Anh ngủ thêm đi anh, em phải dậy lấy chồng
Anh ngủ thêm đi - Nhạc: Hamlet Trương, Trình bày: Tâm Đoan Đang tải...Anh ngủ thêm đi anh, em phải dậy lấy chồng - Nhạc: Hamlet Trương, Trình bày: ...
Khám phá kho lưu trữ kỹ thuật số, nơi kết nối các thế hệ nghệ sĩ, câu chuyện đằng sau những bản nhạc bất hủ và mạng lưới tri thức âm nhạc sâu rộng.
Anh ngủ thêm đi - Nhạc: Hamlet Trương, Trình bày: Tâm Đoan Đang tải...Anh ngủ thêm đi anh, em phải dậy lấy chồng - Nhạc: Hamlet Trương, Trình bày: ...
Tổng quan Tên bài hát: Anh đứng đây là đâu Người sáng tác nhạc: Đang cập nhật Người viết lời: Đang cập nhật Năm phát hành: Đang cập nhật Nội dung n...
update_topic(strategic_intent='Creating an encyclopedia entry for Phương Vy based on the provided data, following specified formatting and content rul...
Nhạc thiếu nhi...
Trình duyệt của bạn không cho phép chơi nhạc. Ba mươi năm - Võ Tá Hân phổ nhạc, Khắc Dũng trình bày...
Tổng quan Bài hát "Bao Giờ" do nhạc sĩ Đỗ Bảo sáng tác phần nhạc. Phần lời và năm sáng tác: Đang cập nhật. Nội dung nghệ thuật "Bao Giờ" mang đặc t...
Ngày xưa ai lá ngọc cành vàngNgày xưa ai quyền quý cao sangEm chính em ngày xưa đóƯớc xây đời lên tột đỉnh nhân gian Đó là những lời hát quen thuộc của ca khúc mang tênGiọt Lệ Đài Trangcủa nhạc sĩ Châu Kỳ sáng tác vào khoảng cuối thập niên 1960. Có thể xem đây là một trong những bài hát nổi tiếng nhất của dòng nhạc phổ thông, đại chúng. Click để nghe Chế Linh hát Giọt Lệ Đài Trang trước năm 1975 Nhạc sĩ Châu Kỳ sinh năm 1923, là nhạc sĩ thuộc lớp thế hệ sáng tác từ thời kỳ tiền chiến, với bài hát đầu tay làTrở Vềđược viết khi ông mới được 18 tuổi. Sau này, khi từ Huế vào Sài Gòn sinh sống, ông chuyển sang viết nhạc đại chúng và thành công rực rỡ về mặt tài chính, đó là những ca khúcTúy Ca, Được Tin Em Lấy Chồng, Sao Chưa Thấy Hồi Âm, Khuya Nay Anh Đi Rồi,đặc biệt làGiọt Lệ Đài Trang: Ngày xưa ai mến nhạc yêu đànNgày xưa ai nghệ sĩ lang thangTôi chính tôi ngày xưa đóCũng đèo bồng mơ người đẹp lầu quan Hoàn cảnh sáng tác của ca khúc này có nhiều giai thoại hoàn toàn khác nhau, tuy nhiên theo chính lời nhạc sĩ Châu Kỳ kể trên Paris by Night 78 năm 2007 thì câu chuyện đó như sau: Lúc nhạc sĩ Châu Kỳ còn học phổ thông ở Huế, khoảng năm 1940, ông có biết một tiểu thư rất xinh đẹp con của ông quan Thượng Thư của triều đình, dòng dõi Tôn Thất, tên là Công Tằng Tôn Nữ Kim Anh. Khi đó Châu Kỳ chỉ vừa mới biết đàn mandoline tập tễnh, thậm chí không biết nốt nhạc. Một lần khi cô tiểu thư quyền quý đang ngồi đan áo trên ban công ở tư dinh lầu son gác tía, chàng học sinh đứng dưới đất, vừa nhìn lên người đẹp vừa đánh đàn tỏ tình. Người đẹp nhìn xuống và buông một câu phũ phàng: “Cái đồ xướng ca vô loài”, rồi quay vô nhà. Trong bài hát, nhạc sĩ đã biết về hoàn cảnh bẽ bàng đó: Rồi một hôm tôi gặp nàngÐem tiếng hát cung đànVới niềm yêu lai láng Nhưng than ôi quá bẽ bàngBao tiếng hát cung đànNgười chẳng màng còn chê chán.. Nhìn đời thấy lắm phũ phàngMượn tiếng hát cung đànQuên niềm đau dĩ vãng Hay đâu giông tố lan trànLên gác tía huy hoàngXiêu đổ theo nước mắt nàng… Sau lần đó, nhạc sĩ Châu Kỳ không gặp lại cô tiểu thư lần nào nữa. Ông theo nghiệp hát rồi trở thành một ca sĩ nổi tiếng của tân nhạc thập niên 1950 cùng với người bạn đời là ca sĩ đồng hương Mộc Lan. Khi vào sinh sống ở Sài Gòn, họ chia tay nhau, rồi Châu Kỳ đi bước nữa với cô nữ sinh Sài Gòn tên Kha Thị Đàng và sống với nhau cho đến lúc qua đời năm 2009. Về phần cô tiểu thư quyền quý Kim Anh, sau đó cô lấy chồng là sĩ quan người Pháp. Tròn 30 năm sau khi cuộc gặp gỡ bẽ bàng đó, nhạc sĩ Châu Kỳ mới gặp lại Kim Anh, khi mà dòng đời đã đổi thay, con tạo xoay vần, bao nhiêu biến cố đã xảy ra: Triều đình phong kiến sụp đổ năm 1945, chế độ quan quyền không còn, nên quan Thượng Thư cũng thành dân thường. Đến 1954 thì quân Pháp thất bại ở Đông Dương và phải rút về nước, chồng của cô Kim Anh cũng đi về với người vợ Pháp ở quê nhà, để lại cô tiểu thư năm xưa ở lại lang thang như một kẻ không nhà ở đất Sài Gòn phồn hoa. Hoàn cảnh đó được kể lại trong bài hát: Còn đâu, đâu lá ngọc cành vàngCòn đâu, đâu quyền quý cao sangEm hỡi em ngày xưa đóÐến bây giờ phiêu bạt giữa trần gian… Nhạc sĩ Châu Kỳ nói rằng lúc đó ông đang ngồi ở quán nước trên đường Nguyễn Trãi thì thấy trước mặt có một hình bóng quen thuộc đi ngang qua, ông chạy đến thì nhận ra đó đúng là người đẹp năm xưa. Sau khi hỏi thăm, ông biết được hoàn cảnh đáng thương của cô, đang phải ở nhờ nhà một người bạn ở Gia Định. Xót thương cho số phận bi thảm của cố nhân, ông lấy hết tiền trong túi ra để cho cô, rồi ngỏ ý chở cô về nhà. Cô tiểu thư quyền quý năm xưa, nay đã trở thành một người đàn bà khắc khổ, cầm tiền trong tay rồi bật khóc: Gặp tôi vẫn tiếng nhạc cung đànÐời tôi vẫn nghệ sĩ thênh thangEm, em nhớ xưa rồi em khócTôi thoáng buồn thương giòng lệ đài trang… Sau lần gặp lại này, nhạc sĩ Châu Kỳ đem niềm xót thương đó để viết thành bài hátGiọt Lệ Đài Trang. Câu chuyện được nhạc sĩ Châu Kỳ kể năm 2007 trên Paris by Night. Tuy nhiên chỉ trước đó 1 năm, trong đêm nhạc tổ chức ở trong nước, nhạc sĩ Châu Kỳ lại kể một câu chuyện khác đằng sau ca khúcGiọt Lệ Đài Trangnày. Ông nói rằng người con gái được nhắc tới trong bài tên là Đoàn Thị Sum ở Nha Trang, mới 16 tuổi nhưng rất mê tiếng hát lẫn tiếng đàn của Châu Kỳ, và mê luôn cả người. Cô Sum là con quan tri huyện, gia đình danh giá nhất nhì Nha Trang thời bấy giờ. Khi đoàn hát của Châu Kỳ đến Nha Trang diễn, họ đã gặp nhau, rồi khi đoàn hát dọn đi, cô Sum đã trốn nhà theo đoàn hát nhưng bị gia đình phát hiện, bắt lại và nhốt trong nhà. Quá uất ức, cô đã nghĩ quẫn… Sau này, vợ chồng nhạc sĩ Châu Kỳ đi Nha Trang có ghé thăm mộ của cô Sum. Cảm thương khi nhớ lại cuộc tình xưa, ông đã viếtGiọt Lệ Đài Trang. Sau này, bà Kha Thị Đàng (vợ nhạc sĩ Châu Kỳ) kể lại rằng ông không chỉ sáng tác cho cô Sum bàiGiọt Lệ Đài Trang,mà còn cóTúy Ca, Khuya Nay Anh Đi Rồi… Tuy nhiên khi xem kỹ lại thì thấy giai thoại về cô Công Tằng Tôn Nữ Kim Anh có vẻ khớp với nội dung bài hát hơn. Ca khúc được ca sĩ Chế Linh thu thanh lần đầu trong dĩa hát Việt Nam và được yêu thích trong suốt nửa thế kỷ qua. Bài: Đông KhaBản quyền bài viết của nhacxua.vn Nhạc sĩ Châu Kỳ là một trong những nhạc sĩ tiêu biểu của dòng nhạc vàng miền Nam với rất... Ca khúc Con Đường Xưa Em Đi của nhạc sĩ Châu Kỳ và Hồ Đình Phương là một trong những bài... Nhạc sĩ Châu Kỳ qua đời vào một ngày đầu xuân năm 2008 ở tuổi 85. Trong cuộc đời và... Dải đất hẹp của miền Trung đất Việt vốn là vùng khô cằn sỏi đá. Đã trải qua hằng bao... Nhạc sĩ Châu Kỳ là một trong những nhạc sĩ tiêu biểu của dòng nhạc vàng miền Nam với rất... Những người nghệ sĩ nói chung và nhạc sĩ nói riêng, luôn được xem là những người sống phóng túng,... © 2020NhacXua.VN- Nhạc Xưa Thời Báo.
“Ai Về Sông Tương” là bài hát nổi tiếng nhất của Thông Đạt, một bút danh khác của nhạc sĩ Văn Giảng. Bài hát được sáng tác năm 1949 ở Huế và được nhạc sĩ Mạnh Phát hát lần đầu trên đài Pháp Á. Lúc bấy giờ, Mạnh Phát là một trong những ca sĩ hát tân nhạc nổi tiếng nhất thập niên 1940 – 1950. Click để nghe Mạnh Phát hát Ai Về Sông Tương, bản thu âm thập niên 1950 trong dĩa Phillips Hơn 70 năm trôi qua, nhưngAi Về Sông Tươngvẫn được nhiều thế hệ yêu thích. Có lẽ là bởi lời hát tha thiết, êm đềm như lời tình tự mà những người yêu nhau muốn gửi đến cho nhau: Xa muôn trùng lưu luyến nhớ emMơ hoài hình bóng không quênHương tình mộng say dịu êm… Click để nghe Hà Thanh hát Ai Về Sông Tương trước 1975 Nhạc sĩ Văn Giảng vốn sinh trưởng và làm việc ở Huế trước khi chuyển vào Saigon sau sự kiện Mậu Thân 1968. Nơi ông sống có dòng Hương Giang hiền hòa thơ mộng. Tuy nhiên bài hát nổi tiếng nhất của ông lại là“Ai Về Sông Tương”chứ không phải là“Ai Về Sông Hương”. Vì sao lại như vậy? Khi tìm hiểu về hoàn cảnh sáng tác của bài hát nay, người viết tình cờ bắt gặp bài viết của một học trò cũ của nhạc sĩ Văn Giảng tại Huế. Người này cho biết là khi nhạc sĩ Văn Giảng đứng lớp giảng dạy, ông thường kể về các giai thoại âm nhạc. Một lần, nhạc sĩ cao hứng kể về hoàn cảnh sáng tác của ca khúc “Ai Về Sông Tương”.Câu chuyện như sau: Thời trẻ, Văn Giảng ở trong Thành Nội và yêu một cô gái bên làng Kim Long. Làng này nằm bên bờ sông Hương, nổi tiếng có nhiều cô gái đẹp được các đời vua Nguyễn tuyển chọn vào cung. Đời vua Thành Thái còn có câu ca dao: Kim Long có gái mỹ miềuTrẫm thương trẫm nhớ trẫm liều trẫm đi Ngay cả nhà vua mà còn si mê như vậy, huống hồ là anh chàng mới lớn Ngô Văn Giảng. Tuy nhiên, duyên không thành vì gia đình nho phong của cô gái không có cái nhìn thiện cảm với những người nghệ sĩ trong ngành âm nhạc, vốn bị người đời gán cho cái tội “xướng ca”. Vậy là họ chia tay và cô gái đi lấy chồng. Nhiều năm sau, nhạc sĩ Văn Giảng vào rạp cine Tân Tân ở gần cầu Trường Tiền bên bờ Bắc Sông Hương để coi phim “Bé Nhà Trời” (Les enfants du paradis). Bỗng ở hàng ghế trước mặt, ông thấy một cô gái tóc dài. Tuy nhìn không rõ mặt nhưng từ dáng dấp đến hương tóc thoang thoảng mùi hoa Ngâu của người thiếu nữ đã làm sống lại hình ảnh người tình Kim Long khi xưa. Nhạc sĩ Văn Giảng bị xúc động mạnh đến nỗi không thể ngồi lại lâu hơn trong rạp chiếu bóng để xem phim. Ông vội vàng ra khỏi rạp, rồi cỡi chiếc xe đạp Dura Mercier của mình chạy xe dọc theo bờ sông Hương đến cửa Thượng Tứ để về nhà ở Thành Nội. Trong thoáng chốc, dòng sông Hương hiện ra như dòng sông Tương chia biệt trong truyện tình cổ thư Trung Quốc. Về đến nhà, nhạc sĩ thả ngay chiếc xe đạp ngoài hiên, rồi vội vã vào nhà lấy giấy bút, hoàn thành bản nhạc bằng tất cả những hoài niệm và xúc cảm chấn động dị thường như thể có phép màu. Bản nhạcAi Về Sông Tươngđược nhạc sĩ cấp tốc hoàn thành chỉ trong vòng mười lăm phút! Với bài hát này, nhạc sĩ Văn Giảng ký tên là Thông Đạt, ghép từ pháp danh Nguyên Thông của ông và Tâm Đạt của người vợ, rồi gởi đến đài phát thanh toàn quốc là đài Pháp Á. Bài hát với tiếng hát Mạnh Phát đã được giới sinh viên, học sinh đón nhận nồng nhiệt. Khi nhạc sĩ Văn Giảng kể xong câu chuyện về hoàn cảnh sáng tác này của bàiAi Về Sông Tương, có một học trò xung phong hỏi: “Thưa Thầy, tại sao mình có sông Hương, mình cũng có Hương giang đầu, Hương giang vỹ mà Thầy lại phải vay mượn sông Tương của Tàu như rứa ạ?” Nghe xong thì nhạc sĩ Văn Giảng cắt nghĩa là vì sông Hương chưa có câu chuyện tình nào nổi tiếng trong tình sử như sông Tiêu Tương. Dòng Tương Giang là một con sông nổi tiếng của Trung Hoa, bắt nguồn từ núi Duyên Hải, chảy qua Hồ Nam dài hơn hai ngàn dặm. Ý nghĩa của tựa đề“Ai Về Sông Tương”là bắt nguồn từ cảm hứng của bốn câu thơ tình sử, trích từ khúc Trường Tương Tư của nàng Lương Ý, đời Hậu Chu. Đời Hậu Chu (907- 955) thời Ngũ Đại, ở vùng sông Tiêu Tương tỉnh Hồ Nam có nàng Lương Ý vừa đẹp lại hay chữ. Nhà nàng có chàng Lý Sinh hàn sĩ phong lưu tuấn tú ở trọ. Có lần hai người gặp nhau lúc đi ngắm trăng, trai tài gái sắc tâm đầu ý hợp nên sau đó thường hay lui tới và đem lòng yêu nhau. Cha của Lương Ý là Lương Công hay chuyện, rất tức giận bèn đuổi Lý Sinh đi. Ý Nương đau đớn, thương nhớ rồi đổ bệnh. Nàng làm bài Trường Tương Tư để gởi gắm niềm tâm sự của mình. Lý Sinh nhận được bài thơ cảm xót vô cùng, chàng nhờ người mai mối đến năn nỉ với Lương Công xin hỏi cưới Ý Nương. Ban đầu Lương Công còn dùng dằng nhưng sau đọc được bài thơ này của con gái mình, ông cảm động mà chấp nhận cho hai người nên duyên. Bốn câu thơ trích trong bài Trường Tương Tư mà nhạc sĩ Văn Giảng lấy cảm hứng viết thànhAi Về Sông Tương, đó là: Ngã tại tương giang đầu,Quân tại tương giang vĩ.Tương tư bất tương kiến,Đồng ẩm tương giang thủy. (Đầu sông Tương em đợiCuối sông Tương chàng mongNhớ nhau mà chẳng gặpCùng uống nước chung dòng) Thông tin bên trên được tác giả Trần Kim Đoàn, học trò cũ của nhạc sĩ Văn Giảng viết. Ông còn cho biết thêm, khi gặp lại Văn Giảng năm 1963, lúc này nhạc sĩ vẫn còn sinh sống ở Huế, lúc 2 thầy trò đang đi đò Thừa Phủ ra giữa sông Hương, học trò đã hỏi thầy Văn Giảng để bắt chuyện: “Thưa Thầy, đã có ai về sông Tương chưa ạ?” Nhạc sĩ cười đáp lại: “Đối với tôi thì sông Tương là sông Hương. Tôi chỉ mong cuối đời về lại con sông này…” Vậy là nhạc sĩ Văn Giảng cũng thừa nhận rằng sông Tương với sông Hương, với ông tuy 2 mà là 1. Mượn sông Tương để nói chuyện sông Hương. Ông chỉ mong cuối đời về lại được con sông này, nhưng ước nguyện không thành. Ông định cư ở Úc từ khoảng đầu thập niên 1980 rồi mất tại đây năm 2013, hưởng thọ 89 tuổi. Click để nghe Hùng Cường hát Ai Về Sông Tương trước 1975 Liên quan tới ca khúcAi Về Sông Tươngcòn có một câu chuyện khá thú vị do nhạc sĩ Lê Dinh – một người bạn với nhạc sĩ Văn Giảng từng nhiều năm cùng làm việc chung ở đài phát thanh Sài Gòn – kể lại: Thập niên 1940 – 1950 ở Huế, ông Tăng Duyệt khi đó là giám đốc nhà Xuất bản Tinh Hoa Huế (Khác nhà xuất bản Tinh Hoa Miền Nam ở Saigon do nhạc sĩ Lê Mộng Bảo làm giám đốc). Nơi in ấn và phát hành số lượng nhạc phẩm khá ít ỏi của thời đó. Là nhạc sĩ, Văn Giảng có mối quan hệ khá thân thiết với ông Tăng Duyệt. Một số hành khúc của nhạc sĩ Văn Giảng đều do nhà xuất bản Tinh Hoa Huế của ông Tăng Duyệt ấn hành. Một hôm trong lúc vui miệng, ông Tăng Duyệt có ngụ ý bảo rằng nhạc sĩ Văn Giảng chỉ viết được những bài hùng ca thôi, những bản tình ca không phải sở trường của Văn Giảng. Nhạc sĩ Văn Giảng nghe xong không nói gì, chỉ về nhà và âm thầm lấy giấy bút viết bài“Ai Về Sông Tương”, không ghi tên tác giả là Văn Giảng như mọi khi mà đề tên tác giả là Thông Đạt – một bút hiệu mới toanh trong làng tân nhạc Việt Nam thời đó. Bản“Ai Về Sông Tương”được tác giả Thông Đạt gửi đến các đài phát thanh ở Hà Nội, Huế và Saigon. Bản nhạc được phát trên đài phát thanh khắp cả nước, rồi nhanh chóng trở nên được yêu thích bởi những ca từ đậm chất thơ, mềm mại và dịu êm: Ai có về bên bến sông TươngNhắn người duyên dáng tôi thương, bao ngày ôm mối tơ vươngTháng với ngày mờ nhuốm đau thươngTâm hồn mơ bóng em luôn, mong vài lời em ngập hương Click để nghe Tuấn Ngọc hát Ai Về Sông Tương Bài hát đã tạo được một hiện tượng thời đó, rất nhiều khán giả yêu tân nhạc muốn tìm nhạc bản để tập đàn, tập hát. Ông Tăng Duyệt là giám đốc nhà xuất bản Tinh Hoa, dĩ nhiên là rất quan tâm đến việc đó. Một lần ông gặp nhạc sĩ Văn Giảng, bèn để hỏi thăm rằng có biết nhạc sĩ Thông Đạt là ai không để ông thương lượng mua bản quyền xuất bản nhạc phẩmAi Về Sông Tương.Nghe vậy, nhạc sĩ Văn Giảng tảng lờ như không biết Thông Đạt là ai. Một hôm, hai người bạn của Văn Giảng là nhạc sĩ Đỗ Kim Bảng và nhà văn Lữ Hồ đến nhà Văn Giảng chơi, tình cờ nhìn thấy bản thảo bài“Ai Về Sông Tương”trong xấp nhạc trên bàn, nên bèn nói cho ông Tăng Duyệt biết. Ông này mới lái xe ngay tới nhà Văn Giảng, và vài ngày sau đó, giới ngưỡng mộ tân nhạc mới có một bản nhạc tờ được phát hành của ca khúcAi Về Sông Tươngtrong tay, để mà ngân nga cho đỡ thương nhớ những khi trái tim rung động vì một bóng hình nào đó: Thu nay về vương áng thê lươngVắng người duyên dáng tôi thương, mối tình tôi vẫn cô đơnXa muôn trùng lưu luyến nhớ emMơ hoài hình bóng không quên, hương tình mộng say dịu êm Chính nhờ những lời ca giàu chất thơ, bay bổng, lãng mạn này màAi Về Sông Tươngngay từ khi ra mắt đã được thính giả Đài phát thanh Pháp Á bình chọn là bài hát hay nhất năm 1949. Dù được sáng tác khá muộn, nhưngAi Về Sông Tươngthường được xếp vào dòng nhạc tiền chiến, bởi chất nhạc bàng bạc, mang hơi hướm cổ phong với những mùa thu lê thê, sầu mộng rất đặc trưng: Bao ngày qua, Thu lại về mang sầu tớiNàng say tình mới hồn tôi tơi bờinhìn hoa cười đón mừng vui duyên nàngTình thơ ngây từ đây nát tan Hoa ơi! Thôi ngưng cười đùa lả lơiCùng tôi buồn đắm đừng vui chi tìnhĐầy bao ngày thắm dày xéo tâm hồn nàyLệ sầu hoen ý thu Ai có về bên bến sông TươngNhắn người duyên dáng tôi thương, sao đành nỡ dứt tơ vươngÔi duyên hờ từ nay bơ vơDây tình tôi nắn cung tơ, rút lòng sầu trách người mơ Cái hay nhất của nhạc phẩmAi Về Sông Tươnglà dù viết cho “mối tình thơ ngây nát tan”nhưng người nghe không hề cảm thấy nặng nề, bi luỵ, thê thiết mà chỉ thấy một nỗi buồn thanh tao, chừng mực phảng phất trên nền nhạc du dương, nhẹ nhàng và sang trọng. Bài: Đông Kha (nhacxua.vn) Nhạc sĩ Văn Giảng là một trong những nhạc sĩ thuộc thế hệ nhạc sĩ tiên phong của tân nhạc... Nhạc sĩ Văn Giảng sinh ngày 12 tháng 5 năm 1924 tại Huế trong một gia đình trung lưu. Thừa... Tác giả "Ai về sông Tương", nhạc sĩ Văn Giảng, vừa qua đời ở Footscray, thành phố Melbourne, bang Victoria, Úc vào ngày... Văn Giảng (1924 - ) là một nhạc sĩ Việt Nam có những sáng tác thuộc nhiều thể loại. Ông... © 2020NhacXua.VN- Nhạc Xưa Thời Báo.
Tuyệt phẩm Bolero vàng phổ nhạc từ bài thơ tiền chiến u uất của Nguyễn Bính viết về cái chết của cô gái trẻ chốn đồng quê lạnh giá dưới trời đông lạnh lẽo. Giai điệu Bolero chậm buồn rụng rời đan xen tiếng gió rú thê lương khắc họa sâu sắc nỗi buồn thương của phận hồng nhan bạc mệnh, khẳng định tinh thần nhân đạo sẻ chia nỗi đau trần thế của người nghệ sĩ.
Nhạc sĩ Anh Việt Thu viết ca khúc trong một đêm dài thao thức ngắm nhìn bầu trời sao lấp lánh chốn ngoại ô tĩnh mịch. Hình ảnh những vì sao lấp lánh rồi tắt lịm bên chân trời gợi nhắc về những người bạn, người lính ra đi không trở về, khơi nguồn cảm hứng vô tận để ông viết nên khúc ca hoài niệm đầy nhân văn thiêng liêng này.
Vào năm 1993, có một ca sĩ bỗng vụt sáng trở thành ngôi sao ăn khách ở hải ngoại, đó là Mạnh Đình với CD Chuyện Giàn Thiên Lý do trung tâm Asia thực hiện. Hai bài hát làm nên tên tuổi của Mạnh Đình lúc đó là Hồi Chuông Xóm Đạo và Chuyện Giàn Thiên Lý, cùng sáng tác của Anh Bằng. Thời điểm đó, nhạc sĩ Anh Bằng đã sắp bước vào tuổi thất thập, thính giác đã kém đi nhiều, nhưng sức sáng tác thì không có dấu hiệu giảm sút, vẫn có nhiều bài nhạc vàng ăn khách được ông sáng tác trong thời gian này và cả sau đó, như làHồi Chuông Xóm Đạo, Chuyện Hoa Sim, Chuyện Tình Hoa Trắng, và đặc biệt làChuyện Giàn Thiên Lý, phổ từ thơ của Yên Thao. Click để xem video Chuyện Giàn Thiên Lý – ca khúc đã làm nên tên tuổi Mạnh Đình Bài hátChuyện Giàn Thiên Lýđược phổ nhạc từ bài thơ“Nhà Tôi”của thi sĩ Yên Thao, sáng tác từ thời chống Pháp năm 1949. Bài thơ rất được yêu thích vào thời điểm ra đời, nhưng sau đó đã bị vùi quên trong lớp bụi thời gian của gần nửa thế kỷ, cho đến khi được nhạc sĩ Anh Bằng làm sống trở lại bài thơ bằng nét nhạc tài hoa của ông. Nhà thơ Yên Thao tên thật là Nguyễn Bảo Thịnh, sinh ngày 21 tháng 1 năm 1927, quê Đông Ngạc, huyện Từ Liêm, Hà Nội. Sau khi người Pháp tái chiếm Đông Dương năm 1946, ông tham gia chống Pháp. Thời gian này ông sáng tác nhiều bài thơ lãng mạn được nhiều người biết đến. Nguyên tác bài thơNhà Tôi, thi sĩ Yên Thao như sau: Tôi đứng bên này sôngBên kia vùng địch đóngLàng tôi đấy xạm đen màu tiết đọng Tre cau buồn tóc rũ ướt mơ sươngMàu trăng vôi lồm lộp mấy khung tườngNếp đình xưa người hỡi đau gì không? Tôi là anh lính ch.iếnRời quê hương từ dạo máu khơi dòngBuông tay gầu vui lại thuở bình Mông Ghì nấc s.ú.n.g nhớ ơi ngày chiến thắngChân chưa vẹt trên nẻo đường vạn dặmÁo nào phai không sót chút màu xưa Ðêm hôm nay tôi trở về lành lạnhSông sâu buồn lấp lánh sao lưa thưaTôi có người vợ trẻ đẹp như thơTuổi chớm đôi mươi cưới buổi dâng cờMá trắng mịn thơm thơm mùa lúa chín Ai đã qua mà chẳng từng bịn rịnRời yêu thương nào đã mấy ai vui?Em lặng buồn nhìn với lúc chia phôiTôi mạnh bước mà nghe hồn nhỏ lệ Tôi còn người mẹTóc đã ngả màu bôngTuổi già non thế kỷ Lưng gầy uốn nặng kiếp long đongNắng mưa từ buổi tang chồngTơ tằm rút mãi cho lòng héo hon Ôi xa rồi! Mẹ tôiLệ nhòa mi mắt trông con phương trời Có từng chợt tỉnh đêm vơiNghe giòn tiếng s.ú.n.g nhắc lời chia ly:Mẹ ơi! Con mẹ tìm điBao giờ hết giặc con về mẹ vui Ðêm nay trời lành lạnhSông sâu mừng lấp lánh sao lưa thưaỐng quần nâu đã vá mụn giang hồChắc tay s.ú.n.g tôi mơ về Nguyễn Huệ Làng tôi kia bên trại thù quạnh quẽTrông im lìm như một nắm mồ maCó còn không! Em hỡi mẹ tôi già?Những người thân yêu khóc buổi tôi xa Tôi là anh lính ch.iếnTheo quân về giải phóng quê hươngMái đầu xanh bụi viễn phươngBước chân đất đạp xiêu đồn luỹ địch Này, anh đồng chí!Người bạn pháo binhÐã đến giờ chưa nhỉ?Mà tôi nghe như trại giặc tan tành Anh rót cho khéo nhé!Không lại nhầm nhà tôiNhà tôi ở cuối thôn ĐồiCó giàn thiên lýCó người tôi thương Về hoàn cảnh sáng tác bài thơ này, có một tài liệu ghi lại lời thi sĩ Yên Thao như sau: “Năm 1949, tôi công tác văn nghệ tại Quân đội liên khu 3, theo một đơn vị đánh vào một đồn binh Pháp đồn trú cạnh sông ở một làng đồi. Trong lúc đợi chờ giờ khai hỏa, tôi trò chuyện với anh em và được biết ở đơn vị này có một cậu quê ở ngay làng đồi đó. Phía bên ấy đang còn mẹ và vợ. Cậu ta lấy vợ được chừng tháng thì khói binh ập đến. Chàng trai lên đường đi kháng ᴄhιến, chia tay người vợ trẻ. Trong câu chuyện, mấy lần cậu ta nhắc tới giàn thiên lý của nhà mình. Tôi rất thích câu chuyện và viết nên bài thơ “Nhà Tôi”. Có lẽ người viết đã hòa nhập được với người kể nên bài thơ được đông đảo anh em lính thuộc và nhanh chóng được phổ biến cả vào Nam. Không chỉ lính xuất thân từ nông thôn, cả những lính thành phố cũng tìm thấy thấp thoáng trong bài thơ những nét hợp với mình. Rất nhiều người nghĩ đó là tôi viết về tôi, bà xã tôi cũng nghĩ thế.” Khi nhạc sĩ Anh Bằng dựa vào bài thơ này để viết thành bài hátChuyện Giàn Thiên Lý,ông đã không sử dụng nguyên vẹn lời thơ của Yên Thao mà chỉ phỏng thơ. Cách dùng ý thơ và thêm lời nhạc một cách uyển chuyển, tự nhiên, đã thể hiện được cái tài đặt lời nhạc dựa theo thơ của nhạc sĩ Anh Bằng, làm cho bài hát trở nên mượt mà, tự nhiên và đầy cảm xúc, chiếm được cảm tình của người nghe nhạc:Mẹ tôi tóc sương từng đêm nghe đạn pháo rơi thật buồn… Lời nhạc bài Chuyện Giàn Thiên Lý: Tôi đứng bên này sông, bên kia vùng lửa khói.Làng tôi đây, bao năm dài chinh chiến từng lũy tre muộn phiền.Tôi có người vợ ngoan, đẹp như trăng mười sáu, cưới rồi đành xa nhau. Nhớ đôi môi nàng hiền, xinh xinh màu nắng.Má nàng hồng thơm mùi thơm lúa non. Ai ra đi mà không từng bịn rịnXa người yêu mà dễ mấy ai vuiEm nhìn theo bằng nước mắt chia phôiTôi mạnh bước mà nghe hồn nhỏ lệ Này anh lính ᴄhιến, người bạn pháo binh.Mẹ tôi tóc sương từng đêm nghe đạn pháo rơi thật buồn.Anh rót cho khéo nhé, kẻo lầm vào nhà tôi.Nhà tôi ở cuối chân đồi,có giàn thiên lý, có người tôi thương Việc nhạc sĩ Anh Bằng lược bỏ nhiều nội dung nguyên tác của bài thơ, làm cho bài hát ít mang tính kể chuyện như toàn bài thơ của Yên Thao, mà chủ yếu nhấn mạnh vào cảm xúc, tâm trạng của người trai thời chiến khi xa mẹ già và người vợ trẻ: Ai ra đi mà không từng bịn rịnXa người yêu mà dễ mấy ai vuiEm nhìn theo bằng nước mắt chia phôiTôi mạnh bước mà nghe hồn nhỏ lệ Bài hát này rất hợp với giọng hát giàu tình cảm của ca sĩ Mạnh Đình, cùng với phần hòa âm đỉnh cao của nhạc sĩ Trúc Hồ, đưa tên tuổi của cả ca sĩ lẫn bài hát lên đỉnh cao của làng nhạc hải ngoại hồi thập niên 1990. Trước đó, bài hát cũng được cố danh ca Duy Khánh trình bày. Sau sự thành công ngoài mong đợi củaChuyện Giàn Thiên Lý, vài năm sau đó, khoảng năm 1995-1996, nhạc sĩ Anh Bằng tiếp tục viết bàiChuyện Giàn Thiên Lý 2, cũng dựa vào ý thơ của bài“Nhà Tôi”. Nhạc sĩ đã sử dụng thêm những câu thơ mà ông không dùng ở bài hát đầu tiên, kể thêm một câu chuyện là diễn biến tiếp theo của bài 1, bắt đầu bằng câu hát:Đã nhiều năm qua rồi… Bài hát này cũng được giao cho ca sĩ Mạnh Đình hát và cũng được yêu thích, nhưng không đạt được thành công vang dội như bàiChuyện Giàn Thiên Lýđầu tiên. Click để nghe Chuyện Giàn Thiên Lý 2 Lời bài hátChuyện Giàn Thiên Lý 2như sau: Đã nhiều năm qua rồiTôi là người lính chiến quên thân mình giữ làng quêNhững chiều rừng hành quân thương về người em gái chờ mãi tôi chưa lần về Nàng yêu loài hoa tên là Thiên LýNên lấy phải chồng đi xaNhớ trước hiên nhà tranhCó giàn hoa màu trắngEm cười nói xinh xinh Đêm nay bước chân tôi trở lại làng xưaSao lấp lánh trên sông lành lạnh về khuyaNhìn phía bên kia bờĐó làng tôi mờ mờ tựa như cánh đồng hoang Sau bao nhớ nhung mong gặp lại người thươngNhưng khói súпq bay bay mịt mù quê hươngChẳng biết em bây giờ có còn ôm mẹ già ủi an như ngày xưa Chiến trường ôi điêu tànNgôi đền thờ rách nátThôi không còn những hồi chuông Mái nhà nghèo tôi thươngBên một giàn Thiên LýBuồn lắm biết đâu mà tìm Người yêu còn khôngHay là đã ᴄhếƭ trong khói lửa ngập quê hươngThức trắng đêm hỏa châuKhiến lòng thêm sầu nhớÔi giàn Thiên Lý đâu? Bài: Đông KhaBản quyền bài viết của nhacxua.vn Nhạc sĩ Anh Bằng là một trong những tên tuổi lớn nhất của nền tân nhạc Việt Nam với rất... Nàng Áo Tím là một ca khúc của nhạc sĩ Anh Bằng và không phải là quen thuộc với nhiều... Lúc sinh thời, cố nhạc sĩ Lê Dinh từng nói về người bạn thân thiết của mình là nhạc sĩ... Khúc Thụy Du là một trong những ca khúc nổi tiếng của nhạc sĩ Anh Bằng sau năm 1975, được... Trong vòng một trăm năm qua, hiếm có dân tộc nào phải chịu cảnh ly hương nhiều như người Việt.... Trước khi 3 nhạc sĩ Lê Dinh, Minh Kỳ và Anh Bằng hợp tác với nhau thành nhóm sáng tác... © 2020NhacXua.VN- Nhạc Xưa Thời Báo.
Được viết lời Việt đầu thập niên 1970 từ nguyên tác nhạc Hoa "Thiên ngôn vạn ngữ" của Đặng Lệ Quân. Ca khúc gắn liền với bộ phim chuyển thể từ tiểu thuyết Quỳnh Dao đầy trắc trở. Lời Việt của Nam Lộc buồn man mác gửi gắm nỗi sầu chia ly đôi lứa bên những chiếc lá vàng rơi mùa thu, gắn liền với giọng hát khàn đặc trưng đầy ám ảnh của danh ca Kim Anh.
Tổng quan “Diễm xưa” là tình khúc tiền chiến diễm lệ và nổi tiếng nhất của Trịnh Công Sơn, sáng tác năm 1960 tại cố đô Huế. Tác phẩm lấy cảm hứng từ...
Tác phẩm mới được tổng hợp và đưa vào hệ thống.
Tác phẩm mới được cập nhật vào kho lưu trữ kỹ thuật số.
Tháng 5 năm 2014: Hiện tượng "Chắc ai đó sẽ về" làm khuynh đảo các bảng xếp hạng V-Pop, đồng thời mở ra cuộc tranh luận lớn nhất về vấn đề bản quyền trong lịch sử âm nhạc Việt Nam.
Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại gia tài âm nhạc đồ sộ với hơn 600 ca khúc, trong đó phần lớn là các bản tình ca buồn.
Khám phá mạng lưới kết nối giữa các nhạc sĩ và ca sĩ định hình âm nhạc đại chúng Việt Nam những năm 1990-2000.
Khám phá bản đồNhững câu chuyện thâm cung bí sử, hoàn cảnh sáng tác phía sau những bài hát bất hủ.
Sự giao thoa tuyệt đẹp giữa thi ca và âm nhạc. Những bài thơ được chắp cánh bởi giai điệu.
Một góc nhìn sâu sắc về các trào lưu âm nhạc đa dạng đã nảy nở tại Sài Gòn.