Những mảnh ghép tri thức âm nhạc

Khám phá kho lưu trữ kỹ thuật số, nơi kết nối các thế hệ nghệ sĩ, câu chuyện đằng sau những bản nhạc bất hủ và mạng lưới tri thức âm nhạc sâu rộng.

Ngẫu nhiên

Những Mảnh Ghép & Giai Thoại

Xem tất cả
Thông tin Bài hát

Bao Giờ

Tổng quan Bài hát "Bao Giờ" do nhạc sĩ Đỗ Bảo sáng tác phần nhạc. Phần lời và năm sáng tác: Đang cập nhật. Nội dung nghệ thuật "Bao Giờ" mang đặc t...

Tiểu sử Nghệ sĩ

Phương Vy

update_topic(strategic_intent='Creating an encyclopedia entry for Phương Vy based on the provided data, following specified formatting and content rul...

Giai thoại Bài hát

Ba Mươi Năm

Trình duyệt của bạn không cho phép chơi nhạc. Ba mươi năm - Võ Tá Hân phổ nhạc, Khắc Dũng trình bày...

Tiểu sử Nghệ sĩ

Phượng Hằng

update_topic(strategic_intent='Creating an encyclopedia entry for Phượng Hằng based on the provided data, adhering to all specified formatting and con...

Giai Thoại Cuốn Hút

Xem tất cả

Dạ Lai Hương

Trong gia tài âm nhạc có số lượng rất đồ sộ của nhạc sĩ Phạm Duy, có một bài hát mang tên làDạ Lai Hương, dù không quá nổi tiếng so với nhiều ca khúc khác, nhưng luôn được đánh giá cao về nhạc thuật, về tính thẩm mỹ của ca từ. Click để nghe Thái Thanh hát bài Dạ Lai Hương Trong một bài viết, ca sĩ Quỳnh Giao nói rằng đây là bài hát mà các đồng nghiệp khó tính của nhạc sĩ Phạm Duy như Vũ Thành, Hoàng Trọng đều ngợi ca và trân trọng viết hoà âm thật đẹp: Ðêm thơm như một dòng sữaLũ chúng em êm đềm rủ nhau ra trước nhàHiu hiu hương từ ngàn xaBỗng quay về dạt dào trên hè ngoài trời khuya… Bài hátDạ Lai Hươngnói về loài hoa dạ lai hương, còn được gọi là dạ lý hương, có mùi hương rất đặc trưng vào ban đêm có thể làm thơm nức cả một vùng không gian:“đêm thơm như một dòng sữa”.Nhạc sĩ Phạm Duy nói rằng khi viết câu này, ông đã nhớ lại những ngày cùng mẹ sống ở Hưng Yên trước đó hơn 10 năm, ở trước nhà có hàng cây hoa sữa rất lớn, thơm nồng cả dãy phố, và hoa sữa cũng có mùi hương gần giống như dạ lý. BàiDạ Lai Hươngđược nhạc sĩ Phạm Duy sáng tác năm 1953 tại Huế. Khi này ông đã dẫn vợ con vào định cư ở Sài Gòn được một năm, nhưng rồi lại ra Huế làm việc một thời gian tương đối lâu theo lời mời của người bạn là Nguyễn Đức Quỳnh. Ông kể lại trong hồi ký: “Tôi có đủ thời giờ để biết Huế hơn xưa, biết yêu những con đường thật nhỏ và yên tĩnh (yêu nhất con đường mang tên Âm Hồn) dẫn dẫn tôi đi vào những căn nhà êm đềm và gặp cuộc sống rất thầm lặng của những người tôi đã vô phép gọi là của xứ dân gầy. …Dù là kẻ rất ham mê những thú vui nhục dục, tôi cũng biết đi tìm con người và cảnh vật của Huế để thấy được khía cạnh thanh tao của những ngày ở nơi cố đô này. Lững thững đi chơi một mình nơi chùa Thiên Mụ hay tại những lăng tẩm vô cùng thầm lặng. Làm quen với những người nếu không là Công Tằng Tôn Nữ thì cũng thuộc thành phần cao trong xã hội, có lời ăn tiếng nói nhỏ nhẹ duyên dáng dễ thương, tôi có nhiều cảm hứng để soạn bài Dạ Lai Hương”. Trong lời đề tựa cho bài hát, nhạc sĩ Phạm Duy ghi:“Tặng Thu Vân, Dạ Thảo”. Thu Vân và Dạ Thảo cũng chính là“lũ chúng em êm đềm rủ nhau ra trước nhà”trong đoạn đầu bài hát. Đó là tên của 2 nữ sinh Đồng Khánh, là cháu gọi Đức Từ Cung (mẹ của cựu hoàng Bảo Đại) là cô ruột. Khi làm việc tại Huế, nhạc sĩ Phạm Duy được một người quen là nghệ sĩ Vũ Đức Duy dẫn đến nhà của 2 chị em Thu Vân – Dạ Thảo để chơi, họ rất vui mừng và hân hạnh được đón tiếp tác giả của bài hát mang tênTình Cachỉ vừa ra mắt trước đó một năm đã được phát thường trực trên đài phát thanh, nổi tiếng khắp cả nước. Sau bữa tối, mọi người cùng nhau ngồi trước sân nhà, trong một không gian huyền ảo nhiệm mầu giữa lòng cố đô đầy linh khí, giọng hát ấm áp và tài hoa của chàng nhạc sĩ ngoài 30 tuổi – từng là ca sĩ tân nhạc nổi danh là Phạm Duy – đã hoàn toàn chinh phục được trái tim của những cô gái Huế con của chủ nhà. Hai nàng thiếu nữ công khai bày tỏ lòng ngưỡng mộ, không thể giấu được tiếng lòng thổn thức với chàng, nhưng lúc đó thì Phạm Duy đã có Thái Hằng, vừa mới sinh con đầu lòng Duy Quang được hơn một năm, nên chỉ có thể đáp lại sự ngưỡng mộ đó của những cô nàng xứ Huế bằng âm nhạc mà thôi. Bài hátDạ Lai Hươngtràn ngập niềm yêu đời, yêu người, “tình lên phơi phới”, nhưng nhạc sĩ Phạm Duy xác nhận rằng cái “tình” đó chỉ đơn thuần là tình người, tình nhân loại trong cõi thái hòa, của những người cùng nhau đắm chìm trong không gian tràn đầy nhạc điệu mê đắm, cùng biết rung cảm trước sự huyền ảo tuyệt diệu của bầu không gian xứ Huế có làn gió nhẹ mang mùi thơm dạ lý hương nồng nàn như mùi sữa. Để diễn tả những tình cảm trong sáng, thánh thiện, thuần khiết và lánh xa bụi trần nhân thế đó, thanh âm của bài hát cũng được dàn trải rất nhẹ nhàng, qua mỗi câu càng được lên cao như là tình cảm đang dâng tràn tuôn theo mùi hương trong màn đêm, êm mướt như nhung: Đường đêm sao yên vui,Người đi quen lối,Tình trai nở bốn phương trời Đàn em trong cơ ngơi,Nhờ đêm đưa tới những ai làm ngát hoa đời.Nhẹ bàn chân, hương đêm ơiNhẹ bàn tay hương yêu ơi… Bài hát có hai hình tượng có thể xem là đối lập nhau: Tình trai nở bốn phương trời, chính là người nhạc sĩ phong sương đã từng bước chân đi dọc khắp dải đất hình chữ S, đã chứng kiến biết bao điều mới lạ trên đời. Điều đó thật khác biệt với 2 cô nàng tiểu thư khuê các, con nhà gia giáo, chỉ vừa mới lớn và chưa từng được đặt chân đến những miền xa: “Đàn em trong cơ ngơi”. Ở đoạn nhạc này, từ lời van nài:“nhẹ bàn chân hương đêm ơi”có những nốt thật cao, đã đột ngột hạ xuống đúng một quãng tám để trở thành lời nhắc nhở thật nhẹ nhàng:“nhẹ bàn tay hương yêu ơi”, như là cách để nâng niu và trân trọng “hương yêu”, sợ rằng sẽ khuấy động không gian êm đềm và mê hoặc đó. Lung linh trăng lại về nữaCánh gió đưa hương ngả đầu mây phất phơ.Đêm thơm không phải từ hoaMà bởi vì ta thiết tha tình yêu thái hòa. Ban đầu là người say mùi hương dạ lai hương, như là dòng khói trắng theo cánh gió từ trên cao đầu mây bay về ngập đường khuya, dạt dào trên hè, rồi sà xuống bên người. Nhưng rồi khi đã say men tình người phơi phới, thì mới biết rằng đêm thơm không phải từ hoa, mà là vì“ta thiết tha tình yêu thái hòa”.Hương thơm của hoa đã gợi lên niềm vui của tình người, của cuộc đời“ngon như men say”, và niềm vui đó giống như là mật hoa của ong bay ngọt lên cây trái, góp chung mật sống lâu dài: Đời ngon như men sayTình lên phơi phớiĐẹp duyên người sống cho người Đời vui như ong bay, ngọt lên cây tráiGóp chung mật sống lâu dài.Nhịp bàn tay nhân gian ơiNhịp bàn chân nhân gian ơi Cuộc vui nào cũng sẽ đến lúc tàn, để rồi những ngày sau đó, đêm nối tiếp đêm, những cô gái vẫn tiếp tục“cầu hương lúc tân kỳ”,để tìm lại hương đêm, để “đêm thơm thêm lần nữa”, để hẹn nhau thương nhớ và cùng nhau khơi gợi lại niềm yêu đời, yêu cuộc sống: Đêm đêm trước khi ngủ kỹLũ chúng em ân cần cầu hương lúc tân kỳ.Đêm thơm thêm một lần nữaRồi hẹn nhau thương nhớ. Có lẽ là sẽ không có ai hát hay hơn Thái Thanh trong bản tình ca diễm tuyệt này, mời các bạn nghe lại: Click để nghe Thái Thanh hát Dạ Lai Hương trước 1975 Bài: Đông KhaBản quyền bài viết của nhacxua.vn Phạm Duy viết về mùa Xuân rất nhiều. Ở đây, tôi xin nêu một vài cảm nhận về mùa Xuân... Trong số những ca khúc viết thời đi kháng chiến của nhạc sĩ Phạm Duy, hầu hết là những ca... Những ca khúc tân nhạc viết về Mùa Xuân được sáng tác vào đầu những năm 1950 vốn không phải... Trong tân nhạc Việt Nam, nhạc sĩ Phạm Duy có thể không phải là người tài năng nhất, không phải... Sau đây là bài viết của cố danh ca Quỳnh Giao nói về Đường Chiều Lá Rụng, một ca khúc... Sau khi vào tới miền Nam, hát xong tại Sài Gòn, gánh hát Đức Huy khởi sự xuống Lục tỉnh.... © 2020NhacXua.VN- Nhạc Xưa Thời Báo.

Lan và Điệp

Lan Và Điệp là cái tên nổi tiếng trong làng nghệ thuật Việt Nam, bắt đầu từ tiểu thuyết mang tên Tắt Lửa Lòng của nhà văn Nguyễn Công Hoan sáng tác năm 1933. Câu chuyện nói về mối tình lãng mạn, đầy trắc trở của cô gái tên Lan và chàng trai tên Điệp. Do mắc mưu của ông quan Phủ ở tỉnh lẻ, Điệp – học sinh nghèo – phải phụ tình vị hôn thê là Lan để cưới Thúy Liễu, con gái ông Phủ. Lan ôm mối tình tuyệt vọng bỏ nhà đến chùa để cắt tóc đi tu. Cao trào của câu chuyện khi Điệp tìm được ngôi chùa mà Lan đang tá túc, thì cũng đúng lúc nàng trút hơi thở cuối cùng. Tác phẩm “Tắt lửa lòng” nhanh chóng thu hút được sự chú ý của công chúng và được các nghệ sĩ chuyển thể ra nhiều hình thức khác nhau. Ngay từ năm 1936, soạn giả Trần Hữu Trang biên kịch lại Tắt Lửa Lòng và chuyển thể thành vở cải lương Hoa Rơi Cửa Phật năm 1936. Sau đó soạn giả Loan Thảo cũng chuyển thể thành vở mang tên Lan Và Điệp, và đây cũng là cái tên nổi tiếng nhất của câu chuyện Tắt Lửa Lòng. Năm 1964, bộ 3 nhạc sĩ Lê Dinh, Minh Kỳ, Anh Bằng sáng loạt loạt 3 ca khúc Truyện Tình Lan Và Điệp và ăn khách chưa từng thấy, đến năm 1972 đạo diễn Lê Dân làm cuốn phim Lan Và Điệp với dàn diễn viên nổi tiếng, đều xuất phát từ sân khấu cải lương là Thanh Nga, Thanh Tú, Bạch Tuyết. Cái tên Lan Và Điệp dễ gợi nhớ và dễ gọi hơn cái tên gốc của tiểu thuyết, nên từ đó phổ biến rộng rãi trong công chúng. Tác giả Nguyễn Công Hoan kể lại trong hồi ký như sau: “Trong các truyện dài của mình, có truyện Tắt Lửa Lòng và Lá Ngọc Cành Vàng chuyển thể thành cải lương. Không biết ai chuyển thể vì không ai xin phép mình. Một lần, có gánh hát cải lương về Thái Bình. Họ quảng cáon diễn vở Tắt Lửa Lòng của Nguyễn Công Hoan. Có lẽ họ không biết mình ở đấy, hoặc biết mà cố tình lờ đi không nói với mình một tiếng, nên mình cáu lắm, mới tìm đến người chủ gánh hát và cấm diễn. Tối hôm ấy, họ không dám diễn vở Tắt Lửa Lòng. Nhưng vài tối sau thì mình thấy quảng cáo là vở Lan Và Điệp, không nói tên tác giả. Từ đó Tắt Lửa Lòng đổi thành Lan Và Điệp” Trở lại với tác phẩm chuyển thể đầu tiên của Tắt Lửa Lòng là vởcải lươngHoa Rơi Cửa Phật của soạn giả Trần Hữu Trang với sự trình diễn của nghệ sĩ Năm Phỉ, Tư Út. Tác giả Ngành Mai kể lại: Buổi trình diễn khi vở hát mới ra đời ấy, do cô đào Năm Phỉ đóng vai Lan, kép Tư Út đóng vai Điệp, đôi nghệ sĩ tiền phong thượng thặng này đã mở đầu cho hai nhân vật chính Lan-Điệp trở thành bất tử với thời gian (nữ nghệ sĩ tài danh Năm Phỉ từng được huy chương của chính phủ Pháp, của Vua Miên, Quốc Vương Lào, và Hoàng Đế Bảo Đại). Trong lịch sử nghệ thuật sân khấu chưa có vở hát nào được giới mộ điệu ưa thích, đến đỗi càng về sau câu chuyện càng mở rộng xâm lấn sang các lãnh vực văn nghệ khác. Năm 1948, hãng dĩa ASIA đã cho thu âm vở cải lương này vào 4 đĩa nhựa với tựa đề “Hoa rơi cửa Phật”, với sự tham gia của các danh ca Tư Sạng (Lan), Năm Nghĩa (Điệp), Tám Thưa (Hòa thượng), Hồng Châu (Tiểu Huệ Thông). Đĩa nhạc nhanh chóng phổ biến từ Nam chí Bắc, lan đến Cao Miên và Lào. Theo như nhà phát hành lúc ấy cho biết, kiều bào xứ Chùa Tháp tiêu thụ dĩa hát này nhiều gấp 3, 4 lần đại lý dĩa hát ở Cần Thơ. Do ở đất Miên dễ làm ăn, người ta dám mua sắm, vả lại số người sang đây lập nghiệp đại đa số là người Nam Kỳ Lục Tỉnh, mà cổ nhạc cải lương đã gắn liền với đời sống tinh thần của họ. Click để nghe lại Hoa Rơi Cửa Phật thu âm năm 1948 Dĩa “Hoa Rơi Cửa Phật” cũng được đưa sang Lào và cả ở bên trời Tây, do vậy mà kiều ở Pháp vẫn còn những người lưu giữ các dĩa hát xưa ấy. Song song đó cuốn bài ca “Hoa Rơi Cửa Phật” cũng được ra đời bán ở các chợ miền quê, chợ nhỏ, lớn nào cũng có người bán. Rồi cũng từ đó các gánh hát bầu tèo (gánh hát nhỏ) ở thôn quê đã sao chép lời ca, lời đối thoại, rồi thêm thắt vào dựng lên tuồng cải lương “Lan và Điệp” phục vụ bà con ở thôn quê và cũng được hoan nghinh. Năm 1970, khi phong trào kịch nói lớn mạnh, ban kịch Kim Cương đã trình diễnvở kịch nói “Lan và Điệp”,do chính nghệ sĩ Kim Cương thủ vai Lan (Kim Cương là cháu ruột của nghệ sĩ Năm Phỉ – người đầu tiên đóng vai Lan). Vở kịch này cũng thu hút được sự chú ý của khán giả không kém cải lương và nhanh chóng được phát trên truyền hình lúc đó. Cùng thời điểm này, kịch bản cải lương Chuyện tình Lan và Điệp của tác giả Loan Thảo với sự trợ giúp của soạn giả Thế Châu đã được thu thanh và trở thành bản ghi âm chuẩn mực nhất cho vở tuồng này tính đến hiện tại. Tham gia vở diễn là các giọng ca nổi tiếng như Chí Tâm (Điệp), Thanh Kim Huệ (Lan), Tú Trinh (Thúy Liễu), Hữu Phước (ông Tú – ba của Lan),… Nghe tuồng Lan Và Điệp thập niên 1970 Lan Và Điệp cũng đi vàotân nhạctừ năm 1964, trở thành bài hát đầu tiên mở màn thành công rực rỡ cho sự kiết hợp của bộ 3 nhạc sĩ Lê Minh Bằng. Vào khoảng năm 1964-1965, khi cái tên Lê Minh Bằng chưa được sử dụng thì 3 nhạc sĩ Lê Dinh, Minh Kỳ và Anh Bằng đã thử nghiệm sáng tác cùng nhau, và 1 trong những ca khúc đầu tiên chính làChuyện Tình Lan Và Điệp 1(tên chính xác làTruyện Tình Lan Và Điệp – ca khúc 1)– Bài hát có doanh số bán nhạc tờ được hàng triệu bản, một kỷ lục vào thời đó. BàiTruyện Tình Lan Và Điệpđược ký tên sáng tác là Mạc Phong Linh – Mai Thiết Lĩnh – một cái tên rất lạ, được nhạc sĩ Lê Dinh giải thích là một phần muốn gây sự chú ý đến công chúng, một phần là vì cả 3 không tự tin về sự thành công của một ca khúc “ăn theo” tuồng cải lương rất nổi tiếng thời ấy, nên không muốn lấy bút danh chính vì lỡ có ca khúc bị thất bại thì không bị ảnh hưởng đến danh tiếng nhiều năm của các nhạc sĩ. Trái ngược với sự lo sợ đó,Truyện Tình Lan Và Điệpcó được thành công chưa từng có, làm tiền đề để họ cùng sáng tác thêm Lan Và Điệp 2,3 – cũng đều rất ăn khách. Trong vài chục sáng tác nổi tiếng của nhóm Lê Minh Bằng, bộ 3 ca khúc Truyện Tình Lan Và Điệp vẫn là ăn khách và bán chạy nhất. Bài hát này được Nhật Trường và Hoàng Oanh thu thanh lần đầu trong dĩa nhựa và liên tục được phát trên đài phát thanh những năm giữa thập niên 1960. Khán giả yêu cầu phát thanh“Truyện Tình Lan và Điệp”hàng ngày, hàng tuần, liên tiếp trong nhiều tháng trời, tầng suất phát gấp chục lần các bài hát khác. Click để nghe Truyện Tình Lan Và Điệp (Nhật Trường – Hoàng Oanh) Các bản nhạc tờ của bài hát được in ra không đủ bán. Nhà in Tương Lai ở đường Trần Hưng Đạo có bao nhiêu máy in cũng được sử dụng để in “Truyện Tình Lan và Điệp 1″ (Sau đó là Lan và Điệp 2,3) ròng rã suốt ngày đêm, nhạc sĩ Lê Dinh phải xuống nhà in ngủ lại để giám sát việc in ấn, đề phòng nhà in cho in nhiều hơn số lượng đặt hàng để tuồn bán lậu. Tổng cộng là gần 4 triệu rưỡi bản nhạc (của 3 ca khúc) được in ra trong vòng hai năm. Mỗi bản nhạc được bán ra 5 đồng thì tổng thu về được gần 15 triệu đồng, sau khi đã trừ chi phí. Nhạc sĩ Lê Dinh kể lại: “Chúng tôi không bao giờ có thể ngờ được những bài như “Truyện Tình Lan và Điệp”, “Cô Hàng Xóm” và nhiều bài khác – cũng thuộc loại bài có lời ca hợp với đa số người bình dân – lại được phần đông mến chuộng. Bằng cớ là mỗi lần xuất bản đến 10.000 bài, chỉ trong vòng một tuần lễ là hết sạch. Các đại lý yêu cầu tái bản tới tấp, chúng tôi phải có mặt suốt đêm trong nhà in Tương Lai, đường Trần Hưng Đạo, để lo in cho kịp. Có nhiều bài có mức phát hành lên đến cả trăm ngàn bản. Chúng tôi đã đúc kết được điều quý giá, là muốn một bài nhạc được phổ thông và được chấp nhận thật sâu trong dân chúng, ngoài nét nhạc dễ thuộc, dễ nhớ… còn phải thật dễ thương. Nghĩa là âm điệu phải uyển chuyển, có hồn nhạc, thính giả dễ nhớ thoang thoáng âm điệu khi nghe qua lần đầu. Về phần lời ca, đừng quá giản dị (đại loại như “Ước gì mình đừng ngăn cách, nhà mình chung vách, hai đứa mình thức trắng đêm nay”), nhưng cũng đừng quá cầu kỳ, đừng bắt người ta nghe nhưng không hiểu gì hết…” Ngòi ra, Lan Và Điệp cũng được đưa lênmàn ảnh rộngnăm 1972, đó là cuốn phim mang tên Tình Lan Điệp của hãng Dạ Lý Hương Phim. Lời giới thiệu của phim được ghi như sau: Sau lần đầu tiên thành công vượt bực về phim Quái Đản “Con Ma Nhà Họ Hứa”, năm 1972 Dạ Lý Hương Phim long trọng trình chiếu một xuất phẩm giá trị Nghệ thuật và Kỹ thuật: Tình Lan Và Điệp. Phóng tác theo tiểu thuyết tình cảm bất hủ “Tắt Lửa Lòng” của cố văn sĩ lừng danh Nguyễn Công Hoan. Một bộ phim đen trắng 35mm “Tình Lan và Điệp”, dài 1 giờ 30 phút do đạo diễn Lê Dân thực hiện công phu và tốn kém nhất. Dàn cảnh vĩ đại với đền đài dinh thự, y trang cổ truyền thuần túy Việt Nam đúng theo nguyên tác “Tắt Lửa Lòng”. Phim có sự góp mặt của các diễn viên: Thanh Nga (vai Lan), Thanh Tú (Điệp), Bạch Tuyết (Thúy Liễu), Ba Vân (Ông Phủ), Ngọc Giàu (Bà Phủ), Năm Châu (Ông Giáo), Dũng Thanh Lâm (Cai Tư), Út Bạch Lan, Bé Bự, hai vua hề Tùng Lâm, Thanh Hoài, Phương Quang, Bảy Ngọc, Kiều Mai Lý, Tư Rợm… và trên 20 nghệ sĩ tên tuổi. Địa điểm quay nồng cốt là một ngôi chùa trên núi Bửu Long, đường cheo leo hiềm trở và chuyên viên phải dựng lên những chiếc lều cây khổng lồ để đặt máy lấy hình. Địa điểm kế là một ngôi nhà uy nghi rộng rãi và giàu sang, ngôi nhà đó là của ông Mười Công một nhân vật có tiếng vùng Nhà Bè, tại ngôi nhà này từng là nơi đoàn của Thẩm Thúy Hằng quay phim “Ngậm Ngùi”, đoàn Kim Cương quay phim “Mưa Trong Bình Minh”. Từ lĩnh vực cải lương, qua đến điện ảnh thì Thanh Nga vẫn tiếp tục được giao cho vai Lan – người sư nữ trẻ đẹp lòng còn vướng víu nợ trần ai. Ba Vân và Ngọc Giàu trong vai ông bà Phủ hóa trang theo lối xưa, đeo thật nhiều trang sức, bới tóc cổ điển, áo bà ba quần satin đen bóng loáng. Đặc biệt là cô dâu Bạch Tuyết trong vai Thúy Liễu con gái ông bà Phủ, mặc áo thụng lòe loẹt, tóc quấn với khăn vành và nón quai thao thật xưa, chân đi hài con rồng, dáng đi yểu điệu. Thanh Tú vai Điệp với áo dài khăn đóng màu đen. Đạo diễn Lê Dân đã có sáng kiến dựng lại một đám cưới xưa thật xưa và công phu nhất, một chiếc xe thổ mộ thật xưa kết đầy hoa lá xanh đỏ, một dây pháo dài 25 thước đã được đốt lên rộn rã trong ngày tân hôn. Câu chuyện nói về một thanh niên tên Điệp (Thanh Tú đóng), nhà nghèo, nhưng nhờ mẫu thân buôn tần bán tảo ngược xuôi, và nhờ một người bạn thân với cha chàng khi xưa là ông Giáo (Năm Châu) giúp đỡ nên chàng vẫn được tiếp tục theo đuổi việc học, lúc nào chàng cũng mong mình sớm thành đạt để có dịp đi làm, đền đáp lại công ơn của mẹ già. Ông Giáo có một người con gái tên Lan (Thanh Nga), đã cùng Điệp đính ước rằng sau này sẽ nên duyên vợ chồng. Chuyện tình của họ đã diễn ra thật thơ mộng êm đềm trong vòng lễ giáo và được sự chấp thuận của cha mẹ hai bên. Kỳ thi đó Điệp đậu bằng Thành chung, chàng về quê báo tin mừng cho mẹ, ông Giáo và Lan hay. Chính vì chuyện thi cử này mà cuộc đời Điệp bắt đầu đã vào một khúc quanh mới với nhiều sóng gió. Quan Phủ sở tại (Ba Vân) có cô con gái là Thúy Liễu (Bạch Tuyết), vì mê đàn hát nên thất thân với Cai Tư (Dũng Thanh Lâm). Muốn cho gia đình khỏi mang tiếng xấu vì con gái chửa hoang, Quan Phủ đã cố tìm cách gài bẫy để bắt buộc Điệp phải nhận lời lấy Thúy Liễu về làm vợ. Một hôm Quan Phủ cho mời Điệp đến dùng cơm. Trong bữa tiệc, quan cố nài Điệp uống rượu thật say. Khi chàng quá chén không còn biết trời trăng gì nữa, Quan cho khiêng chàng vào nằm trên giường của Thúy Liễu. Sáng hôm sau Quan giả vờ làm dữ khi bắt gặp quả tang Điệp trong buồng của con gái mình. Dù biết mình bị gài bẫy, nhưng Điệp không có cách gì để chống lại ý muốn của Quan Phủ, chàng đành phải nhận lời lấy Thúy Liễu với cõi lòng tan nát khi nghĩ tới Lan. Một đám cưới đã được cử hành rấp rút và thật linh đình giữa chàng thư sinh tên Điệp và con gái Quan Phủ. Cũng chính trong ngày hôm đó, Lan đã âm thầm bỏ nhà tìm đến một ngôi chùa ở một miền hẻo lánh nọ để xin cắt tóc đi tu… Câu chuyện gốc trong tiểu thuyết Tắt Lửa Lòng: Truyện kể về cuộc tình lãng mạn, bi ai giữa chàng học trò nghèo tên Điệp và cô gái cùng quê tên Lan, tại làng Văn Ngoại, khu vực chợ Gỏi thuộc vùng Hải Dương xưa, thời kỳ Nguyễn Công Hoan đang dạy học ở đó. Vũ Khắc Điệp là con ông Cử làm nghề dạy học. Ông Cử kết giao với ông Tú, bố của Nguyễn Thị Lan và hai gia đình hứa gả con và kết tình thông gia với nhau. Khi ông Cử mất, mọi công việc lo toan cho Điệp học hành đều do ông Tú đảm nhiệm. Tình cảm hai nhà gắn bó keo sơn. Trần Thúy Liễu là con gái ông Phủ Trần, tính cách xấu xa, tinh nghịch, phải lòng và có bầu với Tư Kềnh, một lính khố xanh đóng gần nhà Thúy Liễu. Điệp sau khi thi lần đầu bằng Thành Chung bị trượt, đến khi thi lần hai thì gặp ông Phủ Trần là bạn học khi xưa với ông Cử – bố của Điệp, ông Phủ có hứa giúp đỡ Điệp đỗ kỳ thi này và còn tìm việc làm cho tại Phủ. Điệp ở nhà ông Phủ Trần và bị mắc lừa nằm ngủ với Thúy Liễu trong lúc say rượu, nên ông Phủ Trần tìm mọi cách ép Điệp cưới Thúy Liễu để tránh mọi dị nghị của xã hội và kiếm cho con mình một tấm chồng hợp pháp. Đồng thời ông Phủ Trần cũng đuổi mọi người làm việc ở Phủ để không ai còn biết Thúy Liễu có quan hệ trước đó với Tư Kềnh. Sau khi nhờ một ông chánh án Phủ Trần để giúp đỡ thi đậu thì Điệp mắc ơn ông Phủ Trần đó và bị ông ta dụ uống say và bỏ vào chung phòng với cô con gái mập và không được nết na lắm của ông ta tên là Thúy Liễu. Bị vu cho ngủ chung với Thúy Liễu, thế nên ép Điệp phải cưới cô ta. Gia đình Lan và Điệp hết sức buồn rầu vì việc này. Ngày Điệp cưới Thúy Liễu cũng là ngày Lan cắt tóc đi tu. Nhưng chỉ sau vài tháng thì cãi nhau và Điệp li dị với Thúy Liễu. Rồi Điệp đi tìm đến ngôi chùa nơi Lan tu và giật chuông nhưng Lan không những không tiếp mà còn cắt dây chuông. Vậy nên Điệp thất vọng đi luôn, và muốn gầy dựng cơ nghiệp trước rồi quay lại chuyện nhân duyên sau. Sau đó Thúy Liễu lấy chồng khác là Hoàng Xuân Long – một ông quan Phủ và có 3 đứa con, có một người tên là Hoàng Trần Vũ cùng họ với Vũ Khắc Điệp. 13 năm sau, cha mẹ của Lan, Điệp và Thúy Liễu đều mất. Người con tên Vũ bị đối xử lạnh nhạt, cả gia đình không yêu thương và cả mẹ và cha nuôi cũng ghẻ lạnh. Vũ biết Điệp là chồng trước của mẹ mình và khi cha nuôi hắt hủi đưa địa chỉ thì Vũ đến tìm Điệp. Điệp kể lại sự oan trái của cả hai và đưa địa chỉ của cha đẻ cho Vũ. Vũ đi tìm cha và biết được sự thật rằng ngày ấy Thúy Liễu đã quyến rũ người canh gác tên Cách này, và khi sinh ra Vũ bị Thúy Liễu bóp cổ nhưng Vũ vẫn không chết. Vũ quay về bệnh viện nơi Điệp làm việc và định gửi hai hộp kẹo có thuốc độc cho ba và mẹ mình nhưng bị Điệp biết nên tráo lại. Cũng vào ngày đó, Điệp nhận được một bệnh nhân sắp chết là Lan. Điệp khi đó mới biết rằng, Lan vì quá buồn nên không đọc thư của Điệp và ôm hận một mình trong lòng mà gây bệnh. Đông Kha – nhacxua.vn Ngày 22/8/2024, khi ở tuổi 61, Trường Vũ - ca sĩ nổi tiếng với các ca khúc "Thân phận nghèo",... Giai điệu Bolero, với xuất xứ từ các thể loại nhạc như Rumba, Habanera, Valse và Tango, đã du nhập... Việc tặng bông trong các buổi đờn ca tài tử đã trở nên phổ biến trong những thập kỷ gần... Trong bài hát "Chiều Trên Phá Tam Giang" của nhạc sĩ Trần Thiện Thanh có câu: "Giờ này Thương Xá... Trong những thập niên 1950, 1960 và 1970, hình ảnh những chiếc taxi hai màu xanh - trắng (hoặc vàng... Những ai từng học ở trường Đại học Văn Khoa xưa, nay là trường Đại học Khoa học Xã hội... © 2020NhacXua.VN- Nhạc Xưa Thời Báo.

Hình bóng cũ

Viết từ chính những trải nghiệm đau thương cô đơn của cuộc đời nhạc sĩ Trúc Phương giữa lòng Sài Gòn xưa khói sương mờ lối. Bước chân cô đơn đi vào thương nhớ qua những con phố cũ vắng bóng người tình đã chắp cánh cho ông viết nên những giai điệu Bolero trĩu nặng sầu thương đi sâu vào lòng bao thế hệ.

Tình nghệ sĩ

Sáng tác năm 1948 tại Hà Nội, điệu Boston dìu dặt quý phái tôn vinh cuộc đời lãng mạn và lý tưởng cống hiến cái đẹp của người nghệ sĩ trước thời cuộc biến động. Lời ca diễm lệ chất chứa những hình ảnh thơ mộng của mùa thu Hà Nội cũ, khẳng định giá trị thanh cao bất diệt của nghệ thuật và sự đồng điệu tâm hồn vượt lên trên những tàn úa thời gian.

Một Chuyện Tình

Cuối năm 1965, nhạc sĩ Vũ Thành An kết thúc cuộc tình sâu đậm với một cô gái xinh đẹp mà ông gọi đó là “Tình Khúc Thứ Nhất”, rồi trải qua một thời gian khá dài mới có thể được nguôi ngoai. Cuộc tình đó dù không thành nhưng đã trở thành niềm cảm hứng để ông sáng tác 3 ca khúc đầu tiên trong sự nghiệp:Tình Khúc Thứ Nhất, Em Đến Thăm Anh Đêm 30vàBài Không Tên Cuối Cùng, là những bài hát góp công lớn để đưa nhạc sĩ Vũ Thành An tiến xa trong sự nghiệp sáng tác. Trong loạt bài không tên nổi tiếng của Vũ Thành An, ca khúc mang tên là Cuối Cùng nhưng lại ra đời đầu tiên, với ý nghĩa là lời cuối cùng cho một tình yêu. Bài không tên tiếp theo được ra mắt không phải làBài Không Tên Số 1, mà chính làBài Không Tên Số 2, nghĩa là Bài không tên thứ 2 được sáng tác, dành cho một mối tình như trong tiểu thuyết: “Đầu năm 1967, một ngày thật trống rỗng và ảm đạm, định mệnh đã cho anh được gặp em. Như một tia nắng ấm cuối Đông, em đã sưởi ấm tâm hồn anh ngay buổi đầu gặp mặt” Nhạc sĩ Vũ Thành An đã viết như vậy trong những dòng đầu tiên nhắc về người tình trongBài Không Tên Số 2. Đó là thời điểm ông vẫn còn làm việc chung với nhà văn Nguyễn Đình Toàn tại đài phát thanh và chuẩn bị vào thụ huấn ở trường sĩ quan trừ bị Thủ Đức. Click để nghe Thanh Lan hát Bài Không Tên Số 2 trước 1975 Vào một buổi chiều giáp Tết, Vũ Thành An đến nhà Nguyễn Đình Toàn chơi thì gặp 2 cô gái bạn của bà Nguyễn Đình Toàn cũng đến thăm, trong đó nhạc sĩ để ý đến một cô gái thật tươi trẻ trong tà áo dài màu xanh, là nữ sinh trường Trưng Vương vừa mới thi đậu Tú tài. Cảm thấy mình rung động ngay phút ban đầu nên ông có quyết định ngay là sẽ chinh phục người đẹp. Không lâu sau, cô gái đồng ý đi chơi riêng, và trong lần đi chơi đầu tiên đó, nhạc sĩ Vũ Thành An cảm thấy ngỡ ngàng tột cùng khi thấy nàng lái một chiếc xe con sang trọng màu xanh hiệu Opel để đón ông đi chơi. Trong hồi ký, Vũ Thành An nói rằng nếu biết trước tình huống này, ông đã không chủ động làm quen, vì 2 cuộc tình trước đó đều tan vỡ với cùng lý do là khoảng cách giàu nghèo. Nhưng đến lúc này thì chuyện đã rồi. Trong những ngày sau đó, dù yêu nhau nhưng họ chưa bao giờ nói đến chuyện tương lai. Ngày tháng yêu đương mặn nồng chưa được bao lâu thì cũng đến ngày Vũ Thành An nhập ngũ, vào quân trường Thủ Đức với những ngày tháng huấn nhục dài lê thê. Sau này qua lời kể của những người quen biết, nhạc sĩ mới biết rằng những lúc ông không được phép rời trại một thời gian dài, nàng đã lái chiếc Opel đi vòng qua các bãi tập của quân trường Thủ Đức chỉ với một hy vọng rất mong manh là có thể được nhìn thấy bóng dáng của người yêu ở trong đó, để cho vơi đi nỗi nhớ nhung. Bấy nhiêu thôi cũng đủ để chứng minh đó không những chỉ là tình yêu thực sự, mà còn là rất đậm sâu. Sau khi hết thời gian “huấn nhục” thì các khóa sinh mới được nghỉ cuối tuần để về thăm nhà. Dù yêu rất cuồng nhiệt và say đắm, nhưng nhạc sĩ cho biết họ vẫn giữ cho nhau trong vòng lễ giáo, một tình yêu thuần khiết không có đụng chạm về thể xác, cao nhất chỉ là những nụ hôn nhẹ nhàng. Thời gian qua hơn 1 năm, tháng 5 năm 1968, đến ngày nhạc sĩ Vũ Thành An tốt nghiệp trường Thủ Đức và có 4 ngày nghỉ phép, dự định là để dành trọn cho người yêu. Nhưng đúng lúc đó thì ông lại được lệnh hoãn nghỉ phép, phải đi Vũng Tàu trình diện để nhận quyết định đi học tiếp lớp sĩ quan chuyên nghiệp ở Vũng Tàu. Trước khi ra đi vào sáng sớm hôm sau, họ đã có một buổi tối ngọt ngào bên nhau. Nhạc sĩ kể lại: “Anh còn nhớ rõ hôm ấy em đã ôm anh rất đắm đuối và bảo anh đừng đi trình diện ngày mai, hãy ở lại với em. Anh không dám trái lệnh cấp trên và đã không thể ở lại với em. Thật không ngờ đó là lần cuối cùng chúng ta bên nhau. Chiếc ôm bá cổ ghì chặt anh vào mình của em sẽ là một kỷ niệm mãi mãi…” 6 tháng sau đó, khi đang thụ huấn ở Vũng Tàu, nhạc sĩ Vũ Thành An nhận được thư chia tay, không có lý do, không một lời giải thích. Đó là một điều bí ẩn và mãi mãi làm cho nhạc sĩ ray rứt, bởi vì suốt gần 2 năm yêu nhau họ chưa từng có cãi vã, không một lần xung đột, luôn yêu nhau mặn nồng. Lá thư đã làm cho ông chao đảo và thấy bầu trời như sụp đổ, nhưng cũng đành chấp nhận vì đã từng linh cảm được trước về một điều không hay sẽ đến. Sau khi tốt nghiệp quân trường ở Vũng Tàu, lá thăm may mắn đã đưa nhạc sĩ Vũ Thành An quay về Sài Gòn để tiếp tục phụng sự cho quân đội, nhưng là ở trong lĩnh vực hành chính. Vào một ngày tháng 12 năm 1968, ông ngồi uống cafe ở tiệm Brodard ở góc đường Tự Do nổi tiếng của Sài Gòn, trời đổ những giọt mưa lê thê vào cuối mùa làm cho nỗi nhớ người yêu càng thêm da diết, ông quyết định tìm đến nhà nàng ở Quận Tư để thăm bất ngờ. Từ đường Tự Do, ra Bến Bạch Đằng và qua cầu Khánh Hội là quãng đường rất ngắn, nhưng cũng thật dài vì tâm tư rối bời. Tới nhà gõ cửa, nhìn thoáng vào trông, nhạc sĩ thấy có một bữa tiệc nhỏ đã vừa tàn, bàn ăn vẫn chưa dọn dẹp xong. Người mở cửa chính là nàng, trong bộ y phục thật rực rỡ. Sau phút đầu chào nhau ngượng ngập, nàng quay vào trong và dẫn ra một người đàn ông để giới thiệu:“Đây là hôn phu của em, và hôm nay cũng là lễ đính hôn của em”. Câu chuyện đó như là trong một tiểu thuyết, nhưng chính là sự thật. Chàng nhạc sĩ si tình cảm thấy như tê điếng cả người, không biết nói gì thêm, chỉ lặng lẽ ra về trong bẽ bàng. Bài hátBài Không Tên Số 2ra đời ngay sau đó, khi nỗi đau vẫn còn rất tươi mới: Lòng người như lá úa, trong cơn mưa chiềuNhiều cơn gió cuốn, xoay xoay trong hồnVà cơn đau này vẫn còn đấy Chiều về không buông nắng, cho mây âm thầmMột mình trong chiều vắng, nhớ đôi môi mềmNgày nào ân cần trao thân. Bài hát diễn tả đúng hoàn cảnh và tâm trạng của nhạc sĩ Vũ Thành An trong cái ngày quyết định đến thăm nhà người yêu. Đó là một chiều mưa nhẹ, những cơn gió cuốn trên con đường Tự Do và xoay xoay những cánh lá, như là xoáy vào tận sâu thẳm hồn người. Tìm trong tháng ngày buồnĐôi mắt nào khôđường tim chơ vơĐếm cho nhau lời nóiTrên đời nào yêu người. Kỷ niệm xưa đã chết, cơn mê đã chiều,Tình yêu đã hết, xót xa đã nhiềuĐời thôi sẽ còn mai sau. Thôi em đừng xót thươngRồi ngày tháng phai đi.Thôi cuộc tình đó tan rồiKhông còn gì nữa, tiếc mà chi. Bài hát thể hiện nỗi đau xót xa, nuối tiếc về cuộc tình tha thiết đã chính thức chấm dứt một cách phũ phàng như vậy. Tuy đã mất nhau nhưng nhạc sĩ tin rằng nàng vẫn yêu mình, không bao giờ nghĩ rằng có ngày sẽ rời xa, và đoán rằng có vì một lý do bí ẩn nào đó dẫn đến quyết định như vậy. Cuộc tình đứt ngang khi vẫn đang rất thắm thiết. Bài hát chỉ toàn là những lời buồn, và những câu hát sau đây là nổi tiếng nhất, có thể xem là nhân tố quan trọng nhất mang lại sự thành công choBài Không Tên Số 2: Đời một người con gái, ước mơ đã nhiều,Trời cho không được mấy, đến khi lấy chồngChỉ còn mối tình mang theo… Chỉ 3 câu ngắn gọn những thể hiện được đầy đủ ý nghĩa về nhân duyên của một người con gái, xưa cũng như nay: Thời thiếu nữ mộng ước rất cao vời, nhưng trời cho không được mấy, đến khi lấy chồng thì hành trang mang theo chỉ là một khối u tình, thường là không trọn vẹn. Khi vừa được sáng tác,Bài Không Tên Số 2được chính nhạc sĩ Vũ Thành An tự thể hiện ở Quán Gió của nhạc sĩ Nam Lộc, ngay lập tức được khán giả trẻ đón nhận nồng nhiệt. Sau đó, bài hát được các danh ca nổi tiếng trình bày là Thanh Lan, Lệ Thu, và đặc biệt được yêu thích qua giọng hát Ngọc Lan sau năm 1975: Click để nghe Ngọc Lan hát Bài Không Tên Số 2 Thời gian sau này, nhạc sĩ viết lời 2 cho các bài không tên, trong đó bài Không Tên Số 2 cũng được đặt lời mới, mang nhiều tính hoài niệm, nhưng ý nghĩa thì vẫn không khác xa so với lời cũ: Lòng người như lá úa trong cơn mê chiềuNhiều cơn gió cuốn xoay xoay trong hồnVà cơn đau này vẫn còn đấyTình lạ lùng quá lắm mới thân hôm nàoCòn tay tay nắm đắm say đắm nhìnGiờ thành xa lạ không quen Hỏi cho hết mọi ngườiAi không thở than hận tình nhân gianĐếm bao nhiêu người đãYêu thật lòng trên đời Dòng thời gian thác lũ đã trôi đi rồiTruyện xưa đã cũ mỗi khi nhắc lạiBồi hồi rung động không em? Thôi trăm lần cũng thôi nghìn lần cũng thôi thôiEm ở miền đó vui rồi anh miền này cũng vẫn bình yên Đời một người con gái ước mơ đã nhiềuTrời cho không được mấy đến khi lấy chồngChỉ còn mối tình mang theo Quên mong người đã quênCuộc tình cũ đã chônNhững kỷ niệm đó bây giờChỉ là thoảng cơn gió mà thôi Bài: Đông KhaBản quyền bài viết của nhacxua.vn Nhạc sĩ Vũ Thành An là một trong những nhạc sĩ tiêu biểu nhất của dòng nhạc trữ tình miền... Trong sự nghiệp sáng tác âm nhạc có được nhiều thành công của nhạc sĩ Vũ Thành An, có thể... Trong số những bài nhạc không tên được nhạc sĩ Vũ Thành An sáng tác trước 1975, thì bài được... Cũng như Bài Không Tên Số 6, nhạc sĩ Vũ Thành An nói rằng Bài Không Tên Số 7 không... Trong loạt bài đã đăng về những bài không tên bất hủ của nhạc sĩ Vũ Thành An, chúng tôi... Đêm sâu mái tóc em dài Buông xuôi, xuôi theo dòng đời Mà đời dài như tiếng kinh cầu Còn... © 2020NhacXua.VN- Nhạc Xưa Thời Báo.

Ru tình

Lúc sinh thời, cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã từng viết:“Tình yêu cho phép những ca khúc ra đời. Nỗi đau và niềm hân hoan làm thành bào thai sinh nở ra âm nhạc. Âm nhạc như thế là tình yêu, là trong bản thân nó hàm chứa 1 cõi nhân sinh bề bộn những khổ đau và hoan lạc. Không có bất hạnh và nụ cười có lẽ âm nhạc cũng không thể có duyên ra đời”. VàRu Tìnhchính xác là một ca khúc như vậy: Được phôi thai từ niềm hân hoan và nỗi đau, ẩn chứa trong đó tình yêu nhưng đồng thời cũng hàm chứa ý nghĩa về một cõi nhân sinh bề bộn những khổ đau và hoan lạc. Click để nghe Khánh Ly hát Ru Tình (Trịnh Công Sơn) Bài hátRu Tìnhđược Trịnh Công Sơn viết từ trước năm 1975. Lúc đó ông nhận được “đặt hàng” của một đài truyền hình Nhật Bản, sáng tác riêng một ca khúc cho một nữ ca sĩ trẻ người Nhật dự kiến sang lưu diễn tại Việt Nam. Cô ca sĩ đó mới 16 tuổi, vốn rất mến mộ tài năng của chàng nhạc sĩ họ Trịnh nên cũng háo hức muốn nhanh chóng sang Việt Nam biểu diễn và gặp gỡ nhạc sĩ Trịnh Công Sơn. Tuy nhiên, dự định không thành, cô đột ngột gặp tai nạn và quɑđời. Tiếc thương cho cô ca sĩ trẻ bạc mệnh, ngẩn ngơ trước mối duyên hội ngộ bị bỏ lỡ vô thời hạn, nhạc sĩ họ Trịnh viết ca khúcRu Tình.Đó là lời hát ru người đi vào cõi hư vô, hát cho một tình yêu tưởng tượng mà thậm chí còn chưa bao giờ gặp mặt, mối tình dù không có thật nhưng cảm xúc lại da diết, chân thực vô cùng. Xuyên suốt ca khúc, nhạc sĩ sử dụng những câu nhạc ngắn, nhịp điệu chầm chậm, lời hát êm dịu, ngân nga như tiếng ru vỗ về để Ru Tình. Dù được viết tặng cho một cô gái Nhật, những hình ảnh như làsen hồng, hong tóc bên hồ, hài nhung gấm, gót sen hồng,…được sử dụng trong ca khúc lại rất thuần Việt. Bởi vậy ngay khi những câu hát đầu tiên được cất lên, khán giả Việt đã thấy thân thương và gần gũi. Những cô gái nào nghe ca khúc này có lẽ đều có chung một cảm xúc là được yêu thương, vỗ về như thể ca khúc viết cho mình: Ru em đầu con gió, em hong tóc bên hồKhi sen hồng mới nở, nụ đời ôi thơm quá Em ngồi hong tóc bên hồ sen, gió thổi nhè nhẹ thoang thoảng hương sen thơm mát làm ngơ ngẩn hồn anh. Chàng nhạc sĩ tài hoa đã vẽ nên bức tranh thơ tuyệt đẹp nơi người thương đang ngồi hong tóc, trong trẻo và ngát hương tựa đoá “sen hồng mới nở”. Phải chăng lần đầu tiên được nếm mùi vị của tình yêu, rạo rực trước nhan sắc xuân thì của cô gái, chàng trai đã thốt lên “nụ đời ôi thơm quá”, bởi vậy chàng mới tất tả “ru em đầu con gió”, để nhờ gió mang tâm tình gửi tới người thương (?). Nhưng lại chợt nghĩ, nếu chỉ nói về nhan sắc cô gái và tình yêu, chàng nhạc sĩ có lẽ không cần phải “đao to búa lớn” sử dụng từ “nụ đời”. Một từ mang hàm nghĩa rất lớn, bao quát cả đời sống rộng mênh mông, sâu tận cùng thăm thẳm. Vì vậy, “nụ đời” trong ngôn ngữ của Trịnh có lẽ đa tầng, đa nghĩa hơn là chỉ nói về tình yêu”, nó hàm chỉ cả đời sống này như trong nhiều nhạc phẩm của mình, nhạc sĩ Trịnh Công Sơn luôn bày tỏ tình yêu nồng nhiệt với đời sống, với con người:“Hãy yêu ngày tới dù quá mệt kiếp này. Còn cuộc đời ta cứ vui”.Vậy nên “nụ đời ôi thơm quá” có lẽ cũng là câu cảm thán của cô gái đang ngồi hong tóc còn rất hồn nhiên, yêu đời. Ru em tình khi nhớ, ru em tình lúc xaRu cho bầy lá nhỏ, rụng đầy một mùa thu Khi nhắc về lá mùa thu, nhạc sĩ không nhắc đến lá vàng, lá úa của những buồn bã, tàn tạ, cô liêu như thường thấy, mà viết là “bầy lá nhỏ”, nghe vừa tinh nghịch, vừa yêu thương, vừa gần gũi mà lại rất đặc trưng của ca từ nhạc Trịnh. Đó cũng là bởi em đang ngồi hong tóc bên hồ sen mới nở, tức là đầu mùa hạ, gió chắc cũng nóng nực hanh khô chứ không tươi mát, trong trẻo như mùa thu. Bởi vậy, anh mới “ru” cho rụng một “bầy lá nhỏ”, vì còn đương mùa hè, lá vẫn còn xanh mướt trên cành, chứ không phải lá to hay lá già để mang gió thu đến cho em hong tóc. Tình cảm của anh chân thật, lay động cả đất trời, làm rụng cả “bầy lá nhỏ”, để tặng cho em “đầy một mùa thu”. Ru khi mùa mưa tới, ru em mãi yêu ngườiRu em hoài bé dại, một hồn thơm cây trái Mùa hạ của tuổi trẻ rực rỡ, hồn nhiên, nồng nhiệt rồi sẽ qua đi. Mùa thu dịu dàng, đầy mơ mộng cũng sẽ qua đi. Khi mưa gió bão bùng ập đến, những giông bão khổ đau của kiếp người đổ xuống, anh mong em vẫn “mãi yêu người”, yêu đời. Mong em vẫn mãi là cô gái hồn nhiên, thơ dại, là đoá sen thanh khiết của mùa hạ khi xưa. Bởi chàng nhạc sĩ luôn tin rằng “em hồn nhiên rồi em sẽ bình mình”, còn anh sẽ luôn ở đây: Ru em chờ em nói, trên môi tình thoát thaiRu em ngồi yên đấy,ru tình à ơi… Đi qua giông bão cuộc đời, tâm hồn em có thể đã trầy xước ít nhiều, tình yêu của em với người, với đời sống này đã sứt mẻ. Em có lẽ chẳng thể thốt lên “nụ đời ôi thơm quá” nữa. Nên anh lại tiếp tục “ru em chờ em nói”, chờ em trở lại tin yêu đời sống này giống như anh vậy. Tình yêu đó nhất định phải tự bung nở từ trong tim em, trong tâm hồn em mà “thoát thai” ra ngoài. Những lời ru êm ả, ngọt ngào của anh sẽ chỉ như những tiếng vỗ tay động viên, chia sẻ nỗi lòng với em. Anh chỉ có thể “ru em ngồi yên đấy”. Vậy nên, em hãy ngồi yên đấy, bình tâm, tĩnh lặng, suy nghĩ về cuộc đời, về anh, và hát khúc “ru tình” của riêng mình. À a a à a á a ờ…À a a à a á a ờ…Ru người ngồi mãi cùng tôiRu người ngồi mãi cùng tôi… Ở những câu hát này, phảng phất trong lời ru là bóng dáng của điệu nhạc ngũ cung Nhật Bản. Những giai điệu ngọt ngào vừa như vỗ về, vừa như níu giữ, chỉ mong “ru người ngồi mãi cùng tôi”. Anh chỉ mong cầu em ngồi mãi đây cùng anh, cùng tìm vui trong cuộc đời này như câu hát “mỗi ngày tôi chọn một niềm vui”. Ý tưởng về sự mãi mãi và vô thường trong âm nhạc của Trịnh Công Sơn tưởng chừng như đối nghịch nhau nhưng lại hoà trộn hài hoà với nhau trong một tổng thể chung của đời sống. Bởi sự ảnh hưởng của chất Thiền, chất Phật trong âm nhạc Trịnh là điều không thể phủ nhận, nếu đem những tâm thức đó ra để lý giải cho âm nhạc Trịnh. Chúng ta có thể bắt gặp ý tưởng này ở bài hát nổi tiếng khác trước đó là “Ru Em Từng Ngón Xuân Nồng”. Dù là ngàn năm hay là mãi mãi, thì sự hữu hạn của kiếp sống con người là có thực. Chỉ có thể lý giải cho sự “mãi mãi” này bằng sự lý giải của nhà Phật rằng: đời sống này chính là những vòng luân hồi nối tiếp nhau. Chỉ có tâm tưởng, tâm thức con người mới là thứ bất diệt, thứ mãi mãi ngàn năm. Bởi vậy, anh không chỉ mong em yêu anh, yêu đời sống này hời hợt, thoáng qua trong kiếp sống này mà yêu từ trong tâm thức, yêu mãi ngàn năm. Vượt lên trên tất cả mọi trở ngại, khổ đau của đời sống để “thoát thai” ra thứ tình yêu, hạnh phúc mãi mãi. Và anh mong hai ta hoà hợp với nhau cả về tâm thức, để có thể “ngồi mãi cùng nhau”. Ru em hài nhung gấm, ru em gót sen hồngRu bay tà áo rộng, vượt tình tôi chắp cánhRu trên đường em đến, xôn xao từng tiếng chimRu em là cánh nhạn miệng ngọt hạt từ tâm Tình yêu của chúng ta, cuộc đời của chúng ta rồi sẽ đi qua rất nhiều cung bậc cảm xúc từ lúc tuổi trẻ rực rỡ, xôn xao, rạo rực như mùa hạ, lúc lãng mạn, êm đềm, đầy mơ mộng như mùa thu, rồi quay quắt trong gió bão cuộc đời khi mưa giông đổ xuống. Nhưng chỉ cần vượt qua được tất cả những trở ngại đó, thì bình minh sẽ lại ló dạng. Tình yêu, tình đời, tình người sẽ lại thăng hoa. Em sẽ vượt lên cả mối tình nhỏ mọn của tôi để bay lên, để rực rỡ với “hài nhung gấm”, “gót sen hồng”, “tà áo rộng”, để cất lên khúc ca yêu đời, yêu người như nàng công chúa mải mê ca hát lạc bước vào khu rừng hạnh phúc, để “trên đường em đến” sẽ “xôn xao từng tiếng chim”. Và em sẽ là “cánh nhạn” mùa xuân “miệng ngọt” đem “hạt từ tâm” rải khắp thế gian, đem truyền tình yêu cho khắp muôn loài. Và anh vẫn ở đó, tiếp tục với hành trình “ru” của mình: Ru em tình như lá trăm năm vẫn quay vềMôi em là đốm lửa cuộc đời đâu biết thế Tình yêu như chiếc lá trên cành kia, sinh ra từ đất mẹ, làm đẹp, che mát cho đời, đến lúc rụng xuống lại trở về với đất mẹ. Em cứ bay đi ru khúc tình đời của riêng mình nhưng dù trăm năm, ngàn năm hãy nhớ quay về với tình anh. “Môi em là đốm lửa”, “đốm lửa” đã trải qua trui rèn giông bão, đã thoát thai từ tâm hồn em để sưởi ấm tình yêu của anh, để thắp đuốc dâng những tin yêu cho đời nhưng cuộc đời vốn tàn nhẫn “đâu biết thế”. Vậy nên: Xin em còn đâu đó cho tôi còn tiếng ruRu em ngồi yên nhé, tôi tìm cuộc tình cho. Một ngày, nếu em lại bị bão giông vùi dập, làm cho chao đảo, mong em hãy vững vàng để tôi còn có em trong cuộc đời, “để tôi còn tiếng ru”, để tôi được vỗ về tâm hồn em. Và em nếu mỏi mệt rồi “xin hãy ngồi yên nhé” đừng gắng gượng, đừng làm đau mình nữa, hãy ngồi xuống bình tâm, tĩnh lặng để “tôi tìm cuộc tình cho”. Về câu hát “Ru em ngồi yên nhé, tôi tìm cuộc tình cho”, rất nhiều người cho rằng, chàng nhạc sĩ trẻ họ Trịnh muốn biểu đạt thứ tình yêu cao thượng, vượt lên sự nhỏ nhen tầm thường, tìm cho người mình yêu một “cuộc tình”. Tuy nhiên, trong một cuốn phim tài liệu, nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã giải nghĩa rằng:“Thực ra tôi muốn bảo là cô gái hãy ngồi im đó, tôi đi tìm cuộc tình cho, vì em đẹp quá, em đi tìm rồi tôi mất em làm sao. Tôi dự định đi một hồi rồi quay lại nói: Anh tìm mãi không ra, thôi em yêu anh cho rồi. Nhưng tôi chưa kịp nói câu ấy”. Lời giải thích khá tếu táo và giản dị của người nhạc sĩ tài hoa để chúng ta thấy rằng, cuộc đời cũng như tình yêu đôi khi giản dị đến bất ngờ. Tưởng như có thể dễ dàng nắm bắt được nhưng rồi lại không thể. VớiRu Tình, một lần nữa, chúng ta lại thấy sự đa tầng và thú vị trong ngôn ngữ âm nhạc Trịnh, vừa thực vừa hư, vừa mang chất đời vừa mang chất thiền chất Phật. Đó chính là thứ men say huyền hoặc mà nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã rắc vào âm nhạc của ông. Mỗi ca khúc của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đều như một búp sen chúm chím chuẩn bị bung nở. Và người yêu sen lật mở từng cánh sen tươi mát, hít hà thứ hương thơm dìu dịu, thanh thoát mà quyến rũ đắm say lòng người. Bài: Niệm QuânBản quyền bài viết của nhacxua.vn Mối tình của nhạc sĩ họ Trịnh với nàng thơ xứ Huế (thực ra là gốc Bắc) tên là Ngô... Sau đây, mời các bạn đọc lại những bài phỏng vấn nhạc sĩ Trịnh Công Sơn. Đó có thể chỉ... Chủ nghĩa hiện sinh du nhập vào Việt Nam mạnh mẽ từ những năm thập niên 1960, ảnh hưởng cả... Không biết tự bao giờ tôi có thói quen ngồi một mình, lặng đi trước những ca khúc của Trịnh.... Hơn 60 năm đã trôi qua kể từ ngày những bản Trịnh ca đầu tiên ra mắt công chúng, chưa... Nữ danh ca Thanh Thúy là một trong những ca sĩ nổi tiếng của dòng nhạc vàng, hát nhạc vàng... © 2020NhacXua.VN- Nhạc Xưa Thời Báo.

Tuyệt Phẩm Thơ Phổ Nhạc

Xem tất cả

Kho Tàng Lưu Trữ

Tác phẩm tiêu biểu

Xem tất cả
Featured Story

Diễm xưa

Tổng quan “Diễm xưa” là tình khúc tiền chiến diễm lệ và nổi tiếng nhất của Trịnh Công Sơn, sáng tác năm 1960 tại cố đô Huế. Tác phẩm lấy cảm hứng từ...

Bài viết nổi bật
Mới cập nhật

Bao Giờ

Tác phẩm mới được tổng hợp và đưa vào hệ thống.

Tác phẩm
Mới cập nhật

Ba Mươi Năm

Tác phẩm mới được cập nhật vào kho lưu trữ kỹ thuật số.

Tác phẩm

Góc Kiến Thức

Ngày này năm xưa

Tháng 5 năm 2014: Hiện tượng "Chắc ai đó sẽ về" làm khuynh đảo các bảng xếp hạng V-Pop, đồng thời mở ra cuộc tranh luận lớn nhất về vấn đề bản quyền trong lịch sử âm nhạc Việt Nam.

Bạn có biết?

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại gia tài âm nhạc đồ sộ với hơn 600 ca khúc, trong đó phần lớn là các bản tình ca buồn.

Kỷ lục Âm nhạc

  • 🏆 Nghệ sĩ nam có nhiều MV trăm triệu view nhất: Sơn Tùng M-TP
  • 🏆 Cống hiến nhiều nhất: Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn

Kết nối nghệ sĩ & Tác phẩm

NETWORK HIGHLIGHT

Làn Sóng Xanh Era

Khám phá mạng lưới kết nối giữa các nhạc sĩ và ca sĩ định hình âm nhạc đại chúng Việt Nam những năm 1990-2000.

Khám phá bản đồ
Bộ sưu tập

Giai Thoại & Câu Chuyện

Những câu chuyện thâm cung bí sử, hoàn cảnh sáng tác phía sau những bài hát bất hủ.

Bộ sưu tập

Thơ Phổ Nhạc

Sự giao thoa tuyệt đẹp giữa thi ca và âm nhạc. Những bài thơ được chắp cánh bởi giai điệu.

Vintage sheet music and instruments
Bộ sưu tập đặc biệt

Giai đoạn vàng trước 1975

Một góc nhìn sâu sắc về các trào lưu âm nhạc đa dạng đã nảy nở tại Sài Gòn.