm cơm mỗi ngày. Em là con gái nhà khá giả, đi học có xe đưa rước, về nhà không làm động móng tay vì đã có chị bếp, chị bồi, chị vú lo toan mọi việc. Nếu hai đứa thành vợ thành chồng, em cực thân là cái chắc. Trong một lần kề vai nhau đi quanh công viên Chùa Tháp, trời bỗng dưng mưa. Tôi bật dù che hai đứa nhưng mưa càng lúc càng nặng hột, em bỗng xoay người lại ôm hôn tôi dưới mưa. Tôi than thầm trong bụng “gặp oan gia truyền kiếp rồi”.Năm đó, em thi đậu Brevet và tôi nghỉ dạy vì vừa xin được cái job thư ký kế toán ở hãng L’UCIA, Nam Vang. Lúc trước gặp nhau 5 ngày mỗi tuần, có nhiều thì giờ để nói với nhau những gì muốn nói. Giờ phải chờ đến cuối tuần mới được gặp nhau vài tiếng, nhớ ơi là nhớ. Tôi bắt đầu làm thơ “nhớ em”… Nhớ lúc xưa kia mới biết nhauRồi thương rồi nhớ suốt đêm thâuÐêm nào cũng vái cho mau sángNhớ quá trời ơi! Nhớ phát rầu. Nhớ những chiều em qua phố vắngDáng hồng xen lẫn bóng hàng cauMân mê vạt áo, em e lệNhững lúc anh nhìn, má đỏ au. Nhớ lúc mình đan tay đếm bướcEm run run hỏi: – Sẽ ra sao ?Anh cười, anh nói như đinh đóng:– Anh sẽ yêu em đến bạc đầu! Đưa bài thơ cho em, em bỏ túi nói sẽ về nhà đọc. Tuần sau gặp nhau, em không nhắc gì về bài thơ của tôi mà hỏi tôi nghĩ gì về cuộc sống hai đứa sau này.Tôi nói là nhà tôi nghèo, em nói em biết rồi, tôi phải đi làm giúp Má nuôi các em còn nhỏ, em nói em cũng biết rồi, nếu mình cưới nhau thì em sẽ cực thân hơn là sống với Ba Má em… Em trả lời làm tôi chưng hửng“hiện nay, cái khổ nhất mà “moi” phải chịu đựng hàng ngày là nhớ “toi”, cái cực nhất mà moi phải chịu đựng hàng ngày là làm sao để gặp toi sớm hơn, nên moi không sợ gì cả. Trời sanh voi sanh cỏ”. Tôi khuyên em nên kiên nhẫn, nói cho em hiểu lúc này là thời gian đẹp nhất trong cuộc tình hai đứa, cái nhớ cái thương bây giờ sẽ làm mình gắn bó nhau hơn sau này… Em nghe lời tôi và chuyện hẹn hò của chúng tôi kéo dài cho tới đầu năm 1970.Tướng Lon Nol lật đổ vua Sihanouk, tự phong là tổng thống xứ Kampuchea (Cao Miên). Một số người Miên quá khích thừa nước đục thả câu, “cáp duồn” (nghĩa là chặt người Việt) lẻ tẻ. Đang đêm, họ đến gõ cửa nhà người Việt ở những vùng thôn quê hẻo lánh. Một số người Việt không may đã bị họ cha.t đầu, xa’c thả trôi sông về tới Tân Châu, Hồng Ngự… Nhiều người Việt có chút của ăn của để ở Cao Miên bán tháo tài sản để về Miền Nam Việt Nam lánh nạn. Ba Má em cũng không ngoại lệ. Em gặp tôi bàn chuyện này. Tôi đem việc này hỏi ý kiến ông giám đốc hãng L’UCIA. Ông giám đốc đưa hai đứa tôi về biệt thự do hãng mướn cho ổng ở trên đại lộ Norodom, ngay trung tâm thủ đô Nam Vang. Ổng nói:“nhà tao có 2 người bồi bếp, có 2 con chó berger giữ nhà. Nhà có 5 phòng, tao ở chỉ một phòng. Nếu hai đứa thấy ở nhà mầy không an toàn thì đến đây ở với tao. Tao tin tưởng và cần thằng B. giúp tao giữ gìn sổ sách của hãng nên hai đứa mầy muốn ở phòng nào, muốn ở bao lâu cũng được”. Nghe vậy, chúng tôi yên tâm và quyết định ở Nam Vang dù Ba Má em có về Sàigòn. Em về xin Ba Má cho hai đứa làm đám cưới. Má em có cảm tình với tôi nên gật đầu. Ba em im lặng vì biết tôi nghèo, sợ con gái cưng của ông sẽ cực khổ khi về làm vợ tôi. Em nói với Ba Má em“nếu Ba Má không tổ chức đám cưới cho hai đứa con, tụi con sẽ tự lo. Con muốn làm vợ anh B. danh chánh ngôn thuận”. Và hai đứa tôi tự tổ chức lễ cưới của mình. Sáng ngày 24/02/1970, Má tôi và tôi mang trầu cau và phẩm vật đến xin cưới em. Chúng tôi lạy bàn thờ tổ tiên nhà em, xin quý ngài chứng giám cho chúng tôi thành vợ thành chồng. Tôi mướn xe Mercedes để rước “cô Tiên” xuống trần. Tối đến là tiệc cưới tại nhà hàng La Lune, đối diện State Olympic, với 200 quan khách, họ hàng và bạn bè nhà trai, nhà gái. Dĩ nhiên là có nhạc sống do mấy tên bạn tôi tự mang đồ nghề đến giúp vui. Đêm đó, hai đứa tôi khiêu vũ và cụng ly với bạn bè gần tới sáng. Sau ngày chúng tôi thành hôn thì tình hình chính trị giữa hai nước Kampuchea và Miền Nam Việt Nam biến chuyển dồn dập. Ông bà nhạc tôi và gia đình bay về Sàigòn vài ngày sau đó. Vợ chồng tôi vẫn ở Nam Vang. Tôi vẫn đi làm ở L’UCIA . Khi xa’c nhiều người Việt trôi về tới Hồng Ngự, Tân Châu, ông Nguyễn Cao Kỳ – lúc đó là Phó Tổng Thống VNCH – ra lệnh cho Quân-đoàn 3 tràn qua biên giới, lấy cớ là để “bảo vệ kiều bào VN”. Trung tướng Đỗ Cao Trí nhận lệnh với lời tuyên bố làm chấn động chính phủ Cao Miên:“Cho tôi 24 tiếng, tôi sẽ chiếm Nam Vang”. Ông Lon Nol nghe muốn té đa’i. Mới làm tổng thống có mấy ngày, nếu để QLVNCH chiếm Nam Vang thì mất mặt bầu cua. Ông gọi điện năn nỉ chính phủ VNCH đừng chiếm Nam vang nên Quân-đoàn 3 dừng lại ở Neak Luong (người Việt mình gọi là Hố Lương), một bến phà chỉ cách Nam vang 60 cây số. Nghe tin QLVNCH tràn qua biên giới, cả trăm ngàn kiều bào VN ở Cao Miên, trong đó có vợ chồng tôi, bỏ tất cả tài sản, dắt díu nhau vào các trại tị nạn. Các sân trường trung học, chùa, nhà thờ bỗng trở thành những trại tị nạn khổng lồ. Vợ chồng tôi vào trường Seminaire, nơi tôi đã học năm cuối chương trình Tú tài Pháp hai năm trước. Trong trại Seminaire, người ta chia ra nhiều nhóm, mỗi nhóm 10 gia đình, trước hết là để lãnh nước uống, sau là thức ăn, lúc đó chỉ có khô cá lóc do Red Cross cung cấp. Tôi làm trưởng nhóm 31. Đầu tháng 5/1970, ông Nguyễn Cao Kỳ bay lên Nam Vang, nói là thăm xả giao tướng Lon Nol nhưng thật sự là đi thanh tra các trại tị nạn. Tối đêm trước, tôi và các trưởng nhóm được lệnh phải thu tất cả những những gì có thể coi như là vũ khí gồm dao, gậy,… và cùng nhiều người thức gần sáng đêm để dựng cái sân khấu dã chiến. Khi ông Kỳ vào trại Seminaire, ông đến từng lều, bắt tay và hỏi thăm từng người. Điều làm mọi người chú ý là 2 anh đại-úy cận vệ. Họ cao hơn ông Kỳ 1 cái đầu, mặc đồ bay, mang súng ngắn dưới nách, nhưng không cản trở khi kiều bào đến bắt tay, thậm chí ôm hôn ông Kỳ. Ông Kỳ lên sấn khấu, nói vài lời thăm hỏi xã giao rồi hứa:“Tôi sẽ đưa tất cả đồng bào về quê hương!” Ông nhận được những tràng pháo tay như sấm động của mấy ngàn người trong trại Seminaire. Nhiều bà lão bò ra khoảng trống trước sân khấu lạy ông Kỳ như tế sao. Vài ngày sau, chúng tôi được phát thịt heo lần đầu, dù không ai biết ai cho nhưng mọi người nghĩ là từ chính phủ VNCH. Tuần sau, một đoàn “tàu há mồm” của Hải quân VNCH cặp bến sông Mekong. Danh sách từng nhóm được gọi để rời trại xuống tàu về nước. Vợ chồng tôi thuộc danh sách thứ 31 nên gần cuối tháng 5/1970 mới được rời trại. Sau 1 ngày lênh đênh trên sông Tiền (hay sông Hậu?) thì về tới trại Đồng Tâm, Mỹ Tho, lúc đó là hậu cứ của Sư-đoàn 7 BB. Vợ chồng tôi chỉ ở trại Đồng Tâm 5 ngày. Làm giấy tờ nhập cảnh xong thì Ba em lái xe xuống rước về Sàigòn. Cuộc sống chúng tôi từ ngày về Sàigòn không còn… tà tà như lúc ở Nam Vang. Cũng như tất cả Việt kiều hồi hương lúc đó, tôi được hoãn dịch 18 tháng. Thời gian không nhiều nên tôi làm ngày làm đêm. Em cũng đi làm. Cuối tuần hai đứa đưa nhau đi ăn mì xào dòn, hay ăn nghiêu luộc. Mỗi tối đi đàn về, tôi chạy thẳng vô Chợ Lớn mua cho em cái bánh bao Ông Cả Cần của Bà Năm Sa-Đéc. Lúc này em không còn thơ thẩn, mà ngược lại… em ăn rất bạo. Dù không nói ra, tôi biết em đang chuẩn bị cái bụng cho đứa con đầu lòng của chúng tôi, dù không biết lúc nào nó sẽ tượng hình. Nhiều người trong gia tộc hai bên thường trề môi nói“thằng B. con nhà lính tính nhà quan, mới ở Nam Vang về tay trắng mà vợ nó muốn gì được nấy”…. Mấy người này không biết là lúc còn độc thân, tôi đã đọc một câu định nghĩa “người phụ nữ lý tưởng” của 1 người đàn ông như sau:“Người phụ nữ lý tưởng của một người đàn ông là người bạn, người tình và là người vợ của người đàn ông đó”. Hồi đọc câu đó, tôi chưa gặp cô Tiên nên tôi đã tự hỏi ngược lại là “tôi có thể vừa là người bạn, vừa là người tình, và là chồng của vợ tôi không”. Ông nào muốn biết cái vụ này nó khó cỡ nào cứ thử cua một cô bạn gái rồi cưới cổ về làm vợ thì sẽ hiểu câu… “chưa thấy quan tài chưa đổ lệ”. Nhưng khi gặp rồi thương yêu cô Tiên, cái định nghĩa xưa tự nó cho tôi lời giải đáp. Lúc mới thương nhau, tôi thường kể em nghe chuyện bồ bịch của tôi lúc trước. Em chẳng những không ghen hờn, mà còn góp ý đôi khi rất tiếu lâm, rồi hai đứa cười hí hí. Lúc hai đứa đi chơi, gặp cô nào có “ngực tấn công, mông phòng thủ” là tôi hay quay lại nhìn, em im lặng nắm tay tôi, đợi cô đó đi khỏi tầm mắt mới hỏi“bộ toi hổng thấy cổ đi hai hàng hả?”. Khi vào tiệm bán sách, tôi có cái tật (hổng biết xấu hay tốt) là đứng hơi lâu trước mấy cái đặc san người lớn như PlayBoy. Em im lặng đứng bên tôi, đến khi rời tiệm sách em mới phê bình…“nhỏ này vú đẹp, cô kia mông teo…”. Chỉ khi đến kệ bày mấy cuốn Salut les Copains, em mới thò tay lựa cuốn mới nhất và tự ra quầy trả tiền. Em chưa bao giờ bắt tôi trả tiền những gì em mua cho riêng em. Em chưa bao giờ lớn tiếng hay dùng lời lẽ không lịch sự với bất cứ ai, dù đôi khi tôi hay ai đó vô tình hoặc cố ý làm em giận. Ba em nói với em “Ba thấy nó đi nhảy đầm, tay trái một con, tay mặt một con”.Em trả lời“những gì ảnh làm lúc còn độc thân là quyền của ảnh, con không cần biết (thật ra tôi đã kể em nghe hết rồi). Chỉ cần biết hiện giờ hai đứa con thương nhau thật lòng là được rồi”. Tết đầu tiên ở Saigon, 1971 Em có cách hôn, chỉ phớt nhẹ, làm tôi hồn phi phách tán. Khi thấy tôi buồn, em cầm tay tôi, xoa nhè nhẹ lên mu bàn tay, khiến tôi quên hết mọi phiền não. Sau này thành vợ thành chồng, em vẫn là người tình tuyệt vời. Em biết cách làm tôi quên những nghiệt ngã mà tôi đã trải qua trong ngày hôm đó. Em biết tiết kiệm, vén khéo với số tiền mà chúng tôi kiếm được. Em không se sua, dù luôn ăn mặc thanh lịch. Mỗi lần hai đứa ra đường là tôi phải ngó trước nhìn sau, coi có tên nào nhìn lén em không. Khi đứa con đầu lòng của chúng tôi chào đời năm 1972, em tự nguyện bỏ bớt chuyện mua sắm cho riêng mình, để có đủ tiền cho con chúng tôi bú sữa Guigoz 3 năm liên tục. Cô Tiên đã là một người bạn, một người tình và là người vợ tuyệt vời của tôi.Được một người vợ như cô Tiên, em muốn gì được nấy không có gì quá đáng.Bán nhà cho em cũng được, huống chi là ba cái lẻ tẻ. Tháng 4/1972, tôi hết hạn hoãn dịch, phải đi lính cho tới ngày tan hàng. Sau 75, có ngày hai đứa phải ăn sáng bằng… cơm nguội, nhưng em luôn dành 1 hoặc 2 đồng cho con chúng tôi có gói xôi nóng hay tô cháo huyết. Cực nhất là lúc chúng tôi về quê tôi sống từ năm 1976 đến năm 1979.Má tôi cho 2 công ruộng và nửa công vườn, đủ cho gia đình chúng tôi sinh sống, không cần phải đi làm mướn, làm thuê. Nhưng không may là hai năm 77-78, lũ lụt tràn vào ngập ruộng trước khi lúa chín. Nông dân vùng Tân châu đói thể thảm. May mà tôi cất nhà sàn, cao khoảng 1.5m, nên nước ngập lé đé sàn nhà. Nhiều nông gia ở nhà đất, phải kê tủ giường lên cao, có người kê giường tới gần đụng nóc nhà. Mỗi ngày, cô Tiên ngồi trên sàn nước, miệt mài câu từng con cá chốt, cá sặc, cá lòng tong. Tôi không dám nhìn lâu. Đến bữa ăn chỉ có món cá kho thập cẩm vậy mà thằng con khen “má kho cá ăn ngon”. Tôi mắc nghẹn từng hồi. Rồi cũng qua. Ở quê, em không cho con đi học, nói mấy ổng dốt mà dạy cái gì! Vợ chồng tôi thay nhau dạy con nói và viết tiếng Việt, tiếng Pháp. Bài học tiếng Việt đầu tiên là bốn câu thơ của ngài Lý Thường Kiệt : Nam quốc sơn hà Nam đế cưTiệt nhiên phận định tại thiên thưNhư hà nghịch lỗ lai xâm phạmNhữ đẳng hành khan thủ bại hư. Tiếng Pháp thì chúng tôi dạy con nói và viết những câu chào hỏi thông thường, không ngờ khi qua Úc nó học tiếng Anh nhanh hơn những bạn tị nạn khác nhờ tiếng Pháp và tiếng Anh có nhiều chữ giống nhau. Qua năm 79, tôi trúng mùa. Bán mấy chục giạ lúa, thêm chút tiền dành dụm, mua được cái ghe nhỏ, tính chuyện lớn. Khoang ghe chỉ vừa đủ cho hai người lớn và một đứa nhỏ chen vai nhau ngủ. Tôi không biết chèo, tập cả tháng sau mới chèo được 2 chèo. Em không biết lội nhưng nhất quyết đòi đi đến những nơi có thể cho chúng tôi thấy được tương lai. Em nói“mình đã sống mấy năm ‘có miệng không nói lại câm, hai hàng nước mắt chan dầm như mưa’. Đủ rồi, phải đi tìm tương lai cho mình và cho con”. Vậy là đi. Chèo từ Tân châu tới Long xuyên mất hai ngày. Nghỉ xả hơi một ngày rồi chèo tiếp tới Ô Môn, Cần Thơ, Ngã 7, Sóc Trăng, Hộ Phòng, Gành Hào, và sau cùng là ngã 3 cây Tàn. Ở ngã 3 cây Tàn hơn 1 tháng vì có người mướn tôi đào ao nuôi cá. Đào ao 1 tháng được 2 giạ gạo và một mớ tiền. Chúng tôi trở ra Gành hào vì thấy nơi này là nơi lý tưởng để ra đi. Tôi giấu dưới khoang ghe cái máy đuôi tôm, thường ngày không dám sử dụng, sợ người ta dòm ngó, định khi nào đi mới xài. Ở Gành Hào đêm trước, thì đêm sau bị bão. Mưa như trút nước, sấm chớp đầy trời. Chiếc ghe tôi lắc lư như người say rượu, nửa đêm đứt dây buộc sào trôi ra giữa sông. May là lúc đó nước lớn, nước từ ngoài biển đổ vô sông, nếu ngược lại thì có thể bão đã đưa chúng tôi qua Thái Lan hay hổng chừng… vô bụng cá. Tôi cột sợi dây quanh bụng, cố gắng lội vô bờ. Hình như… lúc không còn cái gì để sợ nữa thì mình mạnh hơn bình thường nên tôi đã kéo chiếc ghe tới dưới dạ cầu chợ Gành hào. Buộc dây ghe lại đàng hoàng là tôi ngã lăn ra thở dốc, lạnh run cầm cập. Em lau mình cho tôi và đưa tôi cái bánh bía, hổng biết em mua lúc nào, đúng là cô Tiên. Ăn cái bánh bía đêm đó, hương vị thơm ngon còn phảng phất tới bây giờ. Bye bye Gành hào, tôi gắn máy đuôi tôm chạy về Long Xuyên. Chúng tôi ở Long Xuyên gần 3 năm. Tôi làm bất cứ chuyện gì, miễn là lương thiện, để có tiền nuôi vợ con. Có lúc đạp xe lôi, có lúc vác lúa gạo ở các nhà máy xây lúa, có lúc làm tạp nhạp. Đến tháng 2/1982, em tìm được đường dây ra nước ngoài vừa với khả năng của vợ chồng tôi lúc đó. Cái may là chúng tôi chỉ đi một lần là tới Mã Lai. Ở Bidong 1 tháng rưỡi là được phái đoàn Úc nhận. Qua trại chuyển tiếp Sungei Besi2, ngoại ô Kuala Lumpur để khám bệnh, bổ túc hồ sơ. 3 tháng rưỡi sau là chúng tôi có list đi Úc. Chụp với vợ chồng ông quản lý Trung tâm tạm cư Tamarind, trong lễ Giáng sinh đầu tiên tại Úc năm 1982. Vài ngày sau khi đặt chân lên đất Úc, lúc đó chúng tôi chỉ biết tiếng Pháp chưa biết tiếng Anh. Em nói với tôi“moi không thích nhờ thông dịch, nhà mình phải có một người giỏi tiếng Anh, toi phải đi học. Moi sẽ đi làm nuôi toi và con”!Nghe ghê chưa? Mà em cũng không biết tiếng Anh thì đi làm cái gì? Em quên mình từng là một tiểu thơ được cơm bưng nước rót, em quên mình từng đi học có xe đưa rước, em quên mình là… cô tiên của tôi,. nên ai mướn gì làm nấy. Quét dọn nhà cửa cho người Úc, chăm sóc con em của đồng hương, làm chả giò bán sĩ (không biết em học ở đâu mà làm chả giò và đổ bánh xèo ngon nhất Darwin). Tôi cũng đi làm ban ngày, đi học ban đêm. Bảy năm ròng rã, tôi lấy được 2 cái Certificates về kế toán và quản trị địa ốc và xin được cái job “Security Administrator” tại trường đại học Charles Darwin University ở Darwin đầu năm 1985. Tôi làm việc tại CDU liên tục hơn 27 năm, đến khi nghỉ hưu cuối năm 2012. Em không đi học tiếng Anh một ngày nào nhưng sau này… lại làm thông dịch cho bạn bè, nhiều nhất là mấy cô lấy chồng Úc, mới qua Úc chân ướt chân ráo, tìm đến em nhờ giúp đỡ. Em chở họ đi làm hồ sơ nhập cư, điền đơn xin tiền an sinh xã hội… Bà xã tôi thương đồng hương nên ai nhờ thì giúp, cứ ăn cơm nhà vác ngà voi, không đòi hỏi ai phải trả đồng bạc nào dù biết làm thông dịch cũng được trả tiền. Mấy cô vợ Úc thương em lắm, cuối tuần là ghé nhà tôi xào xào nấu nấu … thật vui. Hỏi em mới biết, em học tiếng Anh bằng cách theo dõi các chương trình Play School trên TV. Chương trình này dạy con nít Úc nói/viết tiếng Anh để chuẩn bị vô mẫu giáo. Em đọc báo tôi mang về mỗi ngày. Không hiểu chữ nào, đoạn nào thì em hỏi tôi hay tra tự điển. Tiếu lâm nhất là khi bà hàng xóm nhờ em làm thông dịch. Bà này gốc Ý (Italy), có chồng gốc Tây Ban Nha (Spain). Bà ta đến Úc theo diện vợ chồng năm 1978 và không đi học ngày nào. Khi rảnh rỗi bà ta qua nói chuyện với bà xã tôi. Bà ta nói “broken english” với giọng Ý nên tôi và mọi người không ai hiểu cả. Vậy mà bà xã tôi hiểu nên mỗi lần bà hàng xóm cần đi bác sĩ, hay bất cứ cơ quan công quyền nào ở Darwin là qua năn nỉ nhà tôi theo làm thông dịch. Một năm sau ngày đến Úc, tôi được bầu làm tổng thư ký Hội Người Việt Tự Do tại Darwin, sau đổi tên thành CĐNVTD Bắc Úc cho tới bây giờ. Tôi dính với các sinh hoạt của CĐ mình cho tới năm 2017 mới rút chân ra được. Suốt thời gian này, bất cứ tôi làm cái gì đều có sự giúp đỡ, yểm trợ khi công khai khi âm thầm của cô Tiên. Đứa con thứ hai của chúng tôi chào đời năm 1984 tại Darwin. Nhìn em cho con bú, tắm rửa cho con, nâng niu thằng nhỏ như vàng như ngọc, tôi nhớ lại những ngày hai đứa mới thương nhau, mỗi lần bên nhau là bàn chuyện mai này… tôi viết bài thơ tặng em. Một chiều lãng đãng ánh tà dươngEm kể anh nghe chuyện mộng thườngĐôi mắt em nhìn xao xuyến quáNhư sao lấp lánh một trời thương. Từ đó đời mình hết lẻ loiĐan tay qua phố bước chung đôiEm cười rạng rỡ như tiên nữTiên nữ của anh – cũng được rồi. Từ đó đời mình ươm ước mơTừng đêm anh cắn bút làm thơMỗi dòng ôm ấp ngàn thương nhớThương nhớ lớn theo nổi đợi chờ. Từ đó mình bàn chuyện lứa đôiMai này, mình có hai con thôiTrưởng nam, phần nó lo hương hỏaEm nó, cô Ba – có rượu mời. Từ đó mình bàn chuyện cưới nhauAnh giành chọn áo cưới cô dâuMàu vàng, hoàng hậu lòng anh đóEm nói : – Màu hồng, áo cô dâu! Từ lúc về làm vợ của anhÂm thầm mình kết mộng ngày xanhTrưởng nam bật khóc, cưng như ngọcĐứa kế trai luôn, quý tựa vàng. Nhiều đêm nằm gác tay lên tránAnh cám ơn Trời, cám ơn emBảy nổi ba chìm mình chẳng ngánVì em có anh, anh có em. Từ năm 2005 đến năm 2015, chúng tôi tổ chức những bữa ăn cứu trợ Thương Phế Binh còn sống khổ sở nơi quê mình bằng cách… tổ chức BBQ tại nhà tôi. Thức ăn do bà xã tôi và vài người bạn thân cùng chung sức nấu nướng, tôi bỏ tiền túi mua bia và nước giải khát. Ăn uống free. Tôi để 1 cái “Thùng Cứu trợ” trên bàn, ai cho bao nhiêu, tôi gởi về VN giúp anh em thương phế binh bấy nhiêu, theo tiêu chuẩn mỗi người 100 Úckim. Vì số người Việt ở Darwin rất khiêm nhường, chỉ có vài trăm người, nên lúc đầu chỉ được vài ngàn. Từ từ, bà con tin tưởng nên khi có dịp đi ngang nhà tôi là họ bỏ tiền vô thùng thơ, không đợi đến Bữa ăn Cứu trợ. Gõ máy tới đây, bỗng nhiên làm biếng… không muốn gõ máy nữa, vì đang nhớ cô Tiên, nhớ quá xá nhớ. Cô Tiên của tôi đã về trời sau khi đã cùng sống chung với cha con tôi 43 năm, 3 tháng, 27 ngày hạnh phúc. Em quy tiên sau một cơn bạo bệnh. Từ một người mạnh khỏe bình thường, đúng 5 tuần sau thành người thiên cổ. Trong những ngày cuối của cuộc sống nơi dương thế, khi thấy hai con đứng nhìn em, nước mắt lưng tròng, em cầm tay con lắc lắc, mỉm cười nói: “Chúa cũng chết, Phật cũng chết, thì Má cũng chết. Má đã trả xong món nợ ân tình với Ba con và các con thì Má đi. Con trai khóc… xấu lắm”. Con tôi quẹt nước mắt… miệng cười méo xẹo. Trong Hospice Hospital, nơi dành cho những bệnh nhân… “terminally ill”, mỗi ngày có y tá đến đánh răng và lau mình cho em. Có một lần em cám ơn họ“Thanks so much for keeping my body clean. I know it’s shutting down”. Cô y tá người Úc trợn mắt nhìn em, rưng rưng nước mắt. Sau này, cô nói với tôi“Tao chưa thấy ai sắp chết mà còn lịch sự và tỉnh táo như vợ mầy”. Khi biết mình sắp trả xong cái nghiệp ở dương gian, em nắm tay tôi dặn dò phải tổ chức tang lễ em như thế nào. Thỉnh vị tăng ni nào chủ trì tang lễ, xong phải hỏa thiêu và chỉ giữ tro cốt 100 ngày. Sau đó mang tro cốt em rải trên sông Parramatta, đoạn gần Opéra House ở Sydney, là nơi em thích đi dạo mỗi lần đi thăm con. Em nói nhỏ nhẹ như đang lo tang lễ của ai khác. Tôi chỉ biết im lặng gật đầu, ráng kềm cho nước mắt đừng chảy ra. Tôi đã làm đúng theo lời em dặn. Từ ngày cô Tiên về trời, cha con tôi đứt ruột đứt gan, tan nát trong lòng. Tôi đã sống những ngày như người chết chưa chôn. Câu chuyện kể của thật của Buu Nguyen Ngày 22/8/2024, khi ở tuổi 61, Trường Vũ - ca sĩ nổi tiếng với các ca khúc "Thân phận nghèo",... Giai điệu Bolero, với xuất xứ từ các thể loại nhạc như Rumba, Habanera, Valse và Tango, đã du nhập... Việc tặng bông trong các buổi đờn ca tài tử đã trở nên phổ biến trong những thập kỷ gần... Trong bài hát "Chiều Trên Phá Tam Giang" của nhạc sĩ Trần Thiện Thanh có câu: "Giờ này Thương Xá... Trong những thập niên 1950, 1960 và 1970, hình ảnh những chiếc taxi hai màu xanh - trắng (hoặc vàng... Những ai từng học ở trường Đại học Văn Khoa xưa, nay là trường Đại học Khoa học Xã hội... © 2020NhacXua.VN- Nhạc Xưa Thời Báo.

Tuyệt Phẩm Thơ Phổ Nhạc

Xem tất cả

Kho Tàng Lưu Trữ

Tác phẩm tiêu biểu

Xem tất cả
Featured Story

Diễm xưa

Tổng quan “Diễm xưa” là tình khúc tiền chiến diễm lệ và nổi tiếng nhất của Trịnh Công Sơn, sáng tác năm 1960 tại cố đô Huế. Tác phẩm lấy cảm hứng từ...

Bài viết nổi bật
Mới cập nhật

Bao Giờ

Tác phẩm mới được tổng hợp và đưa vào hệ thống.

Tác phẩm
Mới cập nhật

Ba Mươi Năm

Tác phẩm mới được cập nhật vào kho lưu trữ kỹ thuật số.

Tác phẩm

Góc Kiến Thức

Ngày này năm xưa

Tháng 5 năm 2014: Hiện tượng "Chắc ai đó sẽ về" làm khuynh đảo các bảng xếp hạng V-Pop, đồng thời mở ra cuộc tranh luận lớn nhất về vấn đề bản quyền trong lịch sử âm nhạc Việt Nam.

Bạn có biết?

Bức Tường là ban nhạc rock đầu tiên của Việt Nam có tour diễn xuyên Việt và từng được nhận Huân chương Lao động hạng Ba.

Kỷ lục Âm nhạc

  • 🏆 Nghệ sĩ nam có nhiều MV trăm triệu view nhất: Sơn Tùng M-TP
  • 🏆 Cống hiến nhiều nhất: Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn

Kết nối nghệ sĩ & Tác phẩm

NETWORK HIGHLIGHT

Làn Sóng Xanh Era

Khám phá mạng lưới kết nối giữa các nhạc sĩ và ca sĩ định hình âm nhạc đại chúng Việt Nam những năm 1990-2000.

Khám phá bản đồ
Bộ sưu tập

Giai Thoại & Câu Chuyện

Những câu chuyện thâm cung bí sử, hoàn cảnh sáng tác phía sau những bài hát bất hủ.

Bộ sưu tập

Thơ Phổ Nhạc

Sự giao thoa tuyệt đẹp giữa thi ca và âm nhạc. Những bài thơ được chắp cánh bởi giai điệu.

Vintage sheet music and instruments
Bộ sưu tập đặc biệt

Giai đoạn vàng trước 1975

Một góc nhìn sâu sắc về các trào lưu âm nhạc đa dạng đã nảy nở tại Sài Gòn.