Bao Giờ
Tổng quan Bài hát "Bao Giờ" do nhạc sĩ Đỗ Bảo sáng tác phần nhạc. Phần lời và năm sáng tác: Đang cập nhật. Nội dung nghệ thuật "Bao Giờ" mang đặc t...
Khám phá kho lưu trữ kỹ thuật số, nơi kết nối các thế hệ nghệ sĩ, câu chuyện đằng sau những bản nhạc bất hủ và mạng lưới tri thức âm nhạc sâu rộng.
Tổng quan Bài hát "Bao Giờ" do nhạc sĩ Đỗ Bảo sáng tác phần nhạc. Phần lời và năm sáng tác: Đang cập nhật. Nội dung nghệ thuật "Bao Giờ" mang đặc t...
Tổng quan Bài hát "Anh vẫn buồn như xưa" được sáng tác và viết lời bởi nhạc sĩ Tăng Nhật Tuệ. Năm sáng tác: Đang cập nhật. Tăng Nhật Tuệ là một nhạc ...
update_topic(strategic_intent='Creating an encyclopedia entry for Phương Vy based on the provided data, following specified formatting and content rul...
Trình duyệt của bạn không cho phép chơi nhạc. Ba mươi năm - Võ Tá Hân phổ nhạc, Khắc Dũng trình bày...
Tổng quan Tên bài hát: Anh đứng đây là đâu Người sáng tác nhạc: Đang cập nhật Người viết lời: Đang cập nhật Năm phát hành: Đang cập nhật Nội dung n...
Nhạc thiếu nhi...
Viết trong bầu không khí se se lạnh rộn rã rước xuân của phố thị Sài Gòn những ngày giáp tết năm 1998. Chứng kiến sắc hoa đào hoa mai rực rỡ đua nở đón nắng xuân, nhạc sĩ Bảo Chấn muốn tạo ra một nhạc phẩm ngập tràn niềm hạnh phúc trong sáng thanh khiết để mang tiếng cười rạng rỡ đến cho mọi tổ ấm gia đình Việt Nam ngày tết.
Mặc dù nhạc sĩ Dương Thiệu Tước theo học nhạc Tây từ thuở nhỏ, nhưng từ thời kỳ cuối thập niên 1940, nhạc của ông thấm đẫm tính dân tộc. Lúc sinh thời, ông từng nói: “Theo tôi tân nhạc Việt Nam phải thể hiện rõ cá tính Việt Nam. Để đạt được điều này, người sáng tác phải hiểu rõ nhạc Việt qua cách học nhạc cụ cổ truyền cũng như hát được các điệu hát cổ truyền”. Điều đó được thể hiện rõ qua các ca khúc nhưƠn Nghĩa Sinh Thành, Đêm Tàn Bến Ngự, đặc biệt làTiếng Xưacủa nhạc sĩ Dương Thiệu Tước. Click để nghe Thái Thanh hát Tiếng Xưa trước 1975 Ca khúcTiếng Xưalà những tâm sự bàng bạc của một người lữ khách khi đứng trước những thành quách cũ rêu phong đã thành phế tích, cảm nhận được những oai linh uy vĩ, người nhạc sĩ chợt nhớ về câu chuyện Tỳ Bà Hành của Bạch Cư Dị năm xưa, và nghe như khúc nghê thường vọng về từ ngàn năm trước: Hoàng hôn lá reo bên thềmHoàng hôn tơi bời lá thuSương mờ ngậm ngùi xuân xanhBâng khuâng phím loan vương tình Click để nghe Giao Linh hát trước 1975 Khung cảnh của bài hát được giới thiệu là một buổi hoàng hôn với lá thu rụng tả tơi bên thềm, xa xa là sương mờ giăng khuất lối. Một cảnh gợi buồn và làm lòng người bâng khuâng, vương tình lên những phím loan. “Phím loan” là một từ cổ, có nghĩa là cung đàn, mà ở phần sau đó nhạc sĩ nhắc lại trong câu hát“cung đàn nhỏ lệ Tầm Dương”. Đâu bóng trăng xưa mơ khúc nghê thườngPhai tàn một thời liệt oanhxa đưa gió may lạnh lùng… Bài hát này được nhạc sĩ Dương Thiệu Tước viết trong hoàn cảnh ông thường xuyên đi về giữa Hà Nội và Huế để tìm hiểu về những làn điệu dân nhạc và cổ nhạc xa xưa. Huế với những phế tích u buồn trầm mặc suốt trăm năm, làn gió heo may lạnh lùng như từ cõi nào xa xăm thoảng qua hồn người lữ khách, mang theo cả linh khí của những đấng quân vương đã một thời liệt oanh còn in hằn trên những rêu phong thành quách, như khúc nghê thường bàng bạc sương khói mông mênh của những ngày xưa cũ. Trước cảm giác có vẻ rất mơ hồ, nhưng trong lòng người lại cảm nhận được sự đau xót thực sự, và 2 dòng châu đã tuôn trào niềm xót xa trong tâm khảm: Chiều thu nhớ nhung vì đâu,Thắm đôi giòng châuTiếc thay tại sao đành lỡ làng Man mác khói hương bay dịu dàngNhư tóc mây vươngDáng liễu mơ màngCung đàn nhỏ lệ Tầm Dươngai đó tri âm biết cùng. Nhạc sĩ Phạm Duy từng có nhận xét về tân nhạc thời kỳ đầu, đại loại, ông nói rằng cả một dòng nhạc tiền chiến được “thoát thai từ Đường thi”. Và nhạc sĩ Dương Thiệu Tước (rồi sau này là Đoàn Chuẩn, Cung Tiến, Nguyễn Văn Đông…) đã thường xuyên đưa những điển cố, điển tích vào trong âm nhạc. Click để nghe Hoàng Oanh hát trước 1975 Với bàiTiếng Xưa,nhạc sĩ Dương Thiệu Tước đã sử dụng nhiều hình ảnh trong bài thơ Tỳ Bà Hành của thi sĩ Bạch Cư Dị, và có thể nói rằng Tầm Dương đã vượt thoát ra khỏi một địa danh cụ thể ở bên Trung Hoa để trở thành Tầm Dương chung của muôn triệu lòng người. Trước đó, những hình ảnh như “bóng trăng”, “khúc nghê thường”, “giòng châu” hay “ai đó tri âm” cùng đều liên quan đến bài thơ “Tỳ Bà Hành” nổi tiếng. Bến Tầm Dương từ thơ của Bạch Cư Di với nét phong sương lãng đãng của tài tử cùng nỗi sầu của người kỹ nữ truân chuyên vì đã quá tuổi và nhan sắc tàn tạ. Trong hơi thu quạnh quẽ vào lúc đêm tàn, người kỹ nữ dáng liễu mơ màng rung lên khúc nghê thường để mong tìm chút đồng cảm tri âm của người khách qua đường. Lần thứ nhất, tiếng tỳ bà mời khách vang lên từ xa “nghe vẳng bên sông” hòa với hơi thu, với tiếng lau lách đìu hiu. Lần thứ hai, tiếng tỳ bà réo rắt với bao thanh âm huyền diệu nhặt khoan, sầu thương giữa tiệc hoa. Lần thứ ba, tiếng tì bà ai oán rung lên cuối tiệc rượu. Tiếng đàn người kỹ nữ, chén rượu tiệc hoa, giọt lệ trên chiếc áo xanh lam của quan Tư Mã trong đêm thu tượng trưng cho những phận người gian truân và chìm nổi ở trên đời. Hơn 1000 năm sau đó, nhạc sĩ Dương Thiệu Tước đứng giữa trời đất và thành quách xưa cũ, nghe gió thu về vọng âm như khúc nghê thường năm xưa, chính là Tiếng Xưa đã làm dâng lên bao nhiêu niềm xúc cảm. Click để nghe Thanh Thúy hát trước 1975 Bài hát này còn được nhạc sĩ Dương Thiệu Tước viết lời 2 như sau: Hoàng hôn gió sương lạnh lùngHoàng hôn bao niềm nhớ nhungThiết tha đàn rung tiếng tơVấn vương trôi theo mây mờ Đâu khúc cô liêu duyên dáng tiêu điềuDư âm chìm theo giòng châutràn lan sóng vương mạch sầu. Đàn ôi thiết tha vì đâutiếng xưa trầm ngâmlắng rung đường tơ bao mơ màng Lưu luyến hương thu thêm dịu dàngAi có hay chăngSay khúc ưu tư,gió sương chiều thu buồn mơAi đó tri âm hững hờ. Bài: Đông KhaBản quyền bài viết của nhacxua.vn Nếu Dương Thiệu Tước là người viết ca khúc khêu gợi nhất từ thời “tiền chiến”, thời phôi thai của... Nhạc sĩ Dương Thiệu Tước sinh năm 1915, là một trong những người đầu tiên đặt nền móng cho tân... Trong gia tài đồ sộ những tác phẩm âm nhạc vượt thời gian của nhạc sĩ Dương Thiệu Tước, công... Nhạc sĩ Dương Thiệu Tước là nhạc sĩ thế hệ đầu của tân nhạc Việt Nam với những ca khúc... Nhạc sĩ Dương Thiệu Tước được ghi nhận là một trong những người đặt nền móng cho nền tân nhạc... Nhạc sĩ Dương Thiệu Tước - tác giả của những ca khúc nổi tiếng của thời kỳ đầu tân nhạc... © 2020NhacXua.VN- Nhạc Xưa Thời Báo.
Bài viết này sưu tập những ý kiến của chính các nhạc sĩ nổi tiếng lúc sinh thời, kể về chuyện câu chuyện sáng tác ra những ca khúc để đời. (trích từ vidéo 40 Năm âm Nhạc Lam PhươngThúy Nga Paris thực hiện) Khởi viết, vào lúc 12, 13 tuổi. lúc tôi học nhạc chưa có trường Quốc Gia âm Nhạc vì vậy, tôi mới tìm những ông thầy dạy riêng tư để mà học. Trong đó, ông dạy đầu tiên cho tôi hiện tỵ nạn tại Âu Châu; người thứ hai là một nhạc sĩ sáng tác nổi tiếng, đang ở lại quê nhà. Tôi xin gởi tất cả lòng tri ân của tôi đến hai vị giáo sư đó. Trong bốn thập niên vừa qua, nếu tổng kết, tôi sáng tác khoảng 200 bài. Nếu đem 200 bài đó chia đều cho 40 năm thì cũng không có bao nhiêu. Có bài ở Việt Nam không được phổ biến, nhưng qua đến hải ngoại các bài đó được hưởng ứng nồng nhiệt. Trong thời gian những năm thanh bình của đất nước, bài “Nhạc Rừng Khuya” được tôi viết cho các anh hướng đạo sinh đốt lửa trại để khiêu vũ. Và bài thứ hai là bài ‘Ngày Tạm Biệt’ để hát trong dịp bãi trường. Nhạc tiêu biểu nhất trong thời gian này là bài ‘Khúc Ca Ngày Mùa’ và ‘Trăng Thanh Bình’. Tôi nhớ rõ vào năm 1944, ngày quân đội Pháp trở lại chiếm miền Nam, lúc đó tôi được 7 tuổi, theo mẹ để tản cư về miền đồng quê, khoảng 10 cây số. Thời gian tản cư đó tôi mới nhìn được cánh đồng quê thực sự, như cảnh gặt lúa, cảnh cấy lúa, cảnh giả gạo. Những hình ảnh đó theo đuổi trong trí tôi đến 10 năm sau. Năm 17, tôi mới đem những hình ảnh đó ghi vào nét nhạc; và tôi mượn một điệu nhạc lúc đó được phổ biến rộng rãi là Rumba manbo gọi nôm là dân ca manbo. Bài ‘Khúc Ca Ngày Mùa’ là bài khởi đầu loại nhạc manbo đó. Tôi viết bài ‘Kiếp Nghèo’ trong hoàn cảnh hoàn toàn thật của tôi lúc đó. Viết bằng rung động chân thành, và lần đầu tiên tôi viết bài ‘Kiếp Nghèo’ bằng những giòng nước mắt… Lúc đó tôi còn trẻ lắm, khoảng 1954, sau khi tôi bán được bài ‘Trăng Thanh Bình’ đầu năm 53, tôi để dành được một số tiền. Tôi mua một chiếc xe đạp để di chuyển trong lúc đi học. Nhà tôi ở Dakao. Thường thường muốn về Dakao phải đi qua con đường Phan Thanh Giản. Con đường Phan Thanh Giản cây cối um tùm. Khoảng ngang trường Gia Long không có một căn nhà nào… Đêm đó, tôi chẳng may gặp một trận mưa rất to, không có nơi để trú mưa, đành phải đi dưới mưa để tìm ‘thú đau thương’. Gần tới nhà phải qua một cầu ván gập ghềnh. Về tới nhà mưa to quá, nên cái bàn tôi ngồi học bài ướt hết, tạo cho tôi cảm xúc, từ đó ‘Kiếp Nghèo’ ra đời. Vào những năm 1958, 1959 và 1960 miền Nam bắt đầu nhen nhúm chiến tranh trở lại, kéo dài cho đến Tết Mậu Thân 1968, mùa hè đỏ lửa 1972 và đến ngày sụp đổ miền Nam, năm 1975. Tôi nghĩ rằng tất cả thanh niên chúng ta, trong mỗi gia đình, đều có một người trong quân đội. Tôi may mắn được ở hậu phương an toàn. Trái tim tôi luôn luôn gởi về chiến tuyến. Tôi theo dõi những bước chân oai hùng của các anh chiến sĩ. Tôi thương anh chiến sĩ, vì lẽ đó mà tôi đã viết khoảng 40 bài cho các anh chiến sĩ đó, như những bài ‘Tình Anh Lính Chiến’, Chiều Hành Quân’, là những bài tới giờ phút này vẫn còn thâu đi thâu lại trong các băng nhạc. Về chủ đề bài hát, dù tôi viết nhiều loại, nhưng tôi nghĩ Tình là đề tài muôn thuở của những nhạc sĩ sáng tác. Tình càng đau đớn, người ta càng dễ nhớ. Tôi cũng không thoát khỏi định luật đó. Thường thường tôi viết nhạc theo biến chuyển tình cảm riêng tư của đời mình. Bài nhạc tôi viết cho một người mà tôi chưa biết mặt, chưa bao giờ nghe hát. Tôi chỉ nhìn một chân dung nho nhỏ và một mẩu tin ở trên báo, đã gây một xúc động mạnh để viết bài nhạc đó. Ca sĩ đó thành công trọn vẹn trong bài đó. Chính là người gây nguồn cảm hứng là nữ ca sĩ Họa Mi (nhạc phẩm Em Đi Rồi). Trước 1975, tôi đã từng viết loại nhạc như ‘Chờ Người’, ‘Trăm Nhớ Ngàn Thương’. Lúc đó vì nhu cầu hãng dĩa, băng và chính nhà xuất bản của tôi, buộc tôi phải viết loại nhạc đại chúng. Sau 75, thì tôi viết cho mình trong đó có ‘Cho Em Quên Tuổi Ngọc’, ‘Bão Nắng’, ‘Như Giấc Chiêm Bao’… Nhạc Sĩ Lê Uyên Phương (1941-1999) Trả lời nhà báo Trường Kỳ(tuyển tập nghệ sĩ 1 xuất bản năm 1995) Viết nhạc đối với tôi là một hình thức viết nhật ký. Tôi không viết ca khúc bằng sự tưởng tượng mà bằng những gì thực sự xảy ra trong cuộc sống của tôi. Tôi không viết từng bài hát riêng rẽ, mà luôn viết thành từng tập ca khúc, là một đề tài nhất định mà tôi cố gắng để đào sâu tới mức nào tôi có thể. Có những ca khúc viết nhạc trước lời sau, có những ca khúc viết lời trước , có những ca khúc nhạc và lời viết cùng một lúc. Khi sáng tác tôi luôn luôn cảnh giác để không bị ảnh hưởng bởi bất cứ tác giả nào. Tôi đều ưng ý nhất mọi tác phẩm tôi còn giữ lại vì tác phẩm không ưng ý tôi đã loại khỏi những tập nhạc của tôi. Mỗi ca khúc đánh dấu một thời điểm nhất định và không thể nào thay thế hay có thể tìm lại được. Không có thói quen khi sáng tác, cảm hứng có thể đến với tôi trong bất cứ hoàn cảnh nào. Nhạc Sĩ Văn Cao (1923-1995) Kể chuyện liên quan đến một số tác phẩm của ông(trích từ video Giấc Mơ Một đời Ngườido đinh Anh Dũng đạo diễn. Yến Xuân Productions thực hiện,hảng phim Trẻ sản xuất năm ) Tôi là người luôn luôn thất bại trong tình yêu. Cái thất bại này bởi tôi là người không giỏi về cách giao lưu với những người đàn bà. Mà lại đối với những người đẹp, tôi lại càng bối rối, không bao giờ nói được với người ta, đành nói trong thơ nhạc thôi. Thiên Thai– Tại sao tôi nói đến Thiên Thai, là bởi vì một nơi, một cõi nào đó người ta coi là đất Hứa, mà đất Hứa thì không ai tìm được trên trần gian này. đi tìm mãi trong cái hoài niệm của mình, tuổi thanh niên, thì nhớ rằng có lần tìm ra được… Trương Chi– Tôi viết bài này để nói cái tình cảm của tôi, là mình chỉ có một mình . Không sống lại với cái thú quá mơ mộng của cuộc đời không đạt được. Bến Xuân– Tôi yêu một người con gái mà tôi không ngõ lời với người ta, nhưng họ hiểu và họ tới với tôi, thành ra nó mới có cái chuyện làEm đến tôi một lần…một mối tình câm, mà để lại đời mình một bài hát thế thôi, không có cái gì cả. Buồn Tàn Thu– Có lẽ cuộc đời sinh ra tôi ở mùa Thu, đấy là những ngày sinh nhật của tôi vào mùa Thu. Không hiểu sao, thơ mà mình ảnh hưởng là những bài thơ về mùa Thu. Và bản thân tôi, thì mùa Thu, ngoài cái ấm của nó, cái se lạnh của nó về cuối mùa, thì cũng là cái ngày người ta gọi là nhiều tưởng tượng nhất. Thu Cô Liêu– Tôi viết Thu Cô Liêu cũng là mùa thi của những người đang đi học, mùa thu của những nhà thơ. Mùa Thu mang nhiều thay đổi của con người. Và cái Thu Cô Liêu là cái Thu buồn bã của một cái ngày xa vắng và cái nhớ đi tìm người yêu trong cái Thu thôi. Cung Đàn Xưa– Có nhiều buổi sáng có người khi hết giấc mơ lại tiếp tới thấy một giấc mơ khác ở trong đời. Những ước mơ thì không có thật, nhưng mà nó đem lại cho mình, thường nghĩ tới những ngày sống cũ. Nghĩ lại, vẳng lại những tiếng nói của kỹ niệm cứ đeo đẳng không thể quên được. Những cái đó , tôi tìm ra được những cái điều mà tôi đã mất đi trong tuổi thanh niên của tôi. Nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng (1937-2000) điện đàm cùng nhà báo Trường Kỳ(tuyển tập Nghệ sĩ 3 xuất bản năm 1998) Tôi bắt đầu viết nhạc từ thời còn đi họcm khoảng 1955, 1956, nhưng mãi đến 1965, 1966 ca khúc mới có cơ hội phổ biến rộng rãi. Những bài hát của tôi viết ra phần nhiều là man mác có dính líu đến đời sống riêng của tôi, đời sống về tình cảm riêng của tôi… cùng bối cảnh của từng thời. Tình cảm của tôi thì có nhiều biến động. Tôi không cho một thứ tình cảm nào gọi là mất mát trong đời tôi cả. Tình yêu nó có cái thời của nó, thành thử khi nó đã có, rồi không có nữa thì cái có đó vẫn còn trong cách nghĩ ngợi nào đó. Về sáng tác, Có 3 giai đoạn : 1. Giai đoạn từ 75 về trước, thời đất nước chiến tranh. 2. Giai đoạn từ 75 đến 85. lúc tôi còn kẹt trong nước, 10 năm. 3. Giai đoạn sau 1975. Giai đoạn này có thời gian ngắn sống ở trại tỵ nạn Galang, Indonesia và thời gian định cư tại Hoa Kỳ từ cuối năm 85 đến nay. Mỗi giai đoạn trong tác phẩm của tôi đều có sự hiện hiện của Tình Yêu, hoặc Thân Phận của con người qua mọi biến chuyển của cuộc sống. Dĩ nhiên nó xen lẫn nỗi đau thương và niềm hạnh phúc. Công trình sáng tác, có thể kể như sau: Những nhạc phẩm đầu tay của tôi, rất tiếc đã bị tuyệt bản vì lý do này hay lý do nọ, nhất là vì biến cố tháng 4/75. Những nhạc phẩm được trình làng đầu tiên là: Rồi 20 năm Sau. ‘Rồi 20 Năm Sau’ gồm hai phần riêng biệt: phần 1: ‘Lời Của Mẹ’và phần 2: ’Lời Của Con’ (đã bị tuyệt bản). Trong khi ‘Lời Của Mẹ’ đến nay vẫn được phổ biến, đôi khi dưới tựa đề chung là ‘Rồi 20 Năm Sau’. Cũng trong thời gian 1966, tôi đã viết một loạt tình khúc và in thành tập gồm 14 bài mang tên ‘Trên Đỉnh Yêu đương’, trong đó có 4 bài được phổ từ thơ Hoàng Trúc Ly, xuất bản năm 1969. Hối Tiếc, Mây Hạ, Yêu Dấu Chưa Nguôi… Cõi Nghìn Trùng (thơ Hoàng Trúc Ly) cũng như Trên Đỉnh Yêu Đương đều nằm trong tuyển tập này. Từ đó đến những năm sau tôi đã viết ‘Bài Hương Ca Vô Tận’, ‘Bảy Ngàn đêm Góp Lại’, ‘Đưa Em Vào Hạ’, ‘Mùa Xuân Trên Cao’, ‘Trộm Nhìn Nhau’… Rồi biến cố Mậu Thân 1968 tôi viết ‘Chuyện Một Chiếc Cầu đã Gãy’ cho Huế và cả nước đau thương, rồi ‘Kinh Khổ’, ‘Khúc Sinh Ca’, ‘Đêm Trên Quê Hương’… Không nhớ hết… song song là những bài tình ca như ‘Mộng Sầu’, ‘Tưởng Niệm’, ‘Tưởng Không Còn Nhìn Thấy Nhau’, ‘Em Có Còn Trở Lại’, ‘Nghìn đêm Như Một’… Rồi loạt bài về hòa bình cho thời Hiệp định Paris như ‘Vĩnh Biệt Chiến Trường’, ’Hòa Bình Ơi, Việt Nam Ơi’, ’Hình Ảnh Của Một Ngày Hòa Bình’, ‘Nếu Xuân Này Hòa Bình’… Sáng tác trên đất Mỹ, khởi đầu là ‘Mười Năm Yêu Em’, rồi ‘Bản Tình Ca Mùa Đông’, ‘Thư Xuân Hải Ngoại’, ‘Đêm Nhớ Về Sàigòn’, ‘Hãy Hát Lên Tin Yêu’… Những nhạc phẩm đó có thể đi vào cá biệt hoặc đi vào đại thể, như có những bài về tình yêu nhưng vẫn có những vướng mắc của con người đang sống lưu vong. Đó là quan niệm của tôi, một người viết nhạc, một người lưu vong sáng tác. Đề tài sáng tác của tôi thay đổi theo nhịp sống, hơi thở chung quanh của người Việt hải ngoại… Mỗi một thời nó đều có những sáng tác đi theo tôi chứ tôi không có thay đổi cách sáng tác gì cả. Hoàn cảnh cho tôi những biến đổi trong sáng tác. Tôi nghĩ đó là điều cần cho tôi và đó là cách để cho mình có những sáng tác dồi dào. Nó ghi nhận được từng thời một của cuộc sống, ít nhất cho bản thân của mình. Bên cạnh đó là những người cùng sống với mình, cùng chia sẻ đời sống, chia sẻ những cái vui cái buồn với mình. Vậy thì chủ đề tôi vẫn viết về Tình Yêu, Quê Hương, Thân Phận Con Người và Giữa Con Người Với Con Người cũng như Giữa Mình với chính bản thân mình… Trong đời sống có những cái tiêm nghiệm, cách sống, thái độ sống với mình, với người khác…tất cả những cái đó đều ghi nhận trong cuộc đời sáng tác của tôi. Nhạc Sĩ Văn Phụng (1931-1999) trả lời nhà báo Trường Kỳ(tuyển tập Nghệ sĩ 5 xuấn bản năm 2001) Tôi được Linh mục Mai Xuân Đỉnh chỉ dẫn thêm về nhạc, và sau đó tự học hỏi qua sách vở. Cái gì không hiểu tôi cũng tò mò lấy tự vị, dictionnary ra học. Chỉ tự học lấy vì ông cụ đâu có cho học, ông cụ thời ấy khó lắm, chỉ có muốn tôi làm bác sĩ thôi, đâu có muốn tôi làm nhạc sĩ, ông cụ bực lắm. Nhưng mà nhân thể tôi viện cớ là phải vào lính. Một là mình đi lính chiến, hai là mình đi lính nhạc. Mà lính nhạc thì nghe có vẽ dễ chịu hơn… cầm súng, cầm siếc chán lắm! Khởi đầu với ‘Ô Mê Ly’ vào năm 1948 và kết thúc với ‘Chán Nản’ năm 1972. Sáng tác lai rai… chẳng có lúc nào mạnh, lúc nào yếu cả… cứ làm đại thôi! Có hứng là làm, gặp cái gì làm cái đó… Nói đúng thì đối với tôi, bài nào tôi cũng hài lòng. Không có bài gì đặc biệt lắm. Nhưng cũng có một vài bài hơn hơn một chút, thí dụ như bài ‘Suối Tóc’ chẳng hạn, tôi thích lắm. Hay như bài ‘Tôi đi Giữa Hoàng Hôn’. Mọi người đều thích bài đó. Gần nhất là bài ‘Chán Nản’, vào độ 1972, 1973 gì đó, thiên hạ thích lắm. Những ca khúc khác, được biết đến nhiều: Các Anh đi (phổ thơ), Tình, Suối Tóc, Mưa, Tiếng Hát Với Cung Đàn, Tiếng Dương Cầm, Trở Về Huế, Ghé Bến Sài Gòn… Nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ (1929-2001) tài liệu của nhà báo Trường Kỳ(tuyển tập Nghệ sĩ 4 – xuất bản năm 2000) Khi nhỏ, tôi làm nhạc trong lúc ở trung học. Mình cứ đi theo lý tưởng của mình và tôi có một niềm đam mê dễ sợ lắm, do đó mình cứ làm hết việc này qua việc khác. Khi mình làm những cái việc đó mình có nghĩ rằng một ngày nào những việc gì mình làm sẽ tích lũy để mang đến cái danh cho mình không? Tuyệt đối không! Bởi tôi nghĩ rằng, nếu mình làm được gì thì mình làm lấy thôi. Nhưng mà qua trên 50 năm, thì tôi thấy, đến phút này, nghiệm lại, và thấy được mình đã làm nhiều quá. Không những tôi làm về nhạc mà còn đi vào những lĩnh vực khác. Tôi tạo ra show, làm đạo diễn để tập cho các ca sĩ biểu diễn. Tôi còn làm về vũ, sáng tạo với những vũ sư mà tôi thấy có khả năng để xây dựng cho nền vũ của mình. Làm về điện ảnh, viết nhạc kịch, làm đủ thứ. Không phải mình tham lam, nhưng nghĩ rằng là mình làm được cái gì thì làm. Sau năm mươi mấy năm trời, bây giờ mình ngồi lại, thấy mình làm quá nhiều! Cho nên về cái bệnh của tôi, tôi ít khi than phiền lắm. Một người như vậy thì phải như vậy thôi! đã quá nhiều ‘stress’ trong đời văn nghệ rồi! Lúc sau này khi về hưu rồi, tôi chỉ sống với âm nhạc thôi… Một hôm ngồi ăn với một cô ca sĩ có chiếc răng khểnh đẹp, nhìn thấy cái miệng đẹp quá, tôi tưởng tượng như một đoá hoa. Tôi đã bị ảnh hưởng bởi những chuyện hoa rồi… bây giờ hoa ở nhà mình cũng có, hoa ở ngoài vườn cũng có, hoa ở ngoài đời cũng có. Nếu bây giờ mỗi người con gái đều mang cái hoa nở ra miệng thì quá đẹp vì vậy, tôi làm bài ‘Nụ Cười Hoa Nở’ (khoảng tháng 2 năm 98)… Những cái đó tôi không dám nói là độc đáo, nhưng tôi dám thành thực để nói ra. Nếu sau này tôi chết rồi, nếu ai nghe những điều đó họ có thể hơi cười, mà điều đó họ không thể hiểu được. Tôi có những phút sống với âm nhạc, với nghệ thuật như vậy thôi ! Trong cái giai đoạn cuối cuộc đời tôi, tôi sống như một ông tiên. Tôi không có lo nghĩ cái gì nữa hết… Buổi sáng dậy, tôi uống nước, tôi nhìn ra dàn hoa, tôi nhìn những con chim. Tôi nghe vang vọng lại những cái bài của tôi đã làm hay những cái bài người khác. Rồi tôi lại thích viết nhạc, tôi đọc sách, tôi lại tiếp tục đọc sách. Tôi thấy như vậy là cuộc đời đẹp đẽ quá, và tôi sáng tác được. Nhưng tôi khác ông tiên cái chỗ này: ông tiên không còn vướng bụi trần, còn tôi thì khổ quá, đến phút này mà trái tim vẫn rung động! Như vậy vẫn còn vướng bụi trần, bắt tôi phải sáng tác hoài. Nó chỉ khác chỗ đó thôi. Nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn trả lời nhà báo Nguyễn Phúcbiên tập viên đài BBC Luân đôn(tạp chí Văn Học) Cái buồn cười là khi bắt đầu viết nhạc, ưng viết cho khúc mắc, cho khó khăn, sau này đọc thêm, học thêm, nghe nhiều mới thấy được cái simpicité (giản dị) mà đạt được mới là khó. Ðúng vậy, mãi về sau này, khi vào thành rồi, tôi mới học composition. Nhưng có cái buồn cười là lúc đó, mình chưa học composition mà lại viết nhạc, viết được có lẽ nhờ mình nghe nhiều, sống nhiều với âm nhạc. Cũng như có nhiều người có học luật lệ gì về thi ca đâu nhưng mà vẫn làm thơ, vẫn làm được thơ. Riêng trong âm nhạc, tôi nghĩ muốn viết cho vững, tối thiểu phải học harmonie, nó giúp cho mình chấm câu dứt đoạn. Người sáng tác nhạc ít nhất cũng phải biết hòa âm. Thiếu kỹ thuật đó, nhạc phẩm không có được mạch lạc chặt chẽ. Các nhạc sư Pháp cho rằng âm nhạc là sự vận chuyển của tâm trạng và tư tưởng. Sự vận chuyển này được tạo ra bởi hai trạng thái động và tĩnh. Có nghĩa là căng thẳng (tension) và buông dãn (détente). Ðể dễ hiểu, khi nghe một bài vọng cổ, đến đoạn nói lối (có khi kéo dài đến hàng trăm chữ), có lúc tiết điệu và âm điệu đang tạo sự căng thẳng, người nghe nín thở chờ đợi, chờ đợi gì, chờ đợi sự buông dãn của âm Hò chấm câu, là lúc cả rạp vỗ taỵ Lúc này là lúc âm nhạc chủ động, lời văn của bài ca là thứ yếu, chỉ có âm Hò họa điệu (chute) để cho người nghe thở phào. Có tiết điệu trống (rythme masculin), tiết điệu chiều ý người nghe theo nét nhấn (accent) của nhịp ấn định. Và tiết điệu mái (rythme féminin) là tiết điệu đưa lệch nét nhấn mà người nghe chờ đợị. Ðấy là một vài chi tiết của composition. Sau khi vào thành rồi, tôi bắt đầu học thêm khóa hàm thụ với Ecole Universelle ở bên Pháp. Tháng tháng gửi mandat-poste cho họ, theo học cours de composition. Sau khi học xong tôi được chấp nhận là hội viên của SACEM Hội Nhạc sĩ Pháp. Lúc bấy giờ tôi quyết tâm đeo đuổi ngành nhạc…. trả lời nhà báo Trường KỳVề Sự Nghiệp Và Những Bài Nhạc Tình Ca(Tuyển Tập Nghệ Sĩ 4 xuất bản năm 2000) Nếu cần phải tóm tắt cái gọi là sự nghiệp của Phạm Duy, thì đây là một dịp để tôi báo cáo với những người yêu nhạc : Có 3 con người ở trong tôi, cũng như mọi nghệ sĩ khác. Ba con người rõ rệt Thứ nhất, là con người tình cảm: là soạn những bản nhạc tình yêu cho cá nhân, không cứ ở trong một thời đại nào, ví dụ những bài nhạc như ‘Ngày đó Chúng Mình’, là những bài tình ca. Con người thứ hai: con người xã hội: là con người khóc cười theo mệnh nước, thì khởi sự bằng những bài ca yêu nước, yêu lịch sử với những ‘Gươm Tráng Sĩ’, ‘Chiến Sĩ Vô Danh’; qua những ‘Bà Mẹ Gio Linh’, qua cả những bài như ‘Huyền Sử Ca Một Người Mang Tên Quốc’… Cái xã hội tốt hay xấu, vẻ vang hay nhục nhằn thì nó đều hiện qua âm nhạc của tôi. Con người thứ ba: là con người tâm linh, con người lúc đó không còn là con người xác thịt nữa và cũng không phải là con người xã hội, mà phải vui phải buồn với cái xã hội của mình, mà phải hoà mình vào với thiên nhiên… Và tôi nghĩ rằng âm nhạc bao giờ nó cũng khởi sự bằng nhạc tâm linh cả… Cũng như tất cả những nhạc sĩ khác, tôi cũng có những bản nhạc cho tình yêu. Về tình yêu thì nó hơi khác với những người khác ở chỗ tính chất nhạc tình của tôi khác nhạc của ông Dương Thiệu Tước, hay là của ông Đặng Thế Phong, hay là của ông Trịnh Công Sơn… Nếu chúng ta nghe những loại nhạc tình của ông đặng Thế Phong, hay của ông Lê Thương, hay của ông Văn Cao thì đó là những tổ sư lãng mạn ở trong thời kỳ rất đẹp của tân nhạc lúc đó… Bên người tình nhân yêu nhau thì phải có mùa thu mới yêu nhau được. Thế cho nên hồi mới, ra toàn là những bài ca mùa thu: ‘Giọt Mưa Thu’, rồi thì ‘Con Thuyền Không Bến’, rồi thì ‘Thu Trên đảo Kinh Châu’, còn ông Văn Cao thì ‘Thu Cô Liêu’, rồi ‘Buồn Tàn Thu’… Thời kỳ đó là thời kỳ lãng mạn. Thật ra tôi cũng có những bài lãng mạn chứ không phải là không… Lúc bấy giờ tôi tách được ra, là tôi làm loại nhạc không còn lãng mạn nữa mà nó là tình cảm. Tôi khởi sự với những bài: ‘Tìm Nhau’, ‘Kiếp Nào Có Yêu Nhau’, rồi ‘Cho Nhau’ rồi thì ‘đừng Xa Nhau’… đôi tình nhân yêu nhau không cần phải mùa thu, không cần phải con đò, ao lạnh hay trên cái hồ xưa gì cả! Mà hai người yêu nhau thì chỉ có người nam với người nữ yêu thôi.‘…ngày đó em đi nhẹ vào đời…’, anh ra sao, em ra sao, chỉ có hai người ấy thôi thì tôi gọi đó là nhạc tình cảm. Về sau này cũng có một số những anh em khác cũng đi vào cái con đường đó, có thể còn hay hơn nhạc của tôi cơ, nhưng mà dù sao tôi là người đi đầu. Những người đi sau, ví dụ như Ngô Thụy Miên chẳng hạn, với loại nhạc mà theo tôi, gần với Phạm Duy nhất, chứ không có tính chất lãng mạn nữa, ví dụ như bài mà tôi rất thích có lời như“dù mai đây ai đưa em đi đến cuối cuộc đời…”gì đó, phải không? Nó gần gũi với nhạc tôi lắm. Hơn nữa, có thể thấy rõ rằng là về sau, nhạc tình của ông Trịnh Công Sơn thì nó không có tình cảm, mà nó cũng không có lãng mạn… Tôi gọi đó là nhạc ‘não tình’. Nó cũng không vào tim mà cũng không vào đầu; nó đánh vào cái não của mình. Vì cái đời sống lúc đó nó não nề quá. Hay nhạc của ông Lê Uyên Phương chẳng hạn thì nó cũng không giống những người khác, tức là nó ‘dục tính’, nó xưng tụng cái tình dục như ‘Vũng Lầy Của Chúng Ta’, đại khái như vậy! Nghe nhạc Lê Uyên Phương thấy nó khác nhạc Phạm Duy, nó lại càng khác nhạc của Đặng Thế Phong, là ở chỗ nó xưng tụng cái dục tình. Còn cái đời sống của ông Văn Cao trong nhạc tình thì còn tuyệt vời hơn. Nếu cần phải biết là nhạc của tôi khác với nhạc của những người khác về phương diện nhạc tình ra sao, thì hôm nay tôi mạo muội đưa ra vài ba nhận xét nhỏ như vậy… Ngoài những cái khía cạnh nội dung như vậy, xét đến cái phương diện hình thức, phải công nhận rằng lúc đó nhạc tình của những người như ông Văn Cao, ông Đặng Thế Phong hay như của Lê Yên, của ông Dương Thiệu Tước hay là ông Thẩm Oánh chẳng hạn, không phát triển mạnh mẽ về phương diện nhạc tính, phương diện nhạc điệu. Gần như ở trường hợp là hãy còn bình dị quá. Thí dụ như nhạc tình của ông Văn Cao thì đại đa số chỉ nằm trong cái âm giai ‘Ré mineur’ (Cn) chẳng hạn, hay trong một cái khuôn khổ 32 ‘mesures’. Nhưng dù sao ông ấy cũng có hai tác phẩm tuyệt vời là ‘Trương Chi’, với ‘Thiên Thai’, hai tác phẩm lớn. Nhưng dù sao đi chăng nữa, nhạc ngữ của ông ấy cũng không được phong phú như chúng ta mong muốn. Riêng tôi, thì tôi cũng mừng về cái loại nhạc tình cảm đó, nó cũng đi từ những chỗ hết sức giản dị cho đến những chỗ hơi cầu kỳ một chút xíu. đó là lẽ tất nhiên vì nghệ sĩ mà không sáng tạo thì đứng một chỗ, tức là lùi. Từ cái bài nhạc tình nhỏ nhen của tôi là ‘Đừng Xa Nhau’ khi chuyển sang bài ‘Đường Chiều Lá Rụng’, thì về nhạc ngữ có thể có một cái sự khác nhau, chứ không nằm trong nhạc ngữ bình dị nữa. Ngày 22/8/2024, khi ở tuổi 61, Trường Vũ - ca sĩ nổi tiếng với các ca khúc "Thân phận nghèo",... Giai điệu Bolero, với xuất xứ từ các thể loại nhạc như Rumba, Habanera, Valse và Tango, đã du nhập... Việc tặng bông trong các buổi đờn ca tài tử đã trở nên phổ biến trong những thập kỷ gần... Trong bài hát "Chiều Trên Phá Tam Giang" của nhạc sĩ Trần Thiện Thanh có câu: "Giờ này Thương Xá... Trong những thập niên 1950, 1960 và 1970, hình ảnh những chiếc taxi hai màu xanh - trắng (hoặc vàng... Những ai từng học ở trường Đại học Văn Khoa xưa, nay là trường Đại học Khoa học Xã hội... © 2020NhacXua.VN- Nhạc Xưa Thời Báo.
Nếu nhắc về những ca khúc thất tình nổi tiếng nhất, người ta thường nghĩ ngay đến những bài không tên trước năm 1975 của nhạc sĩ Vũ Thành An. Sau 1975, trong nỗi đau tình khôn xiết, nhạc sĩ Lam Phương cũng đã để lại những ca khúc mà tựa để chỉ có một chữ, đó làTiếc, Say, Điên, Mất…và nổi tiếng nhất làLầm: “Anh đã lầm đưa em sang đây, để đêm trường nghe tiếng thở dài…” Click để nghe Elvis Phương hát Lầm Những ca khúc này được nhạc sĩ Lam Phương viết trong khoảng thời gian đau buồn nhất của cuộc đời: Tha phương trên xứ người, tiếc cho một thời vàng son đã mất, và phải chia tay người vợ đã gắn bó trong suốt 20 năm. Trong một lần trò chuyện, nhạc sĩ đã tâm sự như sau: “Trên đời này ai cũng có ít nhất một lần lầm lẫn, có người lầm nhỏ, có người lầm lớn, nhưng tôi lại không may mắc phải một cái lầm rất lớn trong cuộc đời mình. Thay vì rút kinh nghiệm để tránh cho lần sau, tôi lại tiếp tục theo con đường cũ”. Năm 1975, nhạc sĩ Lam Phương cùng vợ và con lênh đênh trên con tàu Trường Xuân, và sau đó đặt chân lên đất Mỹ và đối mặt với muôn vàn khó khăn giống như rất nhiều di dân đồng hương khác. Trên đất mới, khi người Việt còn lao vào cuộc mưu sinh nên không ai còn tâm trạng để thưởng thức văn nghệ, khả năng của một nhạc sĩ thiên tài bị bỏ phí, Lam Phương phải làm những nghề như thợ tiện, thợ máy và cả chùi rửa bồn cầu để nuôi vợ con. Từ một triệu phú giàu có bậc nhất trong làng nhạc ở Sài Gòn trước năm 1975, đôi bàn tay tài hoa của nhạc sĩ Lam Phương đã có lúc phải làm những công việc tay chân như vậy. Nơi đầu tiên gia đình nhạc sĩ Lam Phương chọn dừng chân là Virginia, nhưng chỉ được một thời gian rất ngắn thì họ dọn về Taxas – nơi có đông người Việt hơn với hy vọng trở lại được với đời sống văn nghệ, là những thứ duy nhất họ đã làm khi còn ở Sài Gòn. Tại Texas, ban ngày nhạc sĩ Lam Phương làm cho hãng bán lẻ Sears, ban đêm xách đàn đi đệm cho một vài quán nhỏ của người Việt. Năm 1976 , nữ kịch sĩ Túy Hồng (vợ của nhạc sĩ Lam Phương từ năm 1959) tái lập được Ban Kịch Sống trên đất Mỹ với sự hỗ trợ rất lớn của người chồng chịu khó. Đôi vợ chồng nghệ sĩ lại được sống với nghề, được gặp gỡ bạn bè văn nghệ, gặp khán giả, đêm đêm sống lại hào quang dưới ánh đèn sân khấu… Tuy nhiên cũng từ đây mà bi kịch cuộc đời lại một lần nữa đến với nhạc sĩ Lam Phương: Năm 1979, cuộc hôn nhân 20 năm của Lam Phương – Túy Hồng tan vỡ, là nguyên nhân của hàng loạt sáng tác buồn của nhạc sĩ Lam Phương, mà tiêu biểu là“Anh đã lầm đưa em sang đây…” Không ai chia sẻ nguyên nhân của cuộc chia tay này, nhưng có vẻ như họ đã không vượt qua những thử thách khắc nghiệt của hoàn cảnh mới. Dù vậy sau này cả 2 vẫn dành cho nhau những lời lẽ tốt đẹp. Chia tay tuy buồn khổ nhưng vẫn văn minh. Nghệ sĩ Túy Hồng từng nói:“Nhạc sĩ Lam Phương vẫn luôn là người tôi kính trọng, dẫu đã từ lâu duyên đã cạn…” Sau này, có một lần MC Nguyễn Ngọc Ngạn nói bóng gió rằng vào thời điểm 1975, đa số di dân người Việt là đàn ông, vì việc ra đi phải đối mặt với nhiều sóng gió – cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng, và người đàn ông thường để lại vợ con để đi trước dò đường, sau khi ổn định thì mới đón gia đình qua sau. Tình trạng “dương thịnh âm suy”, mất cân bằng về giới tính như vậy là một phần nguyên nhân của nhiều phụ nữ đi tìm duyên mới. Từ đó nhạc sĩ Lam Phương đã than thở trong niềm niềm tuyệt vọng: Anh đã lầm đưa em sang đây,để đêm trường nghe tiếng thở dàiThà cuộc đời yên trong lòng đất,được trở về tiếng khóc ban sơHơn là mang kiếp mong chờ. Anh đã lầm đưa em về đây,Cho tâm hồn tan nát từng ngàyĐiệu nhạc buồn lâm ly huyền bí,Dìu lòng người sang chốn đam mêĐưa anh vào khổ lụy hôm nay Chia tay người vợ đã từng cùng nhau vượt qua bao nhiêu gian khổ, tâm hồn người nhạc sĩ đa sầu đa cảm bỗng như tan nát, đến nỗi ông thấy rằng thà nằm yên trong lòng đất (rồi qua kiếp sống khác bằng tiếng khóc ban sơ), còn hơn là kiếp này ôm mãi những mong chờ vô vọng. Lời yêu thương nồng cháy của hai mươi năm đầyngày yên vui hạnh phúc ước vọng đến tương laiđã vùi trong giấc ngủ saycơn đau và vũng lầy để anh đi, để anh viếtbằng yêu thương, bằng nước mắtbằng con tim đọa đàytìm quên trong mệt màiđể quên nỗi buồn còn đây… Ai cũng biết rằng trong 20 năm “yêu thương nồng cháy” vợ chồng, nhạc sĩ Lam Phương cũng đã không ít lần không chung thủy với vợ, với rất nhiều nhân tình đã được ông kể lại trong âm nhạc. Tuy nhiên khi phải thật sự mất đi người vợ mà ông trân quý trong lúc hoàn cảnh cuộc đời đã sang trang, thì điều đó dường như không có gì bù đắp nổi, phải ôm mãi cơn hận sầu không nguôi: Con tim nào không hay đổi thayCuộc tình nào không lắm hận sầuNgọn đèn vàng lung linh hè phốĐiệu nhạc buồn văng vẳng đâu đâyChỉ thêm làm giá lạnh đêm nay… Click để nghe Nguyễn Hưng hát Bài hátLầmđược gửi đến khán giả lần đầu tiên với giọng ca Elvis Phương, thể hiện đúng tâm trạng của rất nhiều đàn ông Việt tha hương phải“từng đêm trường nghe tiếng thở dài”khi đó, nên bài hát nhanh chóng nổi tiếng và được yêu thích suốt 40 năm qua. Thời gian sau đó, tiếng hát Nguyễn Hưng trên sân khấu Paris By Night đã góp sức thêm để đưa ca khúc này trở thành bài thất tình được yêu thích nhất sau năm 1975. Bài: Đông KhaBản quyền bài viết của nhacxua.vn Khi bài phỏng vấn này được thực hiện, nhạc sĩ Lam Phương mới 26 tuổi (năm 1963), được xem là... Càng nhìn em yêu em hơn và yêu em mãi Dù phút êm đềm xa xưa nay đã đi vào... Nhạc sĩ Lam Phương là một trong những tên tuổi nổi bật nhất của làng nhạc Sài Gòn trước năm... Trong số những nhạc sĩ nhạc vàng đã thành danh từ trước năm 1975, nhạc sĩ Lam Phương thường được... Thập niên 1960, mối tình đơn phương mà nhạc sĩ Lam Phương dành cho danh ca Bạch Yến đã trở... Năm 1979, nhạc sĩ Lam Phương chia tay cuộc hôn nhân 20 năm, ôm niềm đau lớn của cuộc đời... © 2020NhacXua.VN- Nhạc Xưa Thời Báo.
Khi nhắc đến những ca khúc nhạc vàng viết về xứ Huế nổi tiếng nhất, người ta thường nghĩ đến các bài quen thuộc nhưMưa Trên Phố Huế, Ai Ra Xứ Huế, Thương Về Miền Trung…là những ca khúc nhắc trực tiếp đến các địa danh ở Huế. Có một ca khúc ít người chú ý đến hơn trong dòng nhạc viết về Huế, nhưng luôn được yêu thích suốt hơn 60 năm qua, đó là bàiMong Chờcủa nhạc sĩ Xuân Tiên, rất nổi tiếng qua giọng hát Hoàng Oanh: Click để nghe Hoàng Oanh hát Mong Chờ trước 1975 Kìa trăng lên cao đang soi sángGiòng Hương Giang kia như lơ đãng,Mặc thuyền bập bềnh theo bóng thời gian. Thuyền ơi sao lênh đênh trôi mãi,Về đâu? Ngang qua hãy dừng lại,dừng lại để tôi nhắn ai vài câu! Nội dung bài hát này là nỗi lòng lãng đãng và man mác buồn của một người đứng ngóng ở bên bờ sông Hương, mong thuyền hãy trôi về bến chứ không theo cơn gió còn đi mãi. Thuyền kia cũng chính là người thương, nên lòng người trên bến “mong chờ” cuộc đời cho thuyền và bến được hợp nhau ở một bến bờ hạnh phúc vẫn còn ở xa hun hút. Nhìn bóng thuyền lướt trôi, tâm tư của người trên bến dường như cũng thả bồng bềnh trôi theo. Mặc dù nội dung bài hát khá đơn giản, nhưng cảm xúc được nhạc sĩ thả vào trong đó rất nhiều. Cả người hát lẫn người nghe nhạc như là cũng được trôi lênh đênh để thả hồn theo từng nốt nhạc. Cảm xúc của bài hát cũng chính là cảm xúc thực của tác giả, khi nhạc sĩ Xuân Tiên được trải qua một quãng thời gian ngắn ngủi nhưng đáng nhớ nhất trong đời mình. Ông kể lại hoàn cảnh sáng tác bàiMong Chờnhư sau: Đó là những năm cuối thập niên 1950, khi thi sĩ Đinh Hùng thành lập chương trình Thơ Tao Đàn phát thanh trên đài Sài Gòn. Những nghệ sĩ trong chương trình Tao Đàn này cũng thường thực hiện những chuyến đi đến khắp các vùng để giao lưu thi-nhạc. Có một thời gian nhạc sĩ Xuân Tiên cũng tham gia vào nhóm Tao Đàn với vai trò là người thổi sáo cho nghệ sĩ ngâm thơ. Trong lần đến Huế giao lưu cùng các nghệ sĩ của đài phát thanh Huế, nhóm nghệ sĩ Tao Đàn gồm có Hồ Điệp, Hoàng Thư… ngâm thơ, có nghệ sĩ Vĩnh Phan phụ họa đàn tranh, nhạc sĩ Xuân Tiên thổi sáo. Tại Huế, Xuân Tiên được gặp gỡ một nữ ca sĩ nổi tiếng của đài phát thanh, vốn là người rất mến mộ bàiKhúc Hát Ân Tìnhcủa Xuân Tiên sáng tác. Đêm hôm đó nữ ca sĩ này mời Xuân Tiên, Vĩnh Phan ghé xuống thuyền và lênh đênh trên sông Hương để cùng hòa nhạc Huế với các nhạc sĩ cổ nhạc ở Huế. Trong đêm này, nữ ca sĩ người Huế kia cũng hát bàiKhúc Hát Ân Tình. Sau đêm giao lưu nhạc, tất cả các nghệ sĩ ngủ ngay trên 2 con thuyền được ghép vào nhau và cùng cắm sào trên sông Hương. Lúc đó 3 nhạc sĩ cổ nhạc Huế ngủ trên 1 thuyền, còn Xuân Tiên, Vĩnh Phan cùng nữ ca sĩ Huế ngủ trên 1 thuyền. Nghệ sĩ Vĩnh Phan vì quá mệt nên ngủ trước, chỉ còn lại nhạc sĩ Xuân Tiên và người nữ ca sĩ thì không thể nào ngủ được. Nhạc sĩ Xuân Tiên kể lại trên chương trình Paris By Night, nói rằng có lẽ vì tâm đầu ý hợp nên họ thao thức và tâm sự với nhau suốt cả đêm, và đó là đêm ngắn nhất trong đời của ông. Tâm sự chưa vơi hết nỗi lòng thì trời đã vội sáng, họ đành chia tay để nhạc sĩ Xuân Tiên đáp máy bay về lại Sài Gòn. Khi về đến nơi, vì còn day dắt và lưu luyến hoài mùi hương khó phai của một o Huế dịu dàng, đằm thắm, nhớ hoài những giờ phút được trò chuyện thâu đêm như đã là tri âm tri kỷ từ thuở nào, nhạc sĩ Xuân Tiên bắt tay vào viết ngay một ca khúc mang âm điệu Huế, đặt tên làMong Chờ, là những dòng tâm sự của một người bơ vơ trước mênh mông sông nước Hương Giang: Kìa chim ăn đêm kêu xao xác,Lòng tôi đang bâng khuâng, ngơ ngácnhìn mây, mây bay tan tác về đâu! Đàn ai buông tơ bên trăng sánghòa theo câu ca thêm nhịp nhàngnhịp nhàng lời ca, tiếng nhạc còn vang? Ơi… ơi, mong chờ con thuyền trôiThuyền trôi về bến, bến ni.Ơi… ơi, Con thuyền.Ơi, thuyền đừng, thuyền đừng theo gió, gió đi. Thuyền ai trôi êm trên sông vắng,dường như vô tư không lo lắng,hồn còn ngập ngừng trong ánh vàng tan? Nhìn theo xa xa ai buông láimà đi đi sao không dừng lạiđể người chờ như hoa héo màu phai? Nhạc sĩ không nhắc cụ thể đến người con gái Huế kia, mà ví nàng như là con thuyền lênh đênh trên dòng Hương mờ ảo, còn ông thì đứng chờ trên bến đợi, thả hồn lãng đãng trôi theo bóng thuyền không đích hướng. Ca khúc này dường như chỉ dành cho tiếng hát Hoàng Oanh. Giọng hát của cô thủ thỉ, tâm tình, như ru hồn người trong một tuyệt phẩm giàu cảm xúc. Ngoài ca sĩ Hoàng Oanh ra thì sau này có rất ít người hát lại bài này, bởi vì dường như ca sĩ nào cũng hiểu rằng rất khó để vượt qua cái bóng quá lớn của Hoàng Oanh với “Mong Chờ”. Mời các bạn nghe lại một phiên bản khác của Hoàng Oanh hát trên Paris By Night năm 2006, với phần thổi sáo của chính tác giả Xuân Tiên, lúc này ông đã 85 tuổi: Nhạc sĩ Xuân Tiên đến đầu năm 2021 là tròn 100 tuổi, là nhạc sĩ sáng tác thọ nhất trong... Trong suốt sự nghiệp nghệ thuật kéo dài trên 80 năm của nhạc sĩ Xuân Tiên, dù không sáng tác... Nhạc sĩ Xuân Tiên là tác giả của những ca khúc nổi tiếng là Hận Đồ Bàn, Khúc Hát Ân... Nhạc sĩ Xuân Tiên là một nhạc sĩ lão làng có nhiều đóng góp to lớn cho nền tân nhạc... © 2020NhacXua.VN- Nhạc Xưa Thời Báo.
Cuối năm 1965, nhạc sĩ Vũ Thành An kết thúc cuộc tình sâu đậm với một cô gái xinh đẹp mà ông gọi đó là “Tình Khúc Thứ Nhất”, rồi trải qua một thời gian khá dài mới có thể được nguôi ngoai. Cuộc tình đó dù không thành nhưng đã trở thành niềm cảm hứng để ông sáng tác 3 ca khúc đầu tiên trong sự nghiệp:Tình Khúc Thứ Nhất, Em Đến Thăm Anh Đêm 30vàBài Không Tên Cuối Cùng, là những bài hát góp công lớn để đưa nhạc sĩ Vũ Thành An tiến xa trong sự nghiệp sáng tác. Trong loạt bài không tên nổi tiếng của Vũ Thành An, ca khúc mang tên là Cuối Cùng nhưng lại ra đời đầu tiên, với ý nghĩa là lời cuối cùng cho một tình yêu. Bài không tên tiếp theo được ra mắt không phải làBài Không Tên Số 1, mà chính làBài Không Tên Số 2, nghĩa là Bài không tên thứ 2 được sáng tác, dành cho một mối tình như trong tiểu thuyết: “Đầu năm 1967, một ngày thật trống rỗng và ảm đạm, định mệnh đã cho anh được gặp em. Như một tia nắng ấm cuối Đông, em đã sưởi ấm tâm hồn anh ngay buổi đầu gặp mặt” Nhạc sĩ Vũ Thành An đã viết như vậy trong những dòng đầu tiên nhắc về người tình trongBài Không Tên Số 2. Đó là thời điểm ông vẫn còn làm việc chung với nhà văn Nguyễn Đình Toàn tại đài phát thanh và chuẩn bị vào thụ huấn ở trường sĩ quan trừ bị Thủ Đức. Click để nghe Thanh Lan hát Bài Không Tên Số 2 trước 1975 Vào một buổi chiều giáp Tết, Vũ Thành An đến nhà Nguyễn Đình Toàn chơi thì gặp 2 cô gái bạn của bà Nguyễn Đình Toàn cũng đến thăm, trong đó nhạc sĩ để ý đến một cô gái thật tươi trẻ trong tà áo dài màu xanh, là nữ sinh trường Trưng Vương vừa mới thi đậu Tú tài. Cảm thấy mình rung động ngay phút ban đầu nên ông có quyết định ngay là sẽ chinh phục người đẹp. Không lâu sau, cô gái đồng ý đi chơi riêng, và trong lần đi chơi đầu tiên đó, nhạc sĩ Vũ Thành An cảm thấy ngỡ ngàng tột cùng khi thấy nàng lái một chiếc xe con sang trọng màu xanh hiệu Opel để đón ông đi chơi. Trong hồi ký, Vũ Thành An nói rằng nếu biết trước tình huống này, ông đã không chủ động làm quen, vì 2 cuộc tình trước đó đều tan vỡ với cùng lý do là khoảng cách giàu nghèo. Nhưng đến lúc này thì chuyện đã rồi. Trong những ngày sau đó, dù yêu nhau nhưng họ chưa bao giờ nói đến chuyện tương lai. Ngày tháng yêu đương mặn nồng chưa được bao lâu thì cũng đến ngày Vũ Thành An nhập ngũ, vào quân trường Thủ Đức với những ngày tháng huấn nhục dài lê thê. Sau này qua lời kể của những người quen biết, nhạc sĩ mới biết rằng những lúc ông không được phép rời trại một thời gian dài, nàng đã lái chiếc Opel đi vòng qua các bãi tập của quân trường Thủ Đức chỉ với một hy vọng rất mong manh là có thể được nhìn thấy bóng dáng của người yêu ở trong đó, để cho vơi đi nỗi nhớ nhung. Bấy nhiêu thôi cũng đủ để chứng minh đó không những chỉ là tình yêu thực sự, mà còn là rất đậm sâu. Sau khi hết thời gian “huấn nhục” thì các khóa sinh mới được nghỉ cuối tuần để về thăm nhà. Dù yêu rất cuồng nhiệt và say đắm, nhưng nhạc sĩ cho biết họ vẫn giữ cho nhau trong vòng lễ giáo, một tình yêu thuần khiết không có đụng chạm về thể xác, cao nhất chỉ là những nụ hôn nhẹ nhàng. Thời gian qua hơn 1 năm, tháng 5 năm 1968, đến ngày nhạc sĩ Vũ Thành An tốt nghiệp trường Thủ Đức và có 4 ngày nghỉ phép, dự định là để dành trọn cho người yêu. Nhưng đúng lúc đó thì ông lại được lệnh hoãn nghỉ phép, phải đi Vũng Tàu trình diện để nhận quyết định đi học tiếp lớp sĩ quan chuyên nghiệp ở Vũng Tàu. Trước khi ra đi vào sáng sớm hôm sau, họ đã có một buổi tối ngọt ngào bên nhau. Nhạc sĩ kể lại: “Anh còn nhớ rõ hôm ấy em đã ôm anh rất đắm đuối và bảo anh đừng đi trình diện ngày mai, hãy ở lại với em. Anh không dám trái lệnh cấp trên và đã không thể ở lại với em. Thật không ngờ đó là lần cuối cùng chúng ta bên nhau. Chiếc ôm bá cổ ghì chặt anh vào mình của em sẽ là một kỷ niệm mãi mãi…” 6 tháng sau đó, khi đang thụ huấn ở Vũng Tàu, nhạc sĩ Vũ Thành An nhận được thư chia tay, không có lý do, không một lời giải thích. Đó là một điều bí ẩn và mãi mãi làm cho nhạc sĩ ray rứt, bởi vì suốt gần 2 năm yêu nhau họ chưa từng có cãi vã, không một lần xung đột, luôn yêu nhau mặn nồng. Lá thư đã làm cho ông chao đảo và thấy bầu trời như sụp đổ, nhưng cũng đành chấp nhận vì đã từng linh cảm được trước về một điều không hay sẽ đến. Sau khi tốt nghiệp quân trường ở Vũng Tàu, lá thăm may mắn đã đưa nhạc sĩ Vũ Thành An quay về Sài Gòn để tiếp tục phụng sự cho quân đội, nhưng là ở trong lĩnh vực hành chính. Vào một ngày tháng 12 năm 1968, ông ngồi uống cafe ở tiệm Brodard ở góc đường Tự Do nổi tiếng của Sài Gòn, trời đổ những giọt mưa lê thê vào cuối mùa làm cho nỗi nhớ người yêu càng thêm da diết, ông quyết định tìm đến nhà nàng ở Quận Tư để thăm bất ngờ. Từ đường Tự Do, ra Bến Bạch Đằng và qua cầu Khánh Hội là quãng đường rất ngắn, nhưng cũng thật dài vì tâm tư rối bời. Tới nhà gõ cửa, nhìn thoáng vào trông, nhạc sĩ thấy có một bữa tiệc nhỏ đã vừa tàn, bàn ăn vẫn chưa dọn dẹp xong. Người mở cửa chính là nàng, trong bộ y phục thật rực rỡ. Sau phút đầu chào nhau ngượng ngập, nàng quay vào trong và dẫn ra một người đàn ông để giới thiệu:“Đây là hôn phu của em, và hôm nay cũng là lễ đính hôn của em”. Câu chuyện đó như là trong một tiểu thuyết, nhưng chính là sự thật. Chàng nhạc sĩ si tình cảm thấy như tê điếng cả người, không biết nói gì thêm, chỉ lặng lẽ ra về trong bẽ bàng. Bài hátBài Không Tên Số 2ra đời ngay sau đó, khi nỗi đau vẫn còn rất tươi mới: Lòng người như lá úa, trong cơn mưa chiềuNhiều cơn gió cuốn, xoay xoay trong hồnVà cơn đau này vẫn còn đấy Chiều về không buông nắng, cho mây âm thầmMột mình trong chiều vắng, nhớ đôi môi mềmNgày nào ân cần trao thân. Bài hát diễn tả đúng hoàn cảnh và tâm trạng của nhạc sĩ Vũ Thành An trong cái ngày quyết định đến thăm nhà người yêu. Đó là một chiều mưa nhẹ, những cơn gió cuốn trên con đường Tự Do và xoay xoay những cánh lá, như là xoáy vào tận sâu thẳm hồn người. Tìm trong tháng ngày buồnĐôi mắt nào khôđường tim chơ vơĐếm cho nhau lời nóiTrên đời nào yêu người. Kỷ niệm xưa đã chết, cơn mê đã chiều,Tình yêu đã hết, xót xa đã nhiềuĐời thôi sẽ còn mai sau. Thôi em đừng xót thươngRồi ngày tháng phai đi.Thôi cuộc tình đó tan rồiKhông còn gì nữa, tiếc mà chi. Bài hát thể hiện nỗi đau xót xa, nuối tiếc về cuộc tình tha thiết đã chính thức chấm dứt một cách phũ phàng như vậy. Tuy đã mất nhau nhưng nhạc sĩ tin rằng nàng vẫn yêu mình, không bao giờ nghĩ rằng có ngày sẽ rời xa, và đoán rằng có vì một lý do bí ẩn nào đó dẫn đến quyết định như vậy. Cuộc tình đứt ngang khi vẫn đang rất thắm thiết. Bài hát chỉ toàn là những lời buồn, và những câu hát sau đây là nổi tiếng nhất, có thể xem là nhân tố quan trọng nhất mang lại sự thành công choBài Không Tên Số 2: Đời một người con gái, ước mơ đã nhiều,Trời cho không được mấy, đến khi lấy chồngChỉ còn mối tình mang theo… Chỉ 3 câu ngắn gọn những thể hiện được đầy đủ ý nghĩa về nhân duyên của một người con gái, xưa cũng như nay: Thời thiếu nữ mộng ước rất cao vời, nhưng trời cho không được mấy, đến khi lấy chồng thì hành trang mang theo chỉ là một khối u tình, thường là không trọn vẹn. Khi vừa được sáng tác,Bài Không Tên Số 2được chính nhạc sĩ Vũ Thành An tự thể hiện ở Quán Gió của nhạc sĩ Nam Lộc, ngay lập tức được khán giả trẻ đón nhận nồng nhiệt. Sau đó, bài hát được các danh ca nổi tiếng trình bày là Thanh Lan, Lệ Thu, và đặc biệt được yêu thích qua giọng hát Ngọc Lan sau năm 1975: Click để nghe Ngọc Lan hát Bài Không Tên Số 2 Thời gian sau này, nhạc sĩ viết lời 2 cho các bài không tên, trong đó bài Không Tên Số 2 cũng được đặt lời mới, mang nhiều tính hoài niệm, nhưng ý nghĩa thì vẫn không khác xa so với lời cũ: Lòng người như lá úa trong cơn mê chiềuNhiều cơn gió cuốn xoay xoay trong hồnVà cơn đau này vẫn còn đấyTình lạ lùng quá lắm mới thân hôm nàoCòn tay tay nắm đắm say đắm nhìnGiờ thành xa lạ không quen Hỏi cho hết mọi ngườiAi không thở than hận tình nhân gianĐếm bao nhiêu người đãYêu thật lòng trên đời Dòng thời gian thác lũ đã trôi đi rồiTruyện xưa đã cũ mỗi khi nhắc lạiBồi hồi rung động không em? Thôi trăm lần cũng thôi nghìn lần cũng thôi thôiEm ở miền đó vui rồi anh miền này cũng vẫn bình yên Đời một người con gái ước mơ đã nhiềuTrời cho không được mấy đến khi lấy chồngChỉ còn mối tình mang theo Quên mong người đã quênCuộc tình cũ đã chônNhững kỷ niệm đó bây giờChỉ là thoảng cơn gió mà thôi Bài: Đông KhaBản quyền bài viết của nhacxua.vn Nhạc sĩ Vũ Thành An là một trong những nhạc sĩ tiêu biểu nhất của dòng nhạc trữ tình miền... Trong sự nghiệp sáng tác âm nhạc có được nhiều thành công của nhạc sĩ Vũ Thành An, có thể... Trong số những bài nhạc không tên được nhạc sĩ Vũ Thành An sáng tác trước 1975, thì bài được... Cũng như Bài Không Tên Số 6, nhạc sĩ Vũ Thành An nói rằng Bài Không Tên Số 7 không... Trong loạt bài đã đăng về những bài không tên bất hủ của nhạc sĩ Vũ Thành An, chúng tôi... Đêm sâu mái tóc em dài Buông xuôi, xuôi theo dòng đời Mà đời dài như tiếng kinh cầu Còn... © 2020NhacXua.VN- Nhạc Xưa Thời Báo.
Tổng quan “Diễm xưa” là tình khúc tiền chiến diễm lệ và nổi tiếng nhất của Trịnh Công Sơn, sáng tác năm 1960 tại cố đô Huế. Tác phẩm lấy cảm hứng từ...
Tác phẩm mới được tổng hợp và đưa vào hệ thống.
Tác phẩm mới được cập nhật vào kho lưu trữ kỹ thuật số.
Tháng 5 năm 2014: Hiện tượng "Chắc ai đó sẽ về" làm khuynh đảo các bảng xếp hạng V-Pop, đồng thời mở ra cuộc tranh luận lớn nhất về vấn đề bản quyền trong lịch sử âm nhạc Việt Nam.
Ca khúc 'Nhật ký của mẹ' của nhạc sĩ Nguyễn Văn Chung là một trong số ít bài hát Việt Nam có MV bằng tranh cát nổi tiếng khắp thế giới.
Khám phá mạng lưới kết nối giữa các nhạc sĩ và ca sĩ định hình âm nhạc đại chúng Việt Nam những năm 1990-2000.
Khám phá bản đồNhững câu chuyện thâm cung bí sử, hoàn cảnh sáng tác phía sau những bài hát bất hủ.
Sự giao thoa tuyệt đẹp giữa thi ca và âm nhạc. Những bài thơ được chắp cánh bởi giai điệu.
Một góc nhìn sâu sắc về các trào lưu âm nhạc đa dạng đã nảy nở tại Sài Gòn.