Những mảnh ghép tri thức âm nhạc

Khám phá kho lưu trữ kỹ thuật số, nơi kết nối các thế hệ nghệ sĩ, câu chuyện đằng sau những bản nhạc bất hủ và mạng lưới tri thức âm nhạc sâu rộng.

Ngẫu nhiên

Những Mảnh Ghép & Giai Thoại

Xem tất cả
Thông tin Bài hát

Anh đứng đây là đâu

Tổng quan Tên bài hát: Anh đứng đây là đâu Người sáng tác nhạc: Đang cập nhật Người viết lời: Đang cập nhật Năm phát hành: Đang cập nhật Nội dung n...

Thông tin Bài hát

Anh vẫn buồn như xưa

Tổng quan Bài hát "Anh vẫn buồn như xưa" được sáng tác và viết lời bởi nhạc sĩ Tăng Nhật Tuệ. Năm sáng tác: Đang cập nhật. Tăng Nhật Tuệ là một nhạc ...

Giai thoại Bài hát

Ba Mươi Năm

Trình duyệt của bạn không cho phép chơi nhạc. Ba mươi năm - Võ Tá Hân phổ nhạc, Khắc Dũng trình bày...

Thông tin Bài hát

Bao Giờ

Tổng quan Bài hát "Bao Giờ" do nhạc sĩ Đỗ Bảo sáng tác phần nhạc. Phần lời và năm sáng tác: Đang cập nhật. Nội dung nghệ thuật "Bao Giờ" mang đặc t...

Giai Thoại Cuốn Hút

Xem tất cả

Phố Buồn

Giữa thập niên 1950, khi cuộc sống của Sài Gòn hoa lệ vẫn chưa đi vào ổn định, ngay bên cạnh ánh sáng kinh kỳ phồn hoa là những khu nhà lá tồi tàn với đường lầy muôn lối quanh, là nơi sinh sống của những người lao động nghèo tha hương. Đã có ít nhất 3 nhạc sĩ cảm thông với cuộc sống khó khăn đó của một giai tầng xã hội và sáng tác ra những ca khúc mô tả hình ảnh xóm nghèo Sài Gòn của 65 năm trước, đó là nhạc sĩ Lam Phương vớiKiếp Nghèo,nhạc sĩ Phạm Đình Chương vớiXóm Đêm, và nhạc sĩ Phạm Duy vớiBên Ni Bên Nớ, Phố Buồn. Click để nghe Lưu Hồng hát Phố Buồn Nhạc sĩ Phạm Duy cho biết ông sáng tácPhố Buồnnăm 1954, nhắc đến người lao động ở những khu nhà vách lá ở ven đô. Không gian của bài hát được mô tả là một xóm nghèo trên con đường nhỏ không tên, có bùn lầy bôi quết, 2 bên là những mái tranh im lìm và tối tăm không đèn. Tất cả những hình ảnh đó hiện ra ngả nghiêng theo bước chân về nhà của một cô gái được tác giả gọi là “em” sau một ngày làm việc vất vả, trong một đêm mưa rả rích: Ðường về đêm đêm mưa rơi ướt bước chân emBùn lầy không quên bôi thêm lối ngõ không tênQua mấy gian không đènNhững mái tranh im lìmÐường về nhà em tối đen. Những gian nhà xập xệ đó là nơi cư ngụ của những công dân hèn mọn, tội nghiệp, chỉ cần nhìn qua song cửa là đã có thể thấy toàn bộ hoàn cảnh của họ: Nhìn vào khe song trông anh ốm yếu ho henMột ngày công lao không cho biết đến hương đêm Những người lao động nghèo trong xóm mạt hạng này có lẽ là sẽ vĩnh viễn không được hưởng thụ cuộc sống thanh nhàn như là những công dân hạng ưu khác. Quanh năm suốt tháng, sau một ngày mưu sinh vất vả thì đêm về họ chỉ có thể về lại căn nhà 4 vách phênh tồi tàn để chờ hết ngày, thì làm sao biết thế nào là “hương đêm”, làm sao biết những thú vui giải trí ở chốn phồn hoa dù chỉ cách họ một dãy phố nhưng không bao giờ chạm tay tới được. Em bước chân qua thềmMưa vẫn rơi êm đềmVà chỉ làm phố buồn thêm. Hạt mưa, mưa rơi tí táchMưa tuôn dưới váchMưa xuyên qua mành Hạt mưa, mưa qua mái ráchMưa như muốn tráchSao ta chạy quanh Hạt mưa, mưa yêu áo ráchYêu đôi sát náchMưa ngưng không đành Hạt mưa, mưa gieo tí táchMưa lên tiếng hátRu cơn mộng lành. Những người cả đời được ở trong những căn nhà xây vững chãi tường cao, hay là các căn villa hào nhoáng, sẽ không bao giờ biết được thế nào“mưa tuôn dưới vách”, “mưa xuyên qua mành”hay là“mưa qua mái rách”của những căn nhà mái tranh vách nứa, mỗi mùa mưa đến phải huy động tất cả xô chậu trong nhà để hứng nước dột. Hạt mưa đã “làm bạn” với người nghèo như vậy qua mọi thời, mưa biết yêu áo rách của người nghèo, yêu đôi sát nách của tầng lớp bình dân, và hạt mưa cũng được nhân cách hóa để biết trách nhân thế sao cứ hoài chạy quanh một vòng lẩn quẩn. Vì cảm thông cho những kiếp nghèo nên mưa cũng lên tiếng hát để ru cho xóm nghèo được những đêm yên giấc mộng lành. Nhạc sĩ Phạm Duy cho biết:“Với bài này, tôi nghịch ngợm với chữ nghĩa và vần điệu, như mưa rơi tí tách, mưa tuôn dưới vách, mưa qua mái rách, mưa như muốn trách, mưa yêu áo rách… và mơ màng hộ những đôi tình nhân nghèo, phải sống trong những ngôi nhà gỗ mái tôn trong hẻm tối phố buồn rồi nhìn ngôi nhà gạch mà họ mơ tưởng như chiếc bánh ngọt ngon”. Ðường về trong mơ đêm đêm phố lớn thênh thangÁnh sáng kinh kỳ tràn lanÐời nghèo không riêng thương yêu bóng dáng Xuân sangYêu phố vui, nhà gạch ngon… Sài Gòn phồn hoa có muôn vàn ánh đèn đô thị tràn lan, nhưng dù có là bao nhiêu đèn hoa thì cũng không thể nào soi sáng cho tới phố buồn nơi này: Ðèn đêm không soi bóng vắngKinh đô thắc mắcIm nghe phố buồn Người đi trong đêm tối ámNghe mưa thức giấcKhuyên nhau chờ mong. Nhạc sĩ Phạm Duy đã nhìn thấu được những đời nghèo lững lờ trôi đi như một chiếc bóng trong đêm tối ám, và thấy cả những cuộc tình nghèo không thể nào thấy được tương lai, chỉ biết khuyên nhau chờ mong mà thôi… Click để nghe Thanh Thúy hát Phổ Buồn trước 1975 Bài hátPhố Buồnnổi tiếng qua giọng hát Thanh Thúy từ khi cô hãy còn là một thiếu nữ đôi tám. Nhạc sĩ Phạm Duy đã nhận xét như sau: “…Nhờ giọng hát ma quái của Thanh Thúy, nhờ nhà xuất bản ở chợ trời âm nhạc tái bản tới 8 lần, bài ca xã hội này phổ biến ra dân chúng rất nhanh, rất rộng mà không cần phải nhờ tới đài phátthanh…” Bài: Đông KhaBản quyền bài viết của nhacxua.vn Phạm Duy viết về mùa Xuân rất nhiều. Ở đây, tôi xin nêu một vài cảm nhận về mùa Xuân... Trong số những ca khúc viết thời đi kháng chiến của nhạc sĩ Phạm Duy, hầu hết là những ca... Những ca khúc tân nhạc viết về Mùa Xuân được sáng tác vào đầu những năm 1950 vốn không phải... Trong tân nhạc Việt Nam, nhạc sĩ Phạm Duy có thể không phải là người tài năng nhất, không phải... Sau đây là bài viết của cố danh ca Quỳnh Giao nói về Đường Chiều Lá Rụng, một ca khúc... Sau khi vào tới miền Nam, hát xong tại Sài Gòn, gánh hát Đức Huy khởi sự xuống Lục tỉnh.... © 2020NhacXua.VN- Nhạc Xưa Thời Báo.

Mùa Thu Lá Bay

Được viết lời Việt đầu thập niên 1970 từ nguyên tác nhạc Hoa "Thiên ngôn vạn ngữ" của Đặng Lệ Quân. Ca khúc gắn liền với bộ phim chuyển thể từ tiểu thuyết Quỳnh Dao đầy trắc trở. Lời Việt của Nam Lộc buồn man mác gửi gắm nỗi sầu chia ly đôi lứa bên những chiếc lá vàng rơi mùa thu, gắn liền với giọng hát khàn đặc trưng đầy ám ảnh của danh ca Kim Anh.

Những Thương Hiệu Sài Gòn Xưa: Vị Hương Tố

Những ai từng sống ở Sài Gòn và miền Nam trước năm 1975 đến nay chắc là chưa thể quên được hương vị của bột ngọt và mì ăn liền Vị Hương Tố, thường được gọi là “mì cái tô”. Thập niên 1950, thị trường gia vị ở Sài Gòn được chiếm lĩnh bởi 2 thương hiệu lớn là Ajinomoto và Vedan. Nhưng qua thập niên 1960, thương hiệu bột ngọt của Việt Nam là Vị Hương Tố đã đánh bật các thương hiệu nước ngoài để chiếm toàn bộ thị trường. Ông chủ của Vị Hương Tố là một người Việt gốc Hoa tên là Trần Thành, vị tỷ phú xuất thân từ 2 bàn tay trắng trở thành người được gọi là “tỉ phú của tỉ phú”. Để đạt được những thành công tột bực và được ví như là “tỷ phú của tỷ phú Sài Gòn”, ông Trần Thành đã trải qua một quá trình dài với nhiều vất vả và khó nhọc vươn lên. Nhưng sau năm 75, gia tài của cả 1 đời phấn đấu của ông cũng tan thành bọt nước. Những năm đầu thập niên 1940, ông Trần Thành cùng gia đình lưu lạc từ Triều Châu sang Việt Nam tha phương cầu thực, gõ cửa các hãng xưởng của đồng hương ở Chợ Lớn để xin việc làm. Dịp may đến khi có một ông chủ họ Trịnh thu nhận Trần Thành làm công tại một cơ sở sản xuất dầu ăn. Cơ sở này chuyên thu mua đậu nành, đậu phộng đem về ép dầu thủ công. Công việc của Trần Thành là cọ rửa các thùng chứa, một công việc lao động phổ thông không cần trình độ với mức lương rẻ mạt. Như nhiều người Việt gốc Hoa khác, ông Trần Thành là người cần cù, chịu khó (tư sản người Hoa đóng vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế Sài Gòn trước 1975), lại còn luôn vui vẻ phụ giúp người khác mỗi khi xong việc của mình. Thái độ làm việc của ông được ông chủ đánh giá cao, chẳng bao lâu sau ông được giao phần quản lý toàn bộ khâu vệ sinh cho nhà xưởng. Giữ vai trò này, ông Trần Thành đã phân chia công việc công bằng và hợp lý, bản thân mình luôn lãnh phần nặng nề hơn những người khác. Cách hành xử này khiến ông chủ càng hài lòng hơn. Uy tín của Trần Thành với ông chủ và những công nhân khác ngày càng lên cao. Một thời gian sau, ông Trần Thành được tin tưởng giao cho phần việc đi thu mua nguyên liệu ở các tỉnh miền Tây. Vậy là từ một anh công nhân vệ sinh suốt ngày chỉ ru rú ở một góc tối tăm trong nhà xưởng, ông đã bước ra xã hội bên ngoài rộng lớn, làm quen với việc kinh doanh, mở mang đầu óc. Trong quá trình thu mua nguyên liệu, ông Trần Thành luôn đặt chữ tín lên hàng đầu, không bao giờ ép giá nông dân, không kê giá để hưởng lợi, không sai hẹn và không hứa hẹn những cái không làm được. Kiểu làm ăn này khác với những thương lái khác nên Trần Thành tạo được niềm tin với nhà nông, họ thích bán cho ông hơn các thương lái khác. Một thời gian sau, Trần Thành được ông chủ giao cho phần việc quan trong hơn: Quản lý toàn bộ việc thu mua của xưởng. Với vai trò mới này, ông được đi khắp nơi ở cả nước và sang tận xứ Cao Miên, biến nơi này thành nơi cung cấp nguyên liệu lớn nhất. Lúc này ông Trần Thành đã lập gia đình và tích luỹ được một số vốn. Ông chủ họ Trịnh nhận thấy những tố chất đặc biệt của Trần Thành trong kinh doanh, có chí tiến thân, góp nhiều công sức cho xưởng nên quyết định cho Trần Thành vay số vốn lớn để gầy dựng cơ nghiệp riêng, cho độc quyền cung cấp nguyên liệu cho xưởng. Chẳng bao lâu sau, Trần Thành trở thành nhà cung cấp các loại hạt có dầu cho hầu hết các hãng xưởng ở miền Nam. Cơ nghiệp của ông Trần Thành từ đó phát triển với tốc độ chóng mặt. Sau khi trả lại đủ tiền vay cho ông chủ cũ, Trần Thành tiến tới thâu tóm mọi nguồn hàng của ngành nghề này, rồi tiến sang đầu tư vào lĩnh vực khác. Nhận thấy thị trường bột ngọt là gia vị cần thiết cho mọi bữa ăn gia đình thời đó, nhu cầu lớn nhưng người dân vẫn phải dùng bột ngọt nhập khẩu số lượng có hạn từ Nhật và Đài Loan, lại bị thuế quan nên giá đắt đỏ. Kế hoạch của ông Trần Thành là sản xuất bột ngọt chất lượng không thua kém nhưng giá rẻ hơn nhiều nhờ sản xuất trong nước và nhờ chính sách bảo hộ hàng nội địa của chính quyền. Năm 1960, ông Trần Thành đã thành lập công ty Thiên Hương, trụ sở tại 118 Hải Thượng Lãn Ông, với nhà máy sản xuất bột ngọt mang thương hiệu Vị Hương Tố. Nhà máy có công suất lớn, với thiết bị nhập từ Nhật Bản, được đánh giá là hiện đại nhất Đông Nam Á lúc bấy giờ. Ngay bước đầu, nhờ chất lượng tốt mà giá lại rẻ nên bột ngọt Vị Hương Tố sớm được các bà nội trợ đón nhận. Thừa thắng xông lên, Nhà máy bột ngọt Vị Hương Tố còn sản xuất thêm mì gói, mì chay, tàu vị yểu, và đều rất thành công. Các nhà máy sợ nhất là nguồn nguyên liệu bất ổn, bị đầu cơ, thao túng… trong khi đó ông Trần Thành lại là nhà cung cấp nguyên liệu lớn nhất thời đó. Việc vừa thu mua cung cấp nguyên liệu lại vừa sản xuất, mua tận ngọn bán tận gốc như vậy nên sản phẩm của ông bán ra lúc nào cũng có giá rất cạnh tranh. Bột ngọt Vị Hương Tố có logo tương đối giống logo công ty Ajinomoto của Nhật Bản, đối thủ chính của ông Trần Thành mới ra mắt: đều có hình một cái tô màu đỏ. Logo Vị Hương Tố là tô mở nắp chứ không đóng kín như logo Ajinomoto. Phía trên cái tô mở nắp là ba sọc đỏ lớn chạy dọc, nhìn như khói thức ăn và hương thơm tỏa ra ngào ngạt rất sinh động. Ngoài chiến lược cạnh tranh về giá, thành công của Vị Hương Tố còn nhờ những khuyến mãi mát tay của ông Trần Thành. Nghiên cứu thói quen của các bà nội trợ, thấy rằng đồ dùng nhà bếp được mua nhiều nhất, ông khuyến mãi tặng tô, chén và muỗng khi mua bịch bột ngọt lớn, vừa và nhỏ. Bột ngọt vừa rẻ lại được tặng tô nên bán rất chạy, Vị Hương Tố tung tiếp khuyến mãi tặng tô chén theo bộ: Phúc Lộc Thọ, Mai Lan Cúc Trúc, Xuân Hạ Thu Đông… làm cho các bà nội trợ muốn mua trọn bộ, nhiều khi nhà chưa hết bột ngọt cũng ráng mua thêm cho đủ bộ khuyến mãi. Từ lợi nhuận kếch xù của Nhà máy bột ngọt Vị Hương Tố, ông tiếp tục đầu tư vào nhiều ngành nghề khác như: khách sạn, nhà hàng, bệnh viện, và trường học, mà lĩnh vực nào cũng thắng. Nhiều bệnh viện ở khu vực Chợ Lớn còn lại cho đến ngày nay đều có sự đóng góp của ông Trần Thành: Bệnh viện Nguyễn Trãi, Nguyễn Tri Phương, An Bình, Chấn Thương Chỉnh Hình… Thời đó, có nhà báo hỏi ông bí quyết để thành công trong kinh doanh. Ông Trần Thành nói  bí quyết đó đơn giản chỉ là điều mà người Á Đông đã biết từ ngàn xưa: Chữ Tín, lòng trung thực và sự kiên trì. Làm ăn mà không giữ được chữ Tín và sự trung thực thì chẳng bao giờ có thể trở thành “ông chủ lớn” nổi. Của cải mất đi còn có thể gây dựng lại được, nhưng uy tín không còn thì coi như trắng tay. Ngoài ra, khi ở tuổi xấp xỉ 40, ông Trần Thành được bầu làm bang trưởng Triều Châu, đại diện cho người Hoa để liên hệ với chính quyền. Với vai trò này, ông đã giúp đỡ nhiều người có ý chí mượn vốn, nhà ông lúc nào cũng có người tới xin ý kiến làm ăn. Tuy thành công tột đỉnh như vậy, nhưng ông Trần Thành cũng không qua khỏi ải mỹ nhân. Từ một người sống cần kiệm, tránh xa chốn ăn chơi từ lúc bắt đầu khởi nghiệp, ông đã trở thành một người vung tiền để chiếm được trái tim của người đẹp nức tiếng người Đài Loan. Đó là nữ minh tinh – ca sĩ Thang Lan Hoa (Tang Lan Hua), từng nổi tiếng khắp miền Nam với phim Đài Loan tên là Ngàn Thu Vĩnh Biệt cùng nam tải tử Dương Quần. Trong một lần sang Sài Gòn biểu diễn theo lời mời của cộng đồng người Hoa, diễn viên Thang Lan Hoa với vẻ đẹp sắc sảo đã làm “ông vua không ngai trong vương quốc Chợ Lớn” mê mẩn. Ông Trần Thành đã tìm mọi cách làm quen và gần gũi người đẹp. Để đạt được mục đích, ông đã không ngại bỏ ra hàng núi tiền dưới chân Thang Lan Hoa. Cuối cùng, những món quà tặng của nhà tỉ phú đa tình này là những viên đá quý đắt giá, quý hiếm trong thế giới kim hoàn, cũng đã làm xiêu lòng mỹ nhân xứ Đài. Từ đó, ông Trần Thành thường xuyên đi về Đài Loan như đi chợ. Ông sẵn sàng chi tiền một cách hào phóng mua lấy lạc thú cuộc đời. Nhưng chỉ được một thời gian, ông chia tay với người đẹp xứ Đài và có mối quan hệ với 1 phụ nữ khác người Tân Gia Ba, họ có với nhau một người con gái tại đây. Thời gian sau đó, khi đến chơi tại vũ trường Maxim’s của nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ, ông Trần Thành quen với một vũ nữ, là người sau đó trở thành người vợ sống với ông cho đến lúc cuối đời. Cô vũ nữ này được gọi gọi với cái tên Hoa là Phánh Dứng, tên Việt là Phan Anh, rất xinh đẹp và tính tình được lòng nhiều người. Một số người quen cho biết bà Phánh Dứng đã hy sinh tuổi xuân khi về sống với ông Trần Thành, cả lúc sau năm 1975, khi ông bị mất hết vì toàn bộ gia sản bị quốc hữu hoá, bản thân ông cũng bị tù tội. Khi đó bà làm tròn đạo tào khang, thăm nuôi cho đến ngày ông mãn hạn, chăm sóc con cái rất tốt. Sau thời điểm năm 1975, công ty Thiên Hương và thương hiệu Vị Hương Tố thuộc nhà nước quản lý, nhưng không thể hoạt động được vì các kỹ sư, công nhân kỹ thuật cao đã đi hết sang nước ngoài, nguồn men vi sinh để sản suất bột ngọt được nhập từ Hongkong cũng không còn nữa. Khi đó, bí thư thành uỷ Võ Văn Kiệt đã yêu cầu khôi phục bằng được hoạt động của nhà máy Thiên Hương. Ban khoa học và kỹ thuật thành phố (phần lớn là nhiều trí thức chế độ Sài Gòn) đã lập hai nhóm để khôi phục: Nhóm cơ khí do ông Nguyễn văn Sơn đứng đầu lo việt kiểm tra lại máy móc. Nhóm chuyên viên vi sinh do bác sĩ Trần Văn Ái (giám đốc viện Pasteur) đứng đầu để khôi phục lại men vi sinh. Nguồn men vi sinh được gửi từ Hongkong hàng tuần trước đó, nay chỉ có hai chai gửi lần cuối từ ngày 23-4-1975 vẫn được bảo quản kỹ trong tủ đá dưới 0 độ C đã được nhóm vi sinh nỗ lực khôi phục lại. Do thời gian bị đông lạnh quá lâu khiến những mẻ đầu chỉ đạt được 30% so với men tươi, nhưng các mẻ sau đã dần dần có chất lượng hơn và Nhà máy Thiên Hương đã hoạt động trở lại được cho đến ngày nay. Hiện nay các loại mì gói mang thương hiệu Vị Hương của cty Thiên Hương Food vẫn còn bày bán ở các siêu thị. Ngày 22/8/2024, khi ở tuổi 61, Trường Vũ - ca sĩ nổi tiếng với các ca khúc "Thân phận nghèo",... Giai điệu Bolero, với xuất xứ từ các thể loại nhạc như Rumba, Habanera, Valse và Tango, đã du nhập... Việc tặng bông trong các buổi đờn ca tài tử đã trở nên phổ biến trong những thập kỷ gần... Trong bài hát "Chiều Trên Phá Tam Giang" của nhạc sĩ Trần Thiện Thanh có câu: "Giờ này Thương Xá... Trong những thập niên 1950, 1960 và 1970, hình ảnh những chiếc taxi hai màu xanh - trắng (hoặc vàng... Những ai từng học ở trường Đại học Văn Khoa xưa, nay là trường Đại học Khoa học Xã hội... © 2020NhacXua.VN- Nhạc Xưa Thời Báo.

Mưa ngâu

Sáng tác năm 1980 tại Sài Gòn, lấy cảm hứng từ truyền thuyết Ngưu Lang - Chức Nữ gặp nhau trong cơn mưa ngâu tháng Bảy. Bài hát mang điệu Pop Ballad trẻ trung, tươi sáng phảng phất nỗi buồn dịu ngọt. Khác với sự bi kịch của truyền thuyết, "Mưa ngâu" của Thanh Tùng coi những giọt mưa như giọt lệ hạnh phúc ngày hội ngộ, ngợi ca lòng thủy chung và niềm hy vọng vượt qua khoảng cách thời gian của tình yêu.

Lời buồn thánh

Năm 1964, nhạc sĩ Trịnh Công Sơn tốt nghiệp sư phạm Qui Nhơn và được bổ nhiệm lên Lâm Đông để làm trưởng giáo một trường sơ cấp chỉ có ba lớp với học sinh hầu hết là con em người Thượng. Nơi nhạc sĩ ở trọ lọt thỏm giữa một vùng xung quanh là dốc núi mù sương, cách không xa nhà thờ. Vào những chiều Chúa Nhật buồn, có thể nghe được tiếng chuông dồn dập từng hồi thúc dục con chiên đến giáo đường. Đó cũng là thời gian mà nhạc sĩ Trịnh Công Sơn bắt đầu sáng tác rất nhiều bài hát nổi tiếng, trong đó có bàiLời Buồn Thánh. Ở trọ cùng nhạc sĩ họ Trịnh khi đó là một bạn đồng môn, đồng nghiệp, tên là Nguyễn Thanh Ty. Ông Ty có tả lại quang cảnh và thời gian đó như sau: “Những ngày bó gối nằm nhà, Sơn thường ngồi tư lự trước bàn viết duy nhất dành cho cả hai soạn bài dạy, nhìn ra con đường đất đỏ. Mùa này, bông lau nở trắng xóa khắp nơi, dọc theo con đường dốc chạy dài từ trong buôn ra tới quốc lộ, băng ngang trước nhà chúng tôi. Buổi chiều, những cơn gió nồm thổi nhẹ tới từng cơn, lướt qua rừng bông lau, xô chúng ngả nghiêng xuống, rồi chúng bật dậy, tạo thành những âm thanh xào xạc nhè nhẹ, đều đều, buồn buồn. Chiều xuống dần, những vạt nắng cuối cùng chiếu xiên trên ngọn bông lau, lấp lánh sáng ngời. Gió lắng dần, không gian trở nên im ắng, tĩnh mịch. Chợt tiếng kèn đồng xa xa vẳng lại, lúc nghe, lúc mất thật hiu hắt buồn. Đó là lúc cô nữ sinh hàng xóm, cô Ngà, đúng giờ đi lễ. Chuông nhà thờ đang dồn dập từng hồi thúc giục con chiên đến giáo đường. Thật đúng như tên đặt, da cô trắng ngà, người mảnh mai với mái tóc thề chấm ngang vai, khuôn mặt phảng phất như Đức mẹ Maria. Rất dịu dàng trong dáng đi, mỗi buổi chiều cô đi lễ, đều đi ngang nhà chúng tôi. Hai tay ấp quyển Kinh Thánh trước ngực, đầu hơi cúi xuống, lặng lẽ, khoan thai bước. Với tâm hồn nhạy cảm của người nghệ sĩ, Sơn đã thành công khi đưa tất cả những âm thanh mơ hồ của ngàn lau, của tiếng kèn đồng, tiếng chuông nhà thờ cùng dáng yểu điệu của cô Ngà hòa nhập với gió chiều nhè nhẹ để cấu thành chất liệu tuyệt vời tạo nên nhạc phẩm Lời Buồn Thánh”. Click để nghe 2 nam danh ca Duy Trác và Sĩ Phú cùng song ca Lời Buồn Thánh trước 1975 Chiều Chúa Nhật buồnNằm trong căn gác đìu hiuÔi tiếng hát xanh xao của một buổi chiềuTrời mưa, trời mưa không dứtÔ hay mình vẫn cô liêu. Chiều Chúa Nhật buồnNằm trong căn gác đìu hiuNghe tiếng hát xanh xao của một buổi chiềuBạn bè rời xa chăn chiếuBơ vơ còn đến bao giờ… Theo lời bài hát, thì đó là những buổi chiều nằm trên căn gác đìu hiu. Tuy nhiên theo ông Ty cho biết đó chỉ là cách thi vị hóa lời nhạc, chứ nơi ở trọ không phải là một căn gác nhỏ như khán giả thường nghĩ đến khi nghe câu hát này, mà đó lại là một căn villa tương đối tiện nghi. Bên cạnh nhà trọ này có một dãy chung cư, là nơi ở của những gia đình công chức của ty Công Chánh, trong đó có gia đình cô Ngà. Theo mô tả của ông Ty, cô Ngà đẹp, có gương mặt thánh thiện như Đức Mẹ Maria, làm mê đắm những anh giáo ở trong căn nhà trọ kia mỗi khi cô đi qua: Chiều chúa nhật buồnNằm trong căn gác đìu hiuTôi xin em năm ngón tay thiên thầnTrong vùng ăn năn, qua cơn hờn dỗiTôi xin năm ngón tay em đưa vào cô đơn. Bài hát chỉ thoáng nói về giai nhân qua câu hát“năm ngón tay thiên thần”, được lấy cảm hứng từ dáng ngọc thoát tục của cô Ngà. Đối với nhiều chàng trai, bàn tay thon dài của thiếu nữ luôn có một hấp lực ghê gớm, gợi những khát khao vô bờ. Có lẽ một phần là bởi vì khi có thể nắm được tay nàng, cũng có nghĩa là đã chiếm lĩnh được trái tim nàng. Cũng theo mô tả của ông Ty thì cô Ngà đi lễ mỗi chiều ngang qua nhà trọ, hai tay ôm quyển Thánh Kinh trước ngực. Hình dáng quen thuộc đó đã thu hút ánh nhìn say mê dõi theo của những chàng trai từ gác lầu căn nhà trọ. Tuy nhiên đã có những sự nhầm lẫn đến từ chính ông Ty cũng như nhạc sĩ họ Trịnh. Khi người viết bài này liên lạc được với cô Ngà, hiện vẫn đang ở Sài Gòn, cô Ngà nói rằng cô theo đạo Phật chứ không phải Công giáo, nên ngày đó cô không đi lễ nhà thờ như những người trong căn nhà trọ Bảo Lộc năm xưa cùng lầm tưởng. Thời điểm đó, cô Ngà chỉ mới 15 tuổi, mỗi buổi chiều trong tà áo dài trắng ôm sách đi học về, chứ không phải là ôm cuốn Thánh Kinh đi lễ nhà thờ như ông Ty đã viết. Cô Ngà cũng nói rằng trong 4 người ở nhà trọ đó, chỉ có ông Ty là từng bày tỏ tình cảm yêu mến đối với mình, còn Trịnh Công Sơn với cô Ngà chưa từng có mối quan hệ thân thiết nào, ngoài những lần hiếm hoi Trịnh Công Sơn cùng với ông Ty đến nhà cô chơi. Click để nghe Lệ Thu hát Lời Buồn Thánh trước 1975 Cũng xin nói thêm rằng thời điểm đó, nhạc sĩ họ Trịnh vẫn thư từ qua lại với Dao Ánh, nên hình bóng cô Ngà trong bài hátLời Buồn Thánhchỉ là sự thoáng qua rất mong manh hư ảo. Mỗi buổi chiều, nhìn thấy dáng áo trắng thiếu nữ bước ngang qua mà ông ngỡ là đang đi lễ nhà thờ, cộng với việc thấu hiểu tình cảm của người bạn ở chung là ông Ty dành cho cô gái còn rất nhỏ tuổi đó, bài hátLời Buồn Thánhđã ra đời. Bóng dáng thiên thần của giai nhân chỉ là một điểm xuyết để cho ca từ bài hát được thăng hoa, chứ không hẳn là có những tình ý thực sự nào ở ngoài đời. Cô Ngà còn nói thêm rằng thuở đó cô còn nhỏ tuổi rất vô tư, cũng không bao giờ có thể nghĩ rằng bài hátLời Buồn Thánhdanh tiếng kia lại có chút liên quan gì đến mình. Mãi đến năm 2018, cô mới biết về thông tin này, thông qua một người quen ở Bảo Lộc, cũng như qua bài viết kể lại của ông Nguyễn Thanh Ty, hiện nay là nhà văn sống ở Hoa Kỳ. Click để nghe Bạch Yến hát Lời Buồn Thánh trước 1975 Bài hátLời Buồn Thánhsau đó được nhạc sĩ Trịnh Công Sơn gửi về Sài Gòn và ngay lập tức nổi tiếng ở khắp các phòng trà qua giọng hát Bạch Yến – Khi đó cũng vừa mới trở về sau khi đi du học ở trời Âu. Bài: Đông KhaBản quyền bài viết của nhacxua.vn Mối tình của nhạc sĩ họ Trịnh với nàng thơ xứ Huế (thực ra là gốc Bắc) tên là Ngô... Sau đây, mời các bạn đọc lại những bài phỏng vấn nhạc sĩ Trịnh Công Sơn. Đó có thể chỉ... Chủ nghĩa hiện sinh du nhập vào Việt Nam mạnh mẽ từ những năm thập niên 1960, ảnh hưởng cả... Không biết tự bao giờ tôi có thói quen ngồi một mình, lặng đi trước những ca khúc của Trịnh.... Hơn 60 năm đã trôi qua kể từ ngày những bản Trịnh ca đầu tiên ra mắt công chúng, chưa... Nữ danh ca Thanh Thúy là một trong những ca sĩ nổi tiếng của dòng nhạc vàng, hát nhạc vàng... © 2020NhacXua.VN- Nhạc Xưa Thời Báo.

Câu Chuyện Sáng Tác Của Những Nhạc Sĩ Nổi Tiếng

Bài viết này sưu tập những ý kiến của chính các nhạc sĩ nổi tiếng lúc sinh thời, kể về chuyện câu chuyện sáng tác ra những ca khúc để đời. (trích từ vidéo 40 Năm âm Nhạc Lam PhươngThúy Nga Paris thực hiện) Khởi viết, vào lúc 12, 13 tuổi. lúc tôi học nhạc chưa có trường Quốc Gia âm Nhạc vì vậy, tôi mới tìm những ông thầy dạy riêng tư để mà học. Trong đó, ông dạy đầu tiên cho tôi hiện tỵ nạn tại Âu Châu; người thứ hai là một nhạc sĩ sáng tác nổi tiếng, đang ở lại quê nhà. Tôi xin gởi tất cả lòng tri ân của tôi đến hai vị giáo sư đó. Trong bốn thập niên vừa qua, nếu tổng kết, tôi sáng tác khoảng 200 bài. Nếu đem 200 bài đó chia đều cho 40 năm thì cũng không có bao nhiêu. Có bài ở Việt Nam không được phổ biến, nhưng qua đến hải ngoại các bài đó được hưởng ứng nồng nhiệt. Trong thời gian những năm thanh bình của đất nước, bài “Nhạc Rừng Khuya” được tôi viết cho các anh hướng đạo sinh đốt lửa trại để khiêu vũ. Và bài thứ hai là bài ‘Ngày Tạm Biệt’ để hát trong dịp bãi trường. Nhạc tiêu biểu nhất trong thời gian này là bài ‘Khúc Ca Ngày Mùa’ và ‘Trăng Thanh Bình’. Tôi nhớ rõ vào năm 1944, ngày quân đội Pháp trở lại chiếm miền Nam, lúc đó tôi được 7 tuổi, theo mẹ để tản cư về miền đồng quê, khoảng 10 cây số. Thời gian tản cư đó tôi mới nhìn được cánh đồng quê thực sự, như cảnh gặt lúa, cảnh cấy lúa, cảnh giả gạo. Những hình ảnh đó theo đuổi trong trí tôi đến 10 năm sau. Năm 17, tôi mới đem những hình ảnh đó ghi vào nét nhạc; và tôi mượn một điệu nhạc lúc đó được phổ biến rộng rãi là Rumba manbo gọi nôm là dân ca manbo. Bài ‘Khúc Ca Ngày Mùa’ là bài khởi đầu loại nhạc manbo đó. Tôi viết bài ‘Kiếp Nghèo’ trong hoàn cảnh hoàn toàn thật của tôi lúc đó. Viết bằng rung động chân thành, và lần đầu tiên tôi viết bài ‘Kiếp Nghèo’ bằng những giòng nước mắt… Lúc đó tôi còn trẻ lắm, khoảng 1954, sau khi tôi bán được bài ‘Trăng Thanh Bình’ đầu năm 53, tôi để dành được một số tiền. Tôi mua một chiếc xe đạp để di chuyển trong lúc đi học. Nhà tôi ở Dakao. Thường thường muốn về Dakao phải đi qua con đường Phan Thanh Giản. Con đường Phan Thanh Giản cây cối um tùm. Khoảng ngang trường Gia Long không có một căn nhà nào… Đêm đó, tôi chẳng may gặp một trận mưa rất to, không có nơi để trú mưa, đành phải đi dưới mưa để tìm ‘thú đau thương’. Gần tới nhà phải qua một cầu ván gập ghềnh. Về tới nhà mưa to quá, nên cái bàn tôi ngồi học bài ướt hết, tạo cho tôi cảm xúc, từ đó ‘Kiếp Nghèo’ ra đời. Vào những năm 1958, 1959 và 1960 miền Nam bắt đầu nhen nhúm chiến tranh trở lại, kéo dài cho đến Tết Mậu Thân 1968, mùa hè đỏ lửa 1972 và đến ngày sụp đổ miền Nam, năm 1975. Tôi nghĩ rằng tất cả thanh niên chúng ta, trong mỗi gia đình, đều có một người trong quân đội. Tôi may mắn được ở hậu phương an toàn. Trái tim tôi luôn luôn gởi về chiến tuyến. Tôi theo dõi những bước chân oai hùng của các anh chiến sĩ. Tôi thương anh chiến sĩ, vì lẽ đó mà tôi đã viết khoảng 40 bài cho các anh chiến sĩ đó, như những bài ‘Tình Anh Lính Chiến’, Chiều Hành Quân’, là những bài tới giờ phút này vẫn còn thâu đi thâu lại trong các băng nhạc. Về chủ đề bài hát, dù tôi viết nhiều loại, nhưng tôi nghĩ Tình là đề tài muôn thuở của những nhạc sĩ sáng tác. Tình càng đau đớn, người ta càng dễ nhớ. Tôi cũng không thoát khỏi định luật đó. Thường thường tôi viết nhạc theo biến chuyển tình cảm riêng tư của đời mình. Bài nhạc tôi viết cho một người mà tôi chưa biết mặt, chưa bao giờ nghe hát. Tôi chỉ nhìn một chân dung nho nhỏ và một mẩu tin ở trên báo, đã gây một xúc động mạnh để viết bài nhạc đó. Ca sĩ đó thành công trọn vẹn trong bài đó. Chính là người gây nguồn cảm hứng là nữ ca sĩ Họa Mi (nhạc phẩm Em Đi Rồi). Trước 1975, tôi đã từng viết loại nhạc như ‘Chờ Người’, ‘Trăm Nhớ Ngàn Thương’. Lúc đó vì nhu cầu hãng dĩa, băng và chính nhà xuất bản của tôi, buộc tôi phải viết loại nhạc đại chúng. Sau 75, thì tôi viết cho mình trong đó có ‘Cho Em Quên Tuổi Ngọc’, ‘Bão Nắng’, ‘Như Giấc Chiêm Bao’… Nhạc Sĩ Lê Uyên Phương (1941-1999) Trả lời nhà báo Trường Kỳ(tuyển tập nghệ sĩ 1 xuất bản năm 1995) Viết nhạc đối với tôi là một hình thức viết nhật ký. Tôi không viết ca khúc bằng sự tưởng tượng mà bằng những gì thực sự xảy ra trong cuộc sống của tôi. Tôi không viết từng bài hát riêng rẽ, mà luôn viết thành từng tập ca khúc, là một đề tài nhất định mà tôi cố gắng để đào sâu tới mức nào tôi có thể. Có những ca khúc viết nhạc trước lời sau, có những ca khúc viết lời trước , có những ca khúc nhạc và lời viết cùng một lúc. Khi sáng tác tôi luôn luôn cảnh giác để không bị ảnh hưởng bởi bất cứ tác giả nào. Tôi đều ưng ý nhất mọi tác phẩm tôi còn giữ lại vì tác phẩm không ưng ý tôi đã loại khỏi những tập nhạc của tôi. Mỗi ca khúc đánh dấu một thời điểm nhất định và không thể nào thay thế hay có thể tìm lại được. Không có thói quen khi sáng tác, cảm hứng có thể đến với tôi trong bất cứ hoàn cảnh nào. Nhạc Sĩ Văn Cao (1923-1995) Kể chuyện liên quan đến một số tác phẩm của ông(trích từ video Giấc Mơ Một đời Ngườido đinh Anh Dũng đạo diễn. Yến Xuân Productions thực hiện,hảng phim Trẻ sản xuất năm ) Tôi là người luôn luôn thất bại trong tình yêu. Cái thất bại này bởi tôi là người không giỏi về cách giao lưu với những người đàn bà. Mà lại đối với những người đẹp, tôi lại càng bối rối, không bao giờ nói được với người ta, đành nói trong thơ nhạc thôi. Thiên Thai– Tại sao tôi nói đến Thiên Thai, là bởi vì một nơi, một cõi nào đó người ta coi là đất Hứa, mà đất Hứa thì không ai tìm được trên trần gian này. đi tìm mãi trong cái hoài niệm của mình, tuổi thanh niên, thì nhớ rằng có lần tìm ra được… Trương Chi– Tôi viết bài này để nói cái tình cảm của tôi, là mình chỉ có một mình . Không sống lại với cái thú quá mơ mộng của cuộc đời không đạt được. Bến Xuân– Tôi yêu một người con gái mà tôi không ngõ lời với người ta, nhưng họ hiểu và họ tới với tôi, thành ra nó mới có cái chuyện làEm đến tôi một lần…một mối tình câm, mà để lại đời mình một bài hát thế thôi, không có cái gì cả. Buồn Tàn Thu– Có lẽ cuộc đời sinh ra tôi ở mùa Thu, đấy là những ngày sinh nhật của tôi vào mùa Thu. Không hiểu sao, thơ mà mình ảnh hưởng là những bài thơ về mùa Thu. Và bản thân tôi, thì mùa Thu, ngoài cái ấm của nó, cái se lạnh của nó về cuối mùa, thì cũng là cái ngày người ta gọi là nhiều tưởng tượng nhất. Thu Cô Liêu– Tôi viết Thu Cô Liêu cũng là mùa thi của những người đang đi học, mùa thu của những nhà thơ. Mùa Thu mang nhiều thay đổi của con người. Và cái Thu Cô Liêu là cái Thu buồn bã của một cái ngày xa vắng và cái nhớ đi tìm người yêu trong cái Thu thôi. Cung Đàn Xưa– Có nhiều buổi sáng có người khi hết giấc mơ lại tiếp tới thấy một giấc mơ khác ở trong đời. Những ước mơ thì không có thật, nhưng mà nó đem lại cho mình, thường nghĩ tới những ngày sống cũ. Nghĩ lại, vẳng lại những tiếng nói của kỹ niệm cứ đeo đẳng không thể quên được. Những cái đó , tôi tìm ra được những cái điều mà tôi đã mất đi trong tuổi thanh niên của tôi. Nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng (1937-2000) điện đàm cùng nhà báo Trường Kỳ(tuyển tập Nghệ sĩ 3 xuất bản năm 1998) Tôi bắt đầu viết nhạc từ thời còn đi họcm khoảng 1955, 1956, nhưng mãi đến 1965, 1966 ca khúc mới có cơ hội phổ biến rộng rãi. Những bài hát của tôi viết ra phần nhiều là man mác có dính líu đến đời sống riêng của tôi, đời sống về tình cảm riêng của tôi… cùng bối cảnh của từng thời. Tình cảm của tôi thì có nhiều biến động. Tôi không cho một thứ tình cảm nào gọi là mất mát trong đời tôi cả. Tình yêu nó có cái thời của nó, thành thử khi nó đã có, rồi không có nữa thì cái có đó vẫn còn trong cách nghĩ ngợi nào đó. Về sáng tác, Có 3 giai đoạn : 1. Giai đoạn từ 75 về trước, thời đất nước chiến tranh. 2. Giai đoạn từ 75 đến 85. lúc tôi còn kẹt trong nước, 10 năm. 3. Giai đoạn sau 1975. Giai đoạn này có thời gian ngắn sống ở trại tỵ nạn Galang, Indonesia và thời gian định cư tại Hoa Kỳ từ cuối năm 85 đến nay. Mỗi giai đoạn trong tác phẩm của tôi đều có sự hiện hiện của Tình Yêu, hoặc Thân Phận của con người qua mọi biến chuyển của cuộc sống. Dĩ nhiên nó xen lẫn nỗi đau thương và niềm hạnh phúc. Công trình sáng tác, có thể kể như sau: Những nhạc phẩm đầu tay của tôi, rất tiếc đã bị tuyệt bản vì lý do này hay lý do nọ, nhất là vì biến cố tháng 4/75. Những nhạc phẩm được trình làng đầu tiên là: Rồi 20 năm Sau. ‘Rồi 20 Năm Sau’ gồm hai phần riêng biệt: phần 1: ‘Lời Của Mẹ’và phần 2: ’Lời Của Con’ (đã bị tuyệt bản). Trong khi ‘Lời Của Mẹ’ đến nay vẫn được phổ biến, đôi khi dưới tựa đề chung là ‘Rồi 20 Năm Sau’. Cũng trong thời gian 1966, tôi đã viết một loạt tình khúc và in thành tập gồm 14 bài mang tên ‘Trên Đỉnh Yêu đương’, trong đó có 4 bài được phổ từ thơ Hoàng Trúc Ly, xuất bản năm 1969. Hối Tiếc, Mây Hạ, Yêu Dấu Chưa Nguôi… Cõi Nghìn Trùng (thơ Hoàng Trúc Ly) cũng như Trên Đỉnh Yêu Đương đều nằm trong tuyển tập này. Từ đó đến những năm sau tôi đã viết ‘Bài Hương Ca Vô Tận’, ‘Bảy Ngàn đêm Góp Lại’, ‘Đưa Em Vào Hạ’, ‘Mùa Xuân Trên Cao’, ‘Trộm Nhìn Nhau’… Rồi biến cố Mậu Thân 1968 tôi viết ‘Chuyện Một Chiếc Cầu đã Gãy’ cho Huế và cả nước đau thương, rồi ‘Kinh Khổ’, ‘Khúc Sinh Ca’, ‘Đêm Trên Quê Hương’… Không nhớ hết… song song là những bài tình ca như ‘Mộng Sầu’, ‘Tưởng Niệm’, ‘Tưởng Không Còn Nhìn Thấy Nhau’, ‘Em Có Còn Trở Lại’, ‘Nghìn đêm Như Một’… Rồi loạt bài về hòa bình cho thời Hiệp định Paris như ‘Vĩnh Biệt Chiến Trường’, ’Hòa Bình Ơi, Việt Nam Ơi’, ’Hình Ảnh Của Một Ngày Hòa Bình’, ‘Nếu Xuân Này Hòa Bình’… Sáng tác trên đất Mỹ, khởi đầu là ‘Mười Năm Yêu Em’, rồi ‘Bản Tình Ca Mùa Đông’, ‘Thư Xuân Hải Ngoại’, ‘Đêm Nhớ Về Sàigòn’, ‘Hãy Hát Lên Tin Yêu’… Những nhạc phẩm đó có thể đi vào cá biệt hoặc đi vào đại thể, như có những bài về tình yêu nhưng vẫn có những vướng mắc của con người đang sống lưu vong. Đó là quan niệm của tôi, một người viết nhạc, một người lưu vong sáng tác. Đề tài sáng tác của tôi thay đổi theo nhịp sống, hơi thở chung quanh của người Việt hải ngoại… Mỗi một thời nó đều có những sáng tác đi theo tôi chứ tôi không có thay đổi cách sáng tác gì cả. Hoàn cảnh cho tôi những biến đổi trong sáng tác. Tôi nghĩ đó là điều cần cho tôi và đó là cách để cho mình có những sáng tác dồi dào. Nó ghi nhận được từng thời một của cuộc sống, ít nhất cho bản thân của mình. Bên cạnh đó là những người cùng sống với mình, cùng chia sẻ đời sống, chia sẻ những cái vui cái buồn với mình. Vậy thì chủ đề tôi vẫn viết về Tình Yêu, Quê Hương, Thân Phận Con Người và Giữa Con Người Với Con Người cũng như Giữa Mình với chính bản thân mình… Trong đời sống có những cái tiêm nghiệm, cách sống, thái độ sống với mình, với người khác…tất cả những cái đó đều ghi nhận trong cuộc đời sáng tác của tôi. Nhạc Sĩ Văn Phụng (1931-1999) trả lời nhà báo Trường Kỳ(tuyển tập Nghệ sĩ 5 xuấn bản năm 2001) Tôi được Linh mục Mai Xuân Đỉnh chỉ dẫn thêm về nhạc, và sau đó tự học hỏi qua sách vở. Cái gì không hiểu tôi cũng tò mò lấy tự vị, dictionnary ra học. Chỉ tự học lấy vì ông cụ đâu có cho học, ông cụ thời ấy khó lắm, chỉ có muốn tôi làm bác sĩ thôi, đâu có muốn tôi làm nhạc sĩ, ông cụ bực lắm. Nhưng mà nhân thể tôi viện cớ là phải vào lính. Một là mình đi lính chiến, hai là mình đi lính nhạc. Mà lính nhạc thì nghe có vẽ dễ chịu hơn… cầm súng, cầm siếc chán lắm! Khởi đầu với ‘Ô Mê Ly’ vào năm 1948 và kết thúc với ‘Chán Nản’ năm 1972. Sáng tác lai rai… chẳng có lúc nào mạnh, lúc nào yếu cả… cứ làm đại thôi! Có hứng là làm, gặp cái gì làm cái đó… Nói đúng thì đối với tôi, bài nào tôi cũng hài lòng. Không có bài gì đặc biệt lắm. Nhưng cũng có một vài bài hơn hơn một chút, thí dụ như bài ‘Suối Tóc’ chẳng hạn, tôi thích lắm. Hay như bài ‘Tôi đi Giữa Hoàng Hôn’. Mọi người đều thích bài đó. Gần nhất là bài ‘Chán Nản’, vào độ 1972, 1973 gì đó, thiên hạ thích lắm. Những ca khúc khác, được biết đến nhiều: Các Anh đi (phổ thơ), Tình, Suối Tóc, Mưa, Tiếng Hát Với Cung Đàn, Tiếng Dương Cầm, Trở Về Huế, Ghé Bến Sài Gòn… Nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ (1929-2001) tài liệu của nhà báo Trường Kỳ(tuyển tập Nghệ sĩ 4 – xuất bản năm 2000) Khi nhỏ, tôi làm nhạc trong lúc ở trung học. Mình cứ đi theo lý tưởng của mình và tôi có một niềm đam mê dễ sợ lắm, do đó mình cứ làm hết việc này qua việc khác. Khi mình làm những cái việc đó mình có nghĩ rằng một ngày nào những việc gì mình làm sẽ tích lũy để mang đến cái danh cho mình không? Tuyệt đối không! Bởi tôi nghĩ rằng, nếu mình làm được gì thì mình làm lấy thôi. Nhưng mà qua trên 50 năm, thì tôi thấy, đến phút này, nghiệm lại, và thấy được mình đã làm nhiều quá. Không những tôi làm về nhạc mà còn đi vào những lĩnh vực khác. Tôi tạo ra show, làm đạo diễn để tập cho các ca sĩ biểu diễn. Tôi còn làm về vũ, sáng tạo với những vũ sư mà tôi thấy có khả năng để xây dựng cho nền vũ của mình. Làm về điện ảnh, viết nhạc kịch, làm đủ thứ. Không phải mình tham lam, nhưng nghĩ rằng là mình làm được cái gì thì làm. Sau năm mươi mấy năm trời, bây giờ mình ngồi lại, thấy mình làm quá nhiều! Cho nên về cái bệnh của tôi, tôi ít khi than phiền lắm. Một người như vậy thì phải như vậy thôi! đã quá nhiều ‘stress’ trong đời văn nghệ rồi! Lúc sau này khi về hưu rồi, tôi chỉ sống với âm nhạc thôi… Một hôm ngồi ăn với một cô ca sĩ có chiếc răng khểnh đẹp, nhìn thấy cái miệng đẹp quá, tôi tưởng tượng như một đoá hoa. Tôi đã bị ảnh hưởng bởi những chuyện hoa rồi… bây giờ hoa ở nhà mình cũng có, hoa ở ngoài vườn cũng có, hoa ở ngoài đời cũng có. Nếu bây giờ mỗi người con gái đều mang cái hoa nở ra miệng thì quá đẹp vì vậy, tôi làm bài ‘Nụ Cười Hoa Nở’ (khoảng tháng 2 năm 98)… Những cái đó tôi không dám nói là độc đáo, nhưng tôi dám thành thực để nói ra. Nếu sau này tôi chết rồi, nếu ai nghe những điều đó họ có thể hơi cười, mà điều đó họ không thể hiểu được. Tôi có những phút sống với âm nhạc, với nghệ thuật như vậy thôi ! Trong cái giai đoạn cuối cuộc đời tôi, tôi sống như một ông tiên. Tôi không có lo nghĩ cái gì nữa hết… Buổi sáng dậy, tôi uống nước, tôi nhìn ra dàn hoa, tôi nhìn những con chim. Tôi nghe vang vọng lại những cái bài của tôi đã làm hay những cái bài người khác. Rồi tôi lại thích viết nhạc, tôi đọc sách, tôi lại tiếp tục đọc sách. Tôi thấy như vậy là cuộc đời đẹp đẽ quá, và tôi sáng tác được. Nhưng tôi khác ông tiên cái chỗ này: ông tiên không còn vướng bụi trần, còn tôi thì khổ quá, đến phút này mà trái tim vẫn rung động! Như vậy vẫn còn vướng bụi trần, bắt tôi phải sáng tác hoài. Nó chỉ khác chỗ đó thôi. Nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn trả lời nhà báo Nguyễn Phúcbiên tập viên đài BBC Luân đôn(tạp chí Văn Học) Cái buồn cười là khi bắt đầu viết nhạc, ưng viết cho khúc mắc, cho khó khăn, sau này đọc thêm, học thêm, nghe nhiều mới thấy được cái simpicité (giản dị) mà đạt được mới là khó. Ðúng vậy, mãi về sau này, khi vào thành rồi, tôi mới học composition. Nhưng có cái buồn cười là lúc đó, mình chưa học composition mà lại viết nhạc, viết được có lẽ nhờ mình nghe nhiều, sống nhiều với âm nhạc. Cũng như có nhiều người có học luật lệ gì về thi ca đâu nhưng mà vẫn làm thơ, vẫn làm được thơ. Riêng trong âm nhạc, tôi nghĩ muốn viết cho vững, tối thiểu phải học harmonie, nó giúp cho mình chấm câu dứt đoạn. Người sáng tác nhạc ít nhất cũng phải biết hòa âm. Thiếu kỹ thuật đó, nhạc phẩm không có được mạch lạc chặt chẽ. Các nhạc sư Pháp cho rằng âm nhạc là sự vận chuyển của tâm trạng và tư tưởng. Sự vận chuyển này được tạo ra bởi hai trạng thái động và tĩnh. Có nghĩa là căng thẳng (tension) và buông dãn (détente). Ðể dễ hiểu, khi nghe một bài vọng cổ, đến đoạn nói lối (có khi kéo dài đến hàng trăm chữ), có lúc tiết điệu và âm điệu đang tạo sự căng thẳng, người nghe nín thở chờ đợi, chờ đợi gì, chờ đợi sự buông dãn của âm Hò chấm câu, là lúc cả rạp vỗ taỵ Lúc này là lúc âm nhạc chủ động, lời văn của bài ca là thứ yếu, chỉ có âm Hò họa điệu (chute) để cho người nghe thở phào. Có tiết điệu trống (rythme masculin), tiết điệu chiều ý người nghe theo nét nhấn (accent) của nhịp ấn định. Và tiết điệu mái (rythme féminin) là tiết điệu đưa lệch nét nhấn mà người nghe chờ đợị. Ðấy là một vài chi tiết của composition. Sau khi vào thành rồi, tôi bắt đầu học thêm khóa hàm thụ với Ecole Universelle ở bên Pháp. Tháng tháng gửi mandat-poste cho họ, theo học cours de composition. Sau khi học xong tôi được chấp nhận là hội viên của SACEM Hội Nhạc sĩ Pháp. Lúc bấy giờ tôi quyết tâm đeo đuổi ngành nhạc…. trả lời nhà báo Trường KỳVề Sự Nghiệp Và Những Bài Nhạc Tình Ca(Tuyển Tập Nghệ Sĩ 4 xuất bản năm 2000) Nếu cần phải tóm tắt cái gọi là sự nghiệp của Phạm Duy, thì đây là một dịp để tôi báo cáo với những người yêu nhạc : Có 3 con người ở trong tôi, cũng như mọi nghệ sĩ khác. Ba con người rõ rệt Thứ nhất, là con người tình cảm: là soạn những bản nhạc tình yêu cho cá nhân, không cứ ở trong một thời đại nào, ví dụ những bài nhạc như ‘Ngày đó Chúng Mình’, là những bài tình ca. Con người thứ hai: con người xã hội: là con người khóc cười theo mệnh nước, thì khởi sự bằng những bài ca yêu nước, yêu lịch sử với những ‘Gươm Tráng Sĩ’, ‘Chiến Sĩ Vô Danh’; qua những ‘Bà Mẹ Gio Linh’, qua cả những bài như ‘Huyền Sử Ca Một Người Mang Tên Quốc’… Cái xã hội tốt hay xấu, vẻ vang hay nhục nhằn thì nó đều hiện qua âm nhạc của tôi. Con người thứ ba: là con người tâm linh, con người lúc đó không còn là con người xác thịt nữa và cũng không phải là con người xã hội, mà phải vui phải buồn với cái xã hội của mình, mà phải hoà mình vào với thiên nhiên… Và tôi nghĩ rằng âm nhạc bao giờ nó cũng khởi sự bằng nhạc tâm linh cả… Cũng như tất cả những nhạc sĩ khác, tôi cũng có những bản nhạc cho tình yêu. Về tình yêu thì nó hơi khác với những người khác ở chỗ tính chất nhạc tình của tôi khác nhạc của ông Dương Thiệu Tước, hay là của ông Đặng Thế Phong, hay là của ông Trịnh Công Sơn… Nếu chúng ta nghe những loại nhạc tình của ông đặng Thế Phong, hay của ông Lê Thương, hay của ông Văn Cao thì đó là những tổ sư lãng mạn ở trong thời kỳ rất đẹp của tân nhạc lúc đó… Bên người tình nhân yêu nhau thì phải có mùa thu mới yêu nhau được. Thế cho nên hồi mới, ra toàn là những bài ca mùa thu: ‘Giọt Mưa Thu’, rồi thì ‘Con Thuyền Không Bến’, rồi thì ‘Thu Trên đảo Kinh Châu’, còn ông Văn Cao thì ‘Thu Cô Liêu’, rồi ‘Buồn Tàn Thu’… Thời kỳ đó là thời kỳ lãng mạn. Thật ra tôi cũng có những bài lãng mạn chứ không phải là không… Lúc bấy giờ tôi tách được ra, là tôi làm loại nhạc không còn lãng mạn nữa mà nó là tình cảm. Tôi khởi sự với những bài: ‘Tìm Nhau’, ‘Kiếp Nào Có Yêu Nhau’, rồi ‘Cho Nhau’ rồi thì ‘đừng Xa Nhau’… đôi tình nhân yêu nhau không cần phải mùa thu, không cần phải con đò, ao lạnh hay trên cái hồ xưa gì cả! Mà hai người yêu nhau thì chỉ có người nam với người nữ yêu thôi.‘…ngày đó em đi nhẹ vào đời…’, anh ra sao, em ra sao, chỉ có hai người ấy thôi thì tôi gọi đó là nhạc tình cảm. Về sau này cũng có một số những anh em khác cũng đi vào cái con đường đó, có thể còn hay hơn nhạc của tôi cơ, nhưng mà dù sao tôi là người đi đầu. Những người đi sau, ví dụ như Ngô Thụy Miên chẳng hạn, với loại nhạc mà theo tôi, gần với Phạm Duy nhất, chứ không có tính chất lãng mạn nữa, ví dụ như bài mà tôi rất thích có lời như“dù mai đây ai đưa em đi đến cuối cuộc đời…”gì đó, phải không? Nó gần gũi với nhạc tôi lắm. Hơn nữa, có thể thấy rõ rằng là về sau, nhạc tình của ông Trịnh Công Sơn thì nó không có tình cảm, mà nó cũng không có lãng mạn… Tôi gọi đó là nhạc ‘não tình’. Nó cũng không vào tim mà cũng không vào đầu; nó đánh vào cái não của mình. Vì cái đời sống lúc đó nó não nề quá. Hay nhạc của ông Lê Uyên Phương chẳng hạn thì nó cũng không giống những người khác, tức là nó ‘dục tính’, nó xưng tụng cái tình dục như ‘Vũng Lầy Của Chúng Ta’, đại khái như vậy! Nghe nhạc Lê Uyên Phương thấy nó khác nhạc Phạm Duy, nó lại càng khác nhạc của Đặng Thế Phong, là ở chỗ nó xưng tụng cái dục tình. Còn cái đời sống của ông Văn Cao trong nhạc tình thì còn tuyệt vời hơn. Nếu cần phải biết là nhạc của tôi khác với nhạc của những người khác về phương diện nhạc tình ra sao, thì hôm nay tôi mạo muội đưa ra vài ba nhận xét nhỏ như vậy… Ngoài những cái khía cạnh nội dung như vậy, xét đến cái phương diện hình thức, phải công nhận rằng lúc đó nhạc tình của những người như ông Văn Cao, ông Đặng Thế Phong hay như của Lê Yên, của ông Dương Thiệu Tước hay là ông Thẩm Oánh chẳng hạn, không phát triển mạnh mẽ về phương diện nhạc tính, phương diện nhạc điệu. Gần như ở trường hợp là hãy còn bình dị quá. Thí dụ như nhạc tình của ông Văn Cao thì đại đa số chỉ nằm trong cái âm giai ‘Ré mineur’ (Cn) chẳng hạn, hay trong một cái khuôn khổ 32 ‘mesures’. Nhưng dù sao ông ấy cũng có hai tác phẩm tuyệt vời là ‘Trương Chi’, với ‘Thiên Thai’, hai tác phẩm lớn. Nhưng dù sao đi chăng nữa, nhạc ngữ của ông ấy cũng không được phong phú như chúng ta mong muốn. Riêng tôi, thì tôi cũng mừng về cái loại nhạc tình cảm đó, nó cũng đi từ những chỗ hết sức giản dị cho đến những chỗ hơi cầu kỳ một chút xíu. đó là lẽ tất nhiên vì nghệ sĩ mà không sáng tạo thì đứng một chỗ, tức là lùi. Từ cái bài nhạc tình nhỏ nhen của tôi là ‘Đừng Xa Nhau’ khi chuyển sang bài ‘Đường Chiều Lá Rụng’, thì về nhạc ngữ có thể có một cái sự khác nhau, chứ không nằm trong nhạc ngữ bình dị nữa. Ngày 22/8/2024, khi ở tuổi 61, Trường Vũ - ca sĩ nổi tiếng với các ca khúc "Thân phận nghèo",... Giai điệu Bolero, với xuất xứ từ các thể loại nhạc như Rumba, Habanera, Valse và Tango, đã du nhập... Việc tặng bông trong các buổi đờn ca tài tử đã trở nên phổ biến trong những thập kỷ gần... Trong bài hát "Chiều Trên Phá Tam Giang" của nhạc sĩ Trần Thiện Thanh có câu: "Giờ này Thương Xá... Trong những thập niên 1950, 1960 và 1970, hình ảnh những chiếc taxi hai màu xanh - trắng (hoặc vàng... Những ai từng học ở trường Đại học Văn Khoa xưa, nay là trường Đại học Khoa học Xã hội... © 2020NhacXua.VN- Nhạc Xưa Thời Báo.

Tuyệt Phẩm Thơ Phổ Nhạc

Xem tất cả

Kho Tàng Lưu Trữ

Tác phẩm tiêu biểu

Xem tất cả
Featured Story

Diễm xưa

Tổng quan “Diễm xưa” là tình khúc tiền chiến diễm lệ và nổi tiếng nhất của Trịnh Công Sơn, sáng tác năm 1960 tại cố đô Huế. Tác phẩm lấy cảm hứng từ...

Bài viết nổi bật
Mới cập nhật

Bao Giờ

Tác phẩm mới được tổng hợp và đưa vào hệ thống.

Tác phẩm
Mới cập nhật

Ba Mươi Năm

Tác phẩm mới được cập nhật vào kho lưu trữ kỹ thuật số.

Tác phẩm

Góc Kiến Thức

Ngày này năm xưa

Tháng 5 năm 2014: Hiện tượng "Chắc ai đó sẽ về" làm khuynh đảo các bảng xếp hạng V-Pop, đồng thời mở ra cuộc tranh luận lớn nhất về vấn đề bản quyền trong lịch sử âm nhạc Việt Nam.

Bạn có biết?

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại gia tài âm nhạc đồ sộ với hơn 600 ca khúc, trong đó phần lớn là các bản tình ca buồn.

Kỷ lục Âm nhạc

  • 🏆 Nghệ sĩ nam có nhiều MV trăm triệu view nhất: Sơn Tùng M-TP
  • 🏆 Cống hiến nhiều nhất: Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn

Kết nối nghệ sĩ & Tác phẩm

NETWORK HIGHLIGHT

Làn Sóng Xanh Era

Khám phá mạng lưới kết nối giữa các nhạc sĩ và ca sĩ định hình âm nhạc đại chúng Việt Nam những năm 1990-2000.

Khám phá bản đồ
Bộ sưu tập

Giai Thoại & Câu Chuyện

Những câu chuyện thâm cung bí sử, hoàn cảnh sáng tác phía sau những bài hát bất hủ.

Bộ sưu tập

Thơ Phổ Nhạc

Sự giao thoa tuyệt đẹp giữa thi ca và âm nhạc. Những bài thơ được chắp cánh bởi giai điệu.

Vintage sheet music and instruments
Bộ sưu tập đặc biệt

Giai đoạn vàng trước 1975

Một góc nhìn sâu sắc về các trào lưu âm nhạc đa dạng đã nảy nở tại Sài Gòn.