Những mảnh ghép tri thức âm nhạc

Khám phá kho lưu trữ kỹ thuật số, nơi kết nối các thế hệ nghệ sĩ, câu chuyện đằng sau những bản nhạc bất hủ và mạng lưới tri thức âm nhạc sâu rộng.

Ngẫu nhiên

Những Mảnh Ghép & Giai Thoại

Xem tất cả
Thông tin Bài hát

Anh vẫn buồn như xưa

Tổng quan Bài hát "Anh vẫn buồn như xưa" được sáng tác và viết lời bởi nhạc sĩ Tăng Nhật Tuệ. Năm sáng tác: Đang cập nhật. Tăng Nhật Tuệ là một nhạc ...

Tiểu sử Nghệ sĩ

Phương Vy

update_topic(strategic_intent='Creating an encyclopedia entry for Phương Vy based on the provided data, following specified formatting and content rul...

Giai thoại Bài hát

Ba Mươi Năm

Trình duyệt của bạn không cho phép chơi nhạc. Ba mươi năm - Võ Tá Hân phổ nhạc, Khắc Dũng trình bày...

Thông tin Bài hát

Bao Giờ

Tổng quan Bài hát "Bao Giờ" do nhạc sĩ Đỗ Bảo sáng tác phần nhạc. Phần lời và năm sáng tác: Đang cập nhật. Nội dung nghệ thuật "Bao Giờ" mang đặc t...

Tiểu sử Nghệ sĩ

Phượng Hằng

update_topic(strategic_intent='Creating an encyclopedia entry for Phượng Hằng based on the provided data, adhering to all specified formatting and con...

Giai Thoại Cuốn Hút

Xem tất cả

Cho Em Quên Tuổi Ngọc

Bài Cho Em Quên Tuổi Ngọc là một tuyệt phẩm của nhạc sĩ Lam Phương sáng tác vào thập niên 1980 ở Pháp quốc, hơi khác biệt so với dòng nhạc thông thường mà Lam Phương thường hay viết. Đây là một ca khúc mang dáng dấp nhạc hàn lâm ngoại quốc, là bài duy nhất mà Lam Phương viết cả lời Pháp lẫn lời Việt. Bài hát được nhiều nữ danh ca trình bày trong gần 40 năm qua, được nhiều người yêu thích, nhưng ít người biết hoàn cảnh xuất xứ của bài hát. Nữ danh ca Bạch Yến kể, khi nhạc sĩ Lam Phương hoàn thành xong tác phẩm này, ông đến gặp Bạch Yến và nói rằng ông sáng tácCho Em Quên Tuổi Ngọclà dành riêng cho giọng ca Bạch Yến. Tuy nhiên ông chỉ sáng tác bài này cho Bạch Yến hát thôi, còn nội dung về người con gái trong bài hát là viết về người khác. Vào những năm 1980, Lam Phương ở Pháp, có một người bạn rất yêu văn nghệ, đang thực hiện 1 cuốn phim, và nhờ Lam Phương viết nhạc cho cuốn phim đó. Nội dung cuốn phim nói về cuộc đời phản chιến của 1 cựu nữ sinh viên đầu thập niên 1970. Sau này khi ra nước ngoài, cô gái nhớ lại những việc làm của mình, hối hận về những hành động bộc phát khi xưa đã vô tình gây những hậu quả to lớn cho quê hương: Cho em trao một lời cuối ăn năn quê hương tội tình… Cô rất ân hận và tìm đến men cay để quên đi sự việc đã qua: Hơi men nào cũng chẳng đủ sayThêm cho đầy giấc mộng chua cayCó nhớ phút giây lầm lỡUống cho thật sayUống quên ngày mai… Click để nghe Ngọc Lan hát Cho Em Quên Tuổi Ngọc Cô sinh viên năm xưa cũng nguyện rằng mong muốn sau này,“khi hoa tàn úa xanh xao phong ba dập vùi”, sẽ được trở về Việt Nam sống, rồi chọn cái chết trên quê hương để chuộc lại lỗi lầm: Em xin nằm xuống mang theo con tim ngậm ngùiGiấc mơ nhỏ nhoi đưa em vào cõi thiên thu yêu thương đời đời… Rồi đất mẹ bao la nhân từ cũng sẽ tha thứ cho những người con lầm lạc, ôm lấy họ trong niềm “yêu thương đời đời…” Click để nghe Khánh Hà hát Câu chuyện này được chính nhạc sĩ Lam Phương kể lại trong một chương trình nhạc. Ông cũng cho biết phần lời Pháp của bài này, ông viết một nội dung hoàn toàn khác, về một chuyện tình đau thương và cay đắng. Click để nghe danh ca Bạch Yến hát Cho Em Quên Tuổi Ngọc (song ngữ Việt – Pháp) Bài hát viết về một người con gái, và chỉ dành cho giọng nữ hát, nên chưa thấy có nam ca sĩ nào hát bài này. Các danh ca Bạch Yến, Ngọc Lan, Khánh Hà, Ý Lan, Trần Thu Hà… đều trình bày bài hát này rất hay và cảm xúc. Ở trong nước, bài hát được cấp phép lưu hành vào khoảng 2013, Thu Minh là ca sĩ đầu tiên trong nước hát bài này. Click để nghe Thu Minh hát Cho Em Quên Tuổi Ngọc Cho Em Quên Tuổi Ngọccó lẽ là một trong số ít bài hát mà nhạc sĩ Lam Phương sáng tác theo “đơn đặt hàng” thời gian sau năm 1975. Tuy nhiên theo như Lam Phương tâm sự, ông đã viết bài này với trọn con tim và tâm hồn, đặt rất nhiều cảm xúc của mình vào, nên bài hát được khán giả đón nhận nồng nhiệt, rất được yêu thích, trở thành 1 trong những bài hát hay nhất trong sự nghiệp sáng tác của ông. Đông Kha (nhacxua.vn) Ngày 22/8/2024, khi ở tuổi 61, Trường Vũ - ca sĩ nổi tiếng với các ca khúc "Thân phận nghèo",... Giai điệu Bolero, với xuất xứ từ các thể loại nhạc như Rumba, Habanera, Valse và Tango, đã du nhập... Việc tặng bông trong các buổi đờn ca tài tử đã trở nên phổ biến trong những thập kỷ gần... Trong bài hát "Chiều Trên Phá Tam Giang" của nhạc sĩ Trần Thiện Thanh có câu: "Giờ này Thương Xá... Trong những thập niên 1950, 1960 và 1970, hình ảnh những chiếc taxi hai màu xanh - trắng (hoặc vàng... Những ai từng học ở trường Đại học Văn Khoa xưa, nay là trường Đại học Khoa học Xã hội... © 2020NhacXua.VN- Nhạc Xưa Thời Báo.

Dạ Lai Hương

Trong gia tài âm nhạc có số lượng rất đồ sộ của nhạc sĩ Phạm Duy, có một bài hát mang tên làDạ Lai Hương, dù không quá nổi tiếng so với nhiều ca khúc khác, nhưng luôn được đánh giá cao về nhạc thuật, về tính thẩm mỹ của ca từ. Click để nghe Thái Thanh hát bài Dạ Lai Hương Trong một bài viết, ca sĩ Quỳnh Giao nói rằng đây là bài hát mà các đồng nghiệp khó tính của nhạc sĩ Phạm Duy như Vũ Thành, Hoàng Trọng đều ngợi ca và trân trọng viết hoà âm thật đẹp: Ðêm thơm như một dòng sữaLũ chúng em êm đềm rủ nhau ra trước nhàHiu hiu hương từ ngàn xaBỗng quay về dạt dào trên hè ngoài trời khuya… Bài hátDạ Lai Hươngnói về loài hoa dạ lai hương, còn được gọi là dạ lý hương, có mùi hương rất đặc trưng vào ban đêm có thể làm thơm nức cả một vùng không gian:“đêm thơm như một dòng sữa”.Nhạc sĩ Phạm Duy nói rằng khi viết câu này, ông đã nhớ lại những ngày cùng mẹ sống ở Hưng Yên trước đó hơn 10 năm, ở trước nhà có hàng cây hoa sữa rất lớn, thơm nồng cả dãy phố, và hoa sữa cũng có mùi hương gần giống như dạ lý. BàiDạ Lai Hươngđược nhạc sĩ Phạm Duy sáng tác năm 1953 tại Huế. Khi này ông đã dẫn vợ con vào định cư ở Sài Gòn được một năm, nhưng rồi lại ra Huế làm việc một thời gian tương đối lâu theo lời mời của người bạn là Nguyễn Đức Quỳnh. Ông kể lại trong hồi ký: “Tôi có đủ thời giờ để biết Huế hơn xưa, biết yêu những con đường thật nhỏ và yên tĩnh (yêu nhất con đường mang tên Âm Hồn) dẫn dẫn tôi đi vào những căn nhà êm đềm và gặp cuộc sống rất thầm lặng của những người tôi đã vô phép gọi là của xứ dân gầy. …Dù là kẻ rất ham mê những thú vui nhục dục, tôi cũng biết đi tìm con người và cảnh vật của Huế để thấy được khía cạnh thanh tao của những ngày ở nơi cố đô này. Lững thững đi chơi một mình nơi chùa Thiên Mụ hay tại những lăng tẩm vô cùng thầm lặng. Làm quen với những người nếu không là Công Tằng Tôn Nữ thì cũng thuộc thành phần cao trong xã hội, có lời ăn tiếng nói nhỏ nhẹ duyên dáng dễ thương, tôi có nhiều cảm hứng để soạn bài Dạ Lai Hương”. Trong lời đề tựa cho bài hát, nhạc sĩ Phạm Duy ghi:“Tặng Thu Vân, Dạ Thảo”. Thu Vân và Dạ Thảo cũng chính là“lũ chúng em êm đềm rủ nhau ra trước nhà”trong đoạn đầu bài hát. Đó là tên của 2 nữ sinh Đồng Khánh, là cháu gọi Đức Từ Cung (mẹ của cựu hoàng Bảo Đại) là cô ruột. Khi làm việc tại Huế, nhạc sĩ Phạm Duy được một người quen là nghệ sĩ Vũ Đức Duy dẫn đến nhà của 2 chị em Thu Vân – Dạ Thảo để chơi, họ rất vui mừng và hân hạnh được đón tiếp tác giả của bài hát mang tênTình Cachỉ vừa ra mắt trước đó một năm đã được phát thường trực trên đài phát thanh, nổi tiếng khắp cả nước. Sau bữa tối, mọi người cùng nhau ngồi trước sân nhà, trong một không gian huyền ảo nhiệm mầu giữa lòng cố đô đầy linh khí, giọng hát ấm áp và tài hoa của chàng nhạc sĩ ngoài 30 tuổi – từng là ca sĩ tân nhạc nổi danh là Phạm Duy – đã hoàn toàn chinh phục được trái tim của những cô gái Huế con của chủ nhà. Hai nàng thiếu nữ công khai bày tỏ lòng ngưỡng mộ, không thể giấu được tiếng lòng thổn thức với chàng, nhưng lúc đó thì Phạm Duy đã có Thái Hằng, vừa mới sinh con đầu lòng Duy Quang được hơn một năm, nên chỉ có thể đáp lại sự ngưỡng mộ đó của những cô nàng xứ Huế bằng âm nhạc mà thôi. Bài hátDạ Lai Hươngtràn ngập niềm yêu đời, yêu người, “tình lên phơi phới”, nhưng nhạc sĩ Phạm Duy xác nhận rằng cái “tình” đó chỉ đơn thuần là tình người, tình nhân loại trong cõi thái hòa, của những người cùng nhau đắm chìm trong không gian tràn đầy nhạc điệu mê đắm, cùng biết rung cảm trước sự huyền ảo tuyệt diệu của bầu không gian xứ Huế có làn gió nhẹ mang mùi thơm dạ lý hương nồng nàn như mùi sữa. Để diễn tả những tình cảm trong sáng, thánh thiện, thuần khiết và lánh xa bụi trần nhân thế đó, thanh âm của bài hát cũng được dàn trải rất nhẹ nhàng, qua mỗi câu càng được lên cao như là tình cảm đang dâng tràn tuôn theo mùi hương trong màn đêm, êm mướt như nhung: Đường đêm sao yên vui,Người đi quen lối,Tình trai nở bốn phương trời Đàn em trong cơ ngơi,Nhờ đêm đưa tới những ai làm ngát hoa đời.Nhẹ bàn chân, hương đêm ơiNhẹ bàn tay hương yêu ơi… Bài hát có hai hình tượng có thể xem là đối lập nhau: Tình trai nở bốn phương trời, chính là người nhạc sĩ phong sương đã từng bước chân đi dọc khắp dải đất hình chữ S, đã chứng kiến biết bao điều mới lạ trên đời. Điều đó thật khác biệt với 2 cô nàng tiểu thư khuê các, con nhà gia giáo, chỉ vừa mới lớn và chưa từng được đặt chân đến những miền xa: “Đàn em trong cơ ngơi”. Ở đoạn nhạc này, từ lời van nài:“nhẹ bàn chân hương đêm ơi”có những nốt thật cao, đã đột ngột hạ xuống đúng một quãng tám để trở thành lời nhắc nhở thật nhẹ nhàng:“nhẹ bàn tay hương yêu ơi”, như là cách để nâng niu và trân trọng “hương yêu”, sợ rằng sẽ khuấy động không gian êm đềm và mê hoặc đó. Lung linh trăng lại về nữaCánh gió đưa hương ngả đầu mây phất phơ.Đêm thơm không phải từ hoaMà bởi vì ta thiết tha tình yêu thái hòa. Ban đầu là người say mùi hương dạ lai hương, như là dòng khói trắng theo cánh gió từ trên cao đầu mây bay về ngập đường khuya, dạt dào trên hè, rồi sà xuống bên người. Nhưng rồi khi đã say men tình người phơi phới, thì mới biết rằng đêm thơm không phải từ hoa, mà là vì“ta thiết tha tình yêu thái hòa”.Hương thơm của hoa đã gợi lên niềm vui của tình người, của cuộc đời“ngon như men say”, và niềm vui đó giống như là mật hoa của ong bay ngọt lên cây trái, góp chung mật sống lâu dài: Đời ngon như men sayTình lên phơi phớiĐẹp duyên người sống cho người Đời vui như ong bay, ngọt lên cây tráiGóp chung mật sống lâu dài.Nhịp bàn tay nhân gian ơiNhịp bàn chân nhân gian ơi Cuộc vui nào cũng sẽ đến lúc tàn, để rồi những ngày sau đó, đêm nối tiếp đêm, những cô gái vẫn tiếp tục“cầu hương lúc tân kỳ”,để tìm lại hương đêm, để “đêm thơm thêm lần nữa”, để hẹn nhau thương nhớ và cùng nhau khơi gợi lại niềm yêu đời, yêu cuộc sống: Đêm đêm trước khi ngủ kỹLũ chúng em ân cần cầu hương lúc tân kỳ.Đêm thơm thêm một lần nữaRồi hẹn nhau thương nhớ. Có lẽ là sẽ không có ai hát hay hơn Thái Thanh trong bản tình ca diễm tuyệt này, mời các bạn nghe lại: Click để nghe Thái Thanh hát Dạ Lai Hương trước 1975 Bài: Đông KhaBản quyền bài viết của nhacxua.vn Phạm Duy viết về mùa Xuân rất nhiều. Ở đây, tôi xin nêu một vài cảm nhận về mùa Xuân... Trong số những ca khúc viết thời đi kháng chiến của nhạc sĩ Phạm Duy, hầu hết là những ca... Những ca khúc tân nhạc viết về Mùa Xuân được sáng tác vào đầu những năm 1950 vốn không phải... Trong tân nhạc Việt Nam, nhạc sĩ Phạm Duy có thể không phải là người tài năng nhất, không phải... Sau đây là bài viết của cố danh ca Quỳnh Giao nói về Đường Chiều Lá Rụng, một ca khúc... Sau khi vào tới miền Nam, hát xong tại Sài Gòn, gánh hát Đức Huy khởi sự xuống Lục tỉnh.... © 2020NhacXua.VN- Nhạc Xưa Thời Báo.

Nhạc Sĩ Ngô Thụy Miên & Chuyện Tình Đầy Trắc Trở

Nhạc sĩ Ngô Thụy Miên tên thật là Ngô Quang Bình, sinh 26/9/1948 tại Hải Phòng, là con thứ nhì trong một gia đình có bảy người con. Ông lớn lên với sách vở, thơ văn, vì gia đình có mở một nhà sách tên Thanh Bình ở thành phố Cảng, và sau này trên đường Phan Đình Phùng (nay là Nguyễn Đình Chiểu), Sài Gòn, trước trường tiểu học Pháp Aurore. Tại Sài Gòn, ông học trường Trung học Nguyễn Trãi. và sau đó là Trường Đại học Khoa học Sài Gòn (Nay là Đại học KHTN). Trong thập niên 1960, Ngô Thụy Miên có theo học vĩ cầm với Giáo sư Đỗ Thế Phiệt, và nhạc pháp với Giáo sư Hùng Lân tại Trường Quốc gia Âm nhạc Sài Gòn. Tình khúc đầu tiên của nhạc sĩ Ngô Thụy Miên là“Chiều Nay Không Có Em”được viết từ năm 1963 và ra mắt công chúng năm 1965, được giới sinh viên học sinh thời gian đó hưởng ứng rất nồng nhiệt. Vài năm sau, ông cho xuất bản một tập nhạc đầu tay lấy tựa “Tình Khúc Đông Quân” in ronéo phát hành tại Sài Gòn (1969). Đông Quân chính là bút hiệu đầu đời của ông trước khi đổi qua bút hiệu Ngô Thụy Miên bây giờ. Nghe bài hát Chiều Nay Không Có Em – Duy Quang Trong tuyển tập “Tình Khúc Đông Quân”, nhạc sĩ Ngô Thụy Miên đã ghi lời tâm bút thay cho lời ngỏ trên trang đầu, là những tình khúc viết cho bạn bè và tình yêu, trong đó gồm 12 bản tình ca gồmGiáng Ngọc, Mùa Thu Này Cho Em(sau đổi làMùa Thu Cho Em), Gọi Nắng (sau đổi là Giọt Nắng Hồng), Dấu Vết Tình Yêu (sau đổi là Dấu Tình Sầu), Cho Những Mùa Thu (sau đổi là Thu Trong Mắt Em), Tình Khúc Tháng 6 (thơ Nguyên Sa), Nhạt Tình (sau đổi là Dấu Vết Tình Yêu), Mây Hồng (sau đổi là Tuổi Mây Hồng), Gọi Tên Em, Ái Xuân,Mùa Thu Về Trong Mắt Em(sau đổi làMắt Thu) vàNgày Mai Em Đi. Sau ca khúc đầu tayChiều Nay Không Có Em,nhạc sĩ Ngô Thụy Miên có một loạt nhạc phẩm nổi tiếng được phổ từ thơ của thi sĩ Nguyên Sa nhưÁo Lụa Hà Đông, Paris Có Gì Lạ Không Em, Tuổi 13… Trong thời gian theo học đại học, nhạc sĩ Ngô Thụy Miên đã nhiều lần trình diễn và phổ biến những sáng tác của mình tại các hội quán văn nghệ, các trung tâm văn hóa và giảng đường đại học. Năm 1974, Ngô Thụy Miên thực hiện băng nhạc đầu tay “Tình Ca Ngô Thụy Miên” gồm 17 tình khúc đã được viết trong khoảng thời gian 1965 – 1972. Với sự góp mặt của các ca sĩ và nhạc sĩ như Khánh Ly, Duy Trác, Thái Thanh, Lệ Thu, Thanh Lan, Duy Quang… Nghe băng nhạc Ngô Thụy Miên 1974 – được nhiều người nhận xét là băng nhạc tình ca hay nhất Ngô Thụy Miên có một chuyện tình ly kỳ, gặp nhiều trắc trở vì hoàn cảnh đất nước. Trong thời gian học tại Trường Quốc gia Âm nhạc Sài Gòn. Ngô Thụy Miên quen biết với Đoàn Thanh Vân (con gái của diễn viên Đoàn Châu Mậu), và hai người đã có một mối tình. Những tình khúc bất hủ của nhạc sĩ Ngô Thụy Miên phần nhiều là được viết cho cuộc tình này. Mối tình của họ bắt đầu khi quen biết nhau tại trường, sau đó bị ngắt quãng một thời gian, rồi lại tái hợp vào năm 1973 và đi đến quyết định kết hôn. Nhưng do sự kiện tháng 4 năm 1975, khiến dự định kết hôn của hai người đã không thành, vì Đoàn Thanh Vân theo gia đình di tản trong những ngày đầu tiên, trong khi Ngô Thụy Miên ở lại Sài Gòn. Chính niềm thương nhớ đó đã tạo thành cảm xúc cho ông sáng tác thành ca khúc“Em Còn Nhớ Mùa Xuân”,nhắc nhớ đến những kỷ niệm đẹp của hai người trong khung cảnh của Sài Gòn một thời thơ mộng, đồng thời khẳng định với người yêu rằng:Anh ở nơi này vẫn luôn chờ mong… Em có bao giờ còn nhớ mùa xuânNhớ tháng năm xưa của tuổi dại khờNhớ tiếng dương cầm giọng hát trẻ thơCó thấy bơ vơ ngày tháng đợi chờ Nơi ấy bây giờ còn có mùa xuânCó dáng nghiêng nghiêng nụ cười thật gầnCó mắt nai vàng ngời sáng tình xanhEm có bao giờ thấu cho lòng anh Trời Sài Gòn chiều hôm nay còn nhiều mây bayNhiều niềm đau thương bi hận tràn đầyGượng nụ cười giọt lệ trên môiNhìn đất nước tơi bời một thời em có hay Những thành phố em sẽ đi quaĐây Ba-Lê, đây Luân Đôn, đây VienneNhưng có đâu bằng Sài Gòn hôm quaNhưng có đâu bằng Sài Gòn mai sauEm có mơ ngày hát câu hồi hương Em nhé khi nào chợt nhớ mùa xuânNhớ lá thư xanh và chuyện tình hồngNhớ nắng hanh vàng nhuộm áo Hà ĐôngAnh ở nơi này vẫn luôn chờ mong… Nghe bài hát Em Còn Nhớ Mùa Xuân – Sĩ Phú Dưới đây là những lời của nhạc sĩ Ngô Thụy Miên khi tình tự gửi cho người yêu Đoàn Thanh Vân, đó là ký ức một thời Sài Gòn của ông: “Rồi đến là những mùa Xuân của tuổi trẻ, của những háo hức, đợi chờ, của những môi hôn vội vã, vòng tay quấn quít trao nhau trên đường phố thân thương, quán hàng quen thuộc. Em nhớ không, La Pagode, Givral của những sáng hẹn hò, Hoàng Gia, Pôle Nord của những chiều đưa đón, dạo phố tết Nguyễn Huệ, Lê Lợi tấp nập người qua, và những tối ghé quán Bà Cả Đọi, rồi Đêm Mầu Hồng. Cái không khí ấm áp tràn đầy tình thương của quê hương đó, làm sao có thể ngờ được chỉ trong vài tháng đã chỉ còn để lại một mùa Xuân, một mùa Xuân cuối cùng của những đổi thay…” Năm 1978, Ngô Thụy Miên sang được đến Pulau Bidong – Mã Lai, ở đây 6 tháng trước khi được nước thứ ba bảo lãnh cho sang Montréal (Canada) vào tháng 4 năm 1979. Khi đó, Đoàn Thanh Vân từ San Diego – Mỹ, được tin người yêu đã đến được Canada, đã bay sang gặp người yêu. Họ nối lại cuộc tình dang dở hơn 10 năm vì thời cuộc và kết hôn với nhau. Cùng năm 1979, cả hai qua sống tại San Diego rồi dời lên Orange County. Qua năm 1980, nhạc sĩ Ngô Thụy Miên bắt đầu đi làm về ngành điện toán cho trường UCLA (Los Angeles) và định cư tại Seattle (Washington). Tại đây ông cho ra đời sáng tác đầu tiên tại hải ngoại của mình là“Bản Tình Ca Cho Em”, được thính giả đón nhận ngay sau chuỗi ngày dài thiếu những giai điệu tình ca vì phải lo ổn định cuộc sống trên xứ người. Những ca khúc quen thuộc khác cũng được Ngô Thụy Miên sáng tác là:Nắng Paris Nắng Sàigòn, Giấc Mơ, Mùa Thu Xa Em, Tháng Giêng và Anh, Dốc Mơ… Sau đó, vợ chồng Ngô Thụy Miên – Đoàn Thanh Vân chuyển đến định cư ở Olympia, tiểu bang Washington, là một thành phố hiền hòa, bình yên. Họ đã đi du lịch rất nhiều nơi trên thế giới. Có một lần Ngô Thụy Miên dừng chân đến một nước Đông Nam Á, chỉ còn một bước nữa thôi là về đến quê nhà, nhưng bước chân phiêu linh sao vẫn nặng nề và quê xưa vẫn xa vời vợi. Vợ chồng nhạc sĩ Ngô Thụy Miên – Đoàn Thanh Vân Trong thập niên 1990, nhạc sĩ Ngô Thụy Miên tiếp tục sáng tác với những ca khúc mới nhưCần Thiết, Em Về Mùa Thu, Trong Nỗi Nhớ Muộn Màng…và đặc biệt làRiêng Một Góc Trời(1997). Năm 2000, nhạc phẩm“Mưa Trên Cuộc Tình Tôi”của ông được khán thính giả đón nhận một cách đặc biệt. Tổng cộng đến nay, nhạc sĩ Ngô Thụy Miên đã sáng tác được trên 70 ca khúc, với khoảng 20 bài được sáng tác khi còn ở trong nước. Có những nhận xét từ mọi người khi nói rằng nhạc Ngô Thụy Miên chứa đựng đầy chất lãng mạn, chịu nhiều ảnh hưởng từ thơ Nguyên Sa. Có người biện giải, những suy nghĩ đó chỉ đúng phần nào đó khi ông phổ thơ Nguyên Sa. Còn những nhạc phẩm khác, nhạc của Ngô Thụy Miên vẫn mang đậm chất tình ca riêng biệt như những nhạc phẩm đầu tay trong tập nhạc “Tình Khúc Đông Quân”. Vì nhạc của Ngô Thụy Miên nếu đứng riêng biệt cũng không kém chất lãng mạn, trữ tình, vẫn có sắc thái độc đáo. Tuy nhiên không ai có thể phủ nhận, khi Ngô Thụy Miên phổ thơ Nguyên Sa thì sự giao duyên này là một cuộc giao hưởng trường cửu, như“Paris Có Gì Lạ Không Em”, “Tuổi 13”, “Áo Lụa Hà Đông”, “Nắng Paris Nắng Sài Gòn”, “Tình Khúc Tháng 6”…Sự giao hưởng này làm thăng hoa sự tuyệt tác từ thơ qua nhạc và ngược lại. Nhạc sĩ Ngô Thụy Miên từng tâm sự về mối giao cảm giữa nhạc của ông với thơ Nguyên Sa:“…Trong thời gian đi học, mình đọc thơ của Nguyên Sa nhiều nhất, ngâm nhiều nhất thành ra nó đã thấm vào hồn mình… Trong bốn thập niên viết nhạc của tôi thì thơ của ông ấy lúc nào cũng bàng bạc ở trong dòng nhạc của tôi. Ngay cả như bên này như tôi viết “Nắng Paris, Nắng Sài Gòn” cũng mang một âm hưởng của Áo Lụa Hà Đông hay Paris Có Gì Lạ Không Em?”. Ngô Thụy Miên từng nói rằng:“Tôi không viết nhạc để sống, nhưng sống để viết nhạc”, cho thấy ông là người sống vì nghệ thuật hơn là nô lệ cho đồng tiền bằng những sáng tác tác phẩm của mình, do ông còn có một nghề khác là chuyên viên của ngành điện toán. Vì thế cho đến nay Ngô Thụy Miên chỉ đến với âm nhạc bằng những cảm xúc riêng tư, không hề có mục đích thương mại, như ông đã tuyên bố, do đó những tình khúc của ông đã thoát ra sự gò bó khi dùng âm nhạc và lời ca làm sinh kế như nhiều nhạc sĩ cùng thời. Nhạc sĩ Ngô Thụy Miên muốn viết cho chính ông, bằng những cảm xúc thật của mình, “tôi không viết cho mọi người”. Tuy chủ trương không viết cho mọi người, nhưng dòng nhạc của ông đã nói lên được tâm sự của những ai từng có những rung động trong tình yêu. Trả lời câu hỏi tại sao nhạc sĩ Ngô Thụy Miên không viết về những đề tài khác ngoài tình ca, ông thú nhận là có nhiều khi cũng muốn viết đề tài khác, nhưng không viết được. “Hơn nữa tôi không cảm thấy mình muốn viết về những đề tài đó, cho nên tôi chỉ viết về tình ca không mà thôi”.Nhưng có lẽ lý do đúng hơn hết là do bản tính lãng mạn của một nghệ sĩ vì“nếu bây giờ tôi khô khan, mực thước, đâu vào đó cả thì tôi đâu có làm văn nghệ được”. Ngô Thụy Miên cũng tự bạch về một quãng đời xa xưa của mình: “Tôi sinh ra tại Hải Phòng, một thành phố ở miền Bắc, cũng là nơi sinh trưởng của 2 người nhạc sĩ tôi yêu quí nhất, Văn Cao và Đoàn Chuẩn. Nếu Văn Cao là người nhạc sĩ tôi quí trọng nhất, không phải chỉ về những đóng góp của ông vào vườn hoa âm nhạc, mà còn về tác phong, đời sống cá nhân ông, còn với Đoàn Chuẩn là người tôi yêu thích nhất với những tình khúc bất hủ, và những đóng góp lớn lao của ông vào việc tạo dựng một dòng nhạc tình tự, lãng mạn nhất của nền tân nhạc Việt Nam. Qua Đoàn Chuẩn, tôi đã yêu mùa Thu, đã sáng tác nhiều nhạc phẩm về mùa Thu, và vẫn mơ một ngày nào đó sẽ có dịp trở về thăm mùa Thu của ông… Rời Hải Phòng vào miền Nam, bố mẹ tôi đã chọn thành phố Sài Gòn, đường Phan Đình Phùng để xây dựng lại tiệm sách Thanh Bình làm nơi sinh sống. Tại đây tôi lại có dịp nhìn thấy những chiếc tầu sắt khổng lồ với những ống khói cao ngất, phun ra những tàn khí bụi than mù mịt bầu trời (đoạn đường sắt này chạy trên đường Phạm Viết Chánh về đến Mỹ Tho thời Pháp, qua đến thời Tổng thống Ngô Đình Diệm vẫn còn hoạt động). Nhà tôi ở gần góc đường Cao Thắng (nay là Cao Thắng – Nguyễn Đình Chiều), trước cửa trường mẫu giáo Aurore. Tôi còn nhớ trên đường Cao Thắng, thật là một sự tình cờ trùng hợp, cũng có một lò bánh mì, là nơi cuối tuần tôi hay ra mua bánh về cho cả nhà ăn sáng với thịt nguội. Ngoài ra còn có 2 rạp chớp bóng Việt Long (sau là Văn Hoa Sài Gòn) và Đại Đồng. Ngôi chợ rất gần nhà là chợ Vườn Chuối mà thỉnh thoảng mẹ tôi cho đi theo để xách giỏ thức ăn về hộ mẹ…” nhacxua.vn biên soạn và tổng hợpNguồn: Trường Kỳ, Nguyễn Việt, wiki, thoibao Nhạc tình ca của Ngô Thụy Miên luôn có đầy đủ những cung bậc hạnh phúc lẫn thương đau, nhạc... Bản Tình Cuối là một trong số 17 Miên Tình Khúc được nhạc sĩ Ngô Thuỵ Miên sáng tác và... Khi dấn thân vào địa hạt âm nhạc, mỗi nhạc sĩ sẽ tìm cho mình một con đường riêng để... Sự nghiệp âm nhạc của nhạc sĩ Ngô Thuỵ Miên trải dài từ trước đến sau năm 1975, từ Việt... Nhạc sĩ Ngô Thuỵ Miên là một trong những nhạc sĩ hiếm hoi đứng ngoài những trào lưu, thị hiếu... Nhắc đến danh ca Thái Thanh có thể kể ra một loạt ca khúc bất hủ gắn liền với tên... © 2020NhacXua.VN- Nhạc Xưa Thời Báo.

Hoài Thu

Trong nền tân nhạc Việt Nam gần 90 năm qua, các bài nhạc phổ thơ luôn có một vị trí quan trọng. Những bài thơ vốn có ca từ rất đẹp, được nhạc sĩ phủ lên một lớp giai điệu tinh túy, làm cho bài thơ – bài nhạc luôn được tồn tại song hành cùng thời gian. Nhạc được phổ thơ thì đã quá quen thuộc và cũng là lẽ thường, nhưng có một bát hát không được phổ từ thơ, mà phổ từ bài tùy bút, đó là bài hát “Hoài Thu” của nhạc sĩ Văn Trí, nổi tiếng qua giọng hát Thanh Thúy. Mùa thu năm ấyTrên đường đến miền cao nguyênĐà Lạt núi rừng thâm xuyênThác ngàn nước bạc thiên nhiên Chạnh lòng tôi thấyLá vàng rơi nhẹ say mơTrong rừng thu đẹp nên thơLưng trời đàn chim bơ vơ Mùa thu năm nayTôi lại thấy lòng lâng lângKhi nhịp bước nhẹ đôi chânTrong rừng vắng lạnh bâng khuâng Bầy nai ngơ ngácLá vàng rơi đầy miên manTrên bờ cỏ rộng thênh thangNghe mùa thu đi ngỡ ngàng Đóa hoa phù dung trắng xóaNgàn cây hiu hắt tiếng nhạcMảnh linh hồn tôi thu nayLà linh hồn tôi thu nào Nắng đây vẫn là nắng ấmMùa thu thương nhớ mơ màngGió thu về đây mơn manHồ thu xanh biếc tràn lan Đồi thông vi vútNghe chừng lá động muôn phươngĐà Lạt những chiều mây vươngCó mùa thu vàng dâng hương Nhịp chân ai đấyHay là gió thoảng xa xôiGió làm rung động tim tôiHay là dư âm thu rồi? Click để nghe Thanh Thúy hát Hoài Thu trước 1975 Thông tin về nhạc sĩ Văn Trí hầu như không thể tìm thấy, chỉ biết rằng hiện nay ông đã gần 80 (sinh năm 1941) và đang sinh sống tại New Zealand. Bài hátHoài Thulà sáng tác nổi tiếng nhất của ông có nội dung viết về vùng cao nguyên Đà Lạt, được biết rằng bài hát được nhạc sĩ viết dựa trên bài tùy bút của thi sĩ Đinh Hùng mang tên làCảm Thu, được đăng trong giai phẩm “Mùa Gặt Mới” xuất bản tại Hà Nội năm 1940. Đây cũng là sáng tác đầu tiên của Đinh Hùng được đăng trên báo. Cảm ThuTùy Bút Đinh Hùng Thu năm nay, tôi lại đi trên con đường vắng này nghe từng chiếc lá rơi trên bờ cỏ… Nước trong như một cặp mắt tuyệt vời. Những cây liễu xanh đứng buồn như những nàng Cung nữ thời xưa, và trong vườn nhà ai thấp thoáng, hoa phù dung nở trắng như một linh hồn còn trẻ? Nắng ở đây vẫn là nắng vàng ngày xưa và linh hồn tôi vẫn là linh hồn tôi năm trước. Tôi vẫn ngờ như không sự thay đổi, vì lại thấy mình đi trên con đường này, thu năm nay, giữa lúc cây vàng rơi lá. Đường này hiu hắt, tôi đem lòng về để gặp mùa thu thương nhớ cũ, và nay cũng thấy thu về để nước hồ xanh. Chân ai đi xa vắng đằng kia, hay đó chỉ là gió thoảng mong manh? Và gió nào vương vấn hồn tôi, hay cũng chỉ là dư thanh của một ngày xưa cũ? Chao ôi! Buồn lại nhiều rồi, nhưng chỉ buồn như năm trước. Lòng tôi chẳng biết tìm ai mà nhớ, hôm nay nhớ lại buồn qua mới thấy nắng kia nhiều dĩ vãng. Tôi nhớ một người lữ khách nào xưa, ra đi từ một mùa thu… Thế rồi cũng một mùa thu trở lại những bước đầu tiên trên con đường bạn, mắt buồn như nước, mảng tìm hồn mình hiu hắt trong hồn thu mới… Thu đã về đây, tôi làm lữ khách đi hết sông này, sông khác, cả núi, cả đèo và lại cả rừng cả suối, bây giờ tôi cũng về đây để buồn thêm một ít, nhớ thêm một ít, và yêu thêm rất nhiều. …Từ hôm rời chân ở bến sông vàng. Từ biệt con thuyền phiêu bạt, tôi đã hết nhớ dãy núi xanh phơn phớt đằng xa và bâng khuâng trở lại con đường quê thân mật. Đi trên đất đó, giữa hai ruộng ngô thơm nghe ngào ngạt… Hương này có phải hương xưa? Ôi! Những dây đậu vẫn còn non mà luống khoai lang đã xanh tươi rồi nhỉ? Đi trên đất đỏ, bên những luống rau cải cúc và dẫm lên cỏ may vàng. Đây là những con bướm cũ, những cánh hoa xưa. Và này đây tất cả Ngày xưa: từng cơn gió nhỏ, từng sợi dây buồn… Thôi! Thôi! Tôi không còn trẻ thơ nữa để say sưa đuổi bắt bướm đồng, và chẳng ngắm gió sầu mây, chỉ hoa lòng nở cũng nhiều bông trắng! Thương nhớ vì sao! Tôi sớm giã từ hồn niên thiếu, hôm nay đi giữa cánh đồng lại thấy tuổi nhỏ của mình tản mạn trên từng cánh bướm, sắc hoa, và chân bước đi những bước ngậm ngùi, bởi chưng lòng tưởng con đường tan tác cánh hương của đóa xuân hồng thuở cũ. Có thể thấy trong bài tùy bút này không nhắc gì đến địa danh Đà Lạt. Ngay cả các hình ảnh trong bài cũng chỉ là một vùng quê Bắc Bộ nào đó chứ không phải là cao nguyên Đà Lạt như trong bài hát của nhạc sĩ Văn Trí. Bài hát chỉ mượn một vài hình ảnh biểu tượng của mùa thu, đó là lá vàng, là mây, gió, đóa hoa phù dung. Còn lại những hình ảnh đặc trưng vùng cao nguyên như bầy nai, đồi thông… hoàn toàn là do nhạc sĩ Văn Trí sáng tác nên. Vì vậy trong cả hai bản nhạc tờ phát hành còn lưu giữ được đến ngày nay, thì đều ghi nhạc và lời của Văn Trí, chứ không ghi tên Đinh Hùng. Một bài hát nổi tiếng khác của nhạc sĩ Văn Trí, có thể làm nhiều người bất ngờ, đó là bài hátTình Yêu Và Huyền Thoại. Bài hát này được ca sĩ Thanh Lan hát trong băng nhạc Nhật Trường 6 trước năm 1975, nhưng phần tác giả bị khuyết danh cho đến nay. Có một số nơi ghi tác giả sáng tácTình Yêu Và Huyền Thoạilà nhạc sĩ Minh Kỳ, tuy nhiên có thể thấy nét nhạc của bài hát này hoàn toàn xa lạ với các bài hát quen thuộc của Minh Kỳ. Cho tới gần đây, người viết có liên hệ được với một người quen của nhạc sĩ Văn Trí, được cô gửi cho xem bản nhạc củaTình Yêu Và Huyền Thoạivới thủ bút của chính tác giả, với bút danh là Văn Minh Trí. Bản nhạc này được tác giả in lại tại hải ngoại chứ không phải tờ nhạc phát hành trước 75. Trong bản nhạc này, tác giả ghi năm sáng tác là 1968. Bài hát là những vần thơ tuyệt đẹp và rất lãng mạn với những câu chữ như được bước ra từ một câu chuyện thần thoại:Nàng vươn tay hái sao trời đỉnh núi… Nàng mọc cánh bay đến nơi chân trờiChàng đuổi theo trên chuyến xe cuộc đờiNàng vươn tay hái sao trời đỉnh núiKết lên tóc mây như đôi mắt tình yêu. Nàng cầm đuốc soi sáng tâm tư chàngBầy thỏ ngoan đi trốn đôi tay chàngHồn chết đuối nơi sông dài yêu đươngBóng đêm đứng trông chiều khóc ai sương mờ. Trên đồng bằng ân ái, môi nàng là hoa thắmCho mật ngọt tình yêu, đam mê đừng trốn mấtMây mùa hè thiêu đốt, sa mạc lòng rực cháyChim rừng về hỏi lá, đàn quạ bên cười rũ. Nàng là đá bao tuổi xanh hỡi nàngChàng là rêu ôm đá mơ thiên đàngBằng đôi chân mang linh hồn rã điếuĐá xanh chở rêu về núi ta tự tình. Click để nghe Thanh Lan hát Tình Yêu Và Huyền Thoại Đông Kha (nhacxua.vn) © 2020NhacXua.VN- Nhạc Xưa Thời Báo.

Chuyện cô Tiên

Ba tôi qua đời bất ngờ năm 1964, nhỏ em út còn trong bụng Má. Tôi phải nghỉ học, tìm việc làm ngày đêm để phụ giúp Má tôi nuôi 6 đứa em còn nhỏ dại. Đầu năm 1965, tôi được mời đến dạy kèm Toán cho cô con gái lớn một gia đình người Việt ở Nam Vang. Mỗi ngày 2 tiếng, từ 7 đến 9 giờ tối, từ thứ Hai đến thứ Sáu. Em học trường Providence, còn gọi là trường Bà Phước, lúc đó chỉ dành cho nữ sinh. Em nhỏ hơn tôi một tuổi nhưng mới ở lại Cinquième, trong khi tôi đã đậu Brevet d’Études du Premier Cycle hai năm trước. Có lẽ vì là con gái nhà khá giả nên em hơi… làm biếng học, nhất là toán, géometrie và algèbre. Lúc đầu, tôi hơi nản lòng vì… em nhìn bài vở như thấy ma, tôi thường phải làm bài giùm em, nhưng từ từ em nghe lời tôi khuyên, chịu làm bài, chịu học bài, và được lên lớp mỗi năm. Đầu năm 1968, em học Troisième, chuẩn bị thi Brevet. Tôi kèm em từng môn, giúp em làm những bài vở mà đúng ra tôi không cần giúp. Em trả ơn bằng cách mời tôi ở lại ăn cơm tối. Tôi cho em mượn những quyển sách mà tôi đã học qua, trong một lần trả sách, em kèm theo tấm giấy chỉ viết một câu“cho moi làm amie intime của toi nha”. Tôi gật đầu vì sợ em giận, em không thèm học nữa. Từ đó, em hẹn tôi đi chơi cuối tuần, tôi cũng gật đầu với điều kiện là em phải xin phép Ba Má đàng hoàng và phải ráng học. Tôi biết em thương tôi, tôi cũng thương em. Tôi gọi em là “cô Tiên” vì em có dáng dấp qua cầu gió bay, có bước đi lả lướt nhẹ nhàng như các nàng tiên nữ trong vũ khúc nghê thường, vì em đã mang đến cho tôi những cảm xúc mà người trần gian chưa từng cho tôi trước đó. Những ngày mưa, không đi chơi được thì tôi ngồi hát em nghe bên mái hiên nhà: Một chiều cuối tuần mưa bay lất phất và mây trắng giăng giăngEm đến thăm anh vì trời mưa mãi nên không kịp vềBên anh, em lặng nhìn bầu trời và ánh mắt mộng mơSợ người yêu khóc, khe khẽ bên tai anh kể chuyện ngày xưa. Chuyện xưa kể rằng trên thiên giới ấy ngày vui kết hoa đăngThiên Quốc đang vui một nàng tiên nữ làm rơi ly ngọc ngàĐang say nên trời bèn đọa đày nàng tiên xuống trần gianLàm người dương thế không biết bao lâu mới được quay về trời. Em ơi nàng tiên ấy xuống dương trần một chiều mưa bay nhiềuVà vì thương trần thế, thương kiếp sống phong sươngNên dù rằng một hôm Thiên Quốc trời saiGom mây hồng làm xe đưa tiên vềTiên nói dối tiên còn đang giận trời nên tiên chẳng về đâu. Nàng tiên giáng trần không đôi cánh trắng giờ đang ngắm mưa bayĐang đứng bên anh thầm cầu mưa mãi cho tiên đừng vềAnh ơi lỡ mà trời gọi về thì tiên chẳng về đâu (Bài hát “Huyền Thoại Một Chiều Mưa”) Nhưng tôi luôn nhớ mình là con trai nhà nghèo, chỉ có chiếc Mobylette cà tàng làm chân đi kiếm cơm mỗi ngày. Em là con gái nhà khá giả, đi học có xe đưa rước, về nhà không làm động móng tay vì đã có chị bếp, chị bồi, chị vú lo toan mọi việc. Nếu hai đứa thành vợ thành chồng, em cực thân là cái chắc. Trong một lần kề vai nhau đi quanh công viên Chùa Tháp, trời bỗng dưng mưa. Tôi bật dù che hai đứa nhưng mưa càng lúc càng nặng hột, em bỗng xoay người lại ôm hôn tôi dưới mưa. Tôi than thầm trong bụng “gặp oan gia truyền kiếp rồi”.Năm đó, em thi đậu Brevet và tôi nghỉ dạy vì vừa xin được cái job thư ký kế toán ở hãng L’UCIA, Nam Vang. Lúc trước gặp nhau 5 ngày mỗi tuần, có nhiều thì giờ để nói với nhau những gì muốn nói. Giờ phải chờ đến cuối tuần mới được gặp nhau vài tiếng, nhớ ơi là nhớ. Tôi bắt đầu làm thơ “nhớ em”… Nhớ lúc xưa kia mới biết nhauRồi thương rồi nhớ suốt đêm thâuÐêm nào cũng vái cho mau sángNhớ quá trời ơi! Nhớ phát rầu. Nhớ những chiều em qua phố vắngDáng hồng xen lẫn bóng hàng cauMân mê vạt áo, em e lệNhững lúc anh nhìn, má đỏ au. Nhớ lúc mình đan tay đếm bướcEm run run hỏi: – Sẽ ra sao ?Anh cười, anh nói như đinh đóng:– Anh sẽ yêu em đến bạc đầu! Đưa bài thơ cho em, em bỏ túi nói sẽ về nhà đọc. Tuần sau gặp nhau, em không nhắc gì về bài thơ của tôi mà hỏi tôi nghĩ gì về cuộc sống hai đứa sau này.Tôi nói là nhà tôi nghèo, em nói em biết rồi, tôi phải đi làm giúp Má nuôi các em còn nhỏ, em nói em cũng biết rồi, nếu mình cưới nhau thì em sẽ cực thân hơn là sống với Ba Má em… Em trả lời làm tôi chưng hửng“hiện nay, cái khổ nhất mà “moi” phải chịu đựng hàng ngày là nhớ “toi”, cái cực nhất mà moi phải chịu đựng hàng ngày là làm sao để gặp toi sớm hơn, nên moi không sợ gì cả. Trời sanh voi sanh cỏ”. Tôi khuyên em nên kiên nhẫn, nói cho em hiểu lúc này là thời gian đẹp nhất trong cuộc tình hai đứa, cái nhớ cái thương bây giờ sẽ làm mình gắn bó nhau hơn sau này… Em nghe lời tôi và chuyện hẹn hò của chúng tôi kéo dài cho tới đầu năm 1970.Tướng Lon Nol lật đổ vua Sihanouk, tự phong là tổng thống xứ Kampuchea (Cao Miên). Một số người Miên quá khích thừa nước đục thả câu, “cáp duồn” (nghĩa là chặt người Việt) lẻ tẻ. Đang đêm, họ đến gõ cửa nhà người Việt ở những vùng thôn quê hẻo lánh. Một số người Việt không may đã bị họ cha.t đầu, xa’c thả trôi sông về tới Tân Châu, Hồng Ngự… Nhiều người Việt có chút của ăn của để ở Cao Miên bán tháo tài sản để về Miền Nam Việt Nam lánh nạn. Ba Má em cũng không ngoại lệ. Em gặp tôi bàn chuyện này. Tôi đem việc này hỏi ý kiến ông giám đốc hãng L’UCIA. Ông giám đốc đưa hai đứa tôi về biệt thự do hãng mướn cho ổng ở trên đại lộ Norodom, ngay trung tâm thủ đô Nam Vang. Ổng nói:“nhà tao có 2 người bồi bếp, có 2 con chó berger giữ nhà. Nhà có 5 phòng, tao ở chỉ một phòng. Nếu hai đứa thấy ở nhà mầy không an toàn thì đến đây ở với tao. Tao tin tưởng và cần thằng B. giúp tao giữ gìn sổ sách của hãng nên hai đứa mầy muốn ở phòng nào, muốn ở bao lâu cũng được”. Nghe vậy, chúng tôi yên tâm và quyết định ở Nam Vang dù Ba Má em có về Sàigòn. Em về xin Ba Má cho hai đứa làm đám cưới. Má em có cảm tình với tôi nên gật đầu. Ba em im lặng vì biết tôi nghèo, sợ con gái cưng của ông sẽ cực khổ khi về làm vợ tôi. Em nói với Ba Má em“nếu Ba Má không tổ chức đám cưới cho hai đứa con, tụi con sẽ tự lo. Con muốn làm vợ anh B. danh chánh ngôn thuận”. Và hai đứa tôi tự tổ chức lễ cưới của mình. Sáng ngày 24/02/1970, Má tôi và tôi mang trầu cau và phẩm vật đến xin cưới em. Chúng tôi lạy bàn thờ tổ tiên nhà em, xin quý ngài chứng giám cho chúng tôi thành vợ thành chồng. Tôi mướn xe Mercedes để rước “cô Tiên” xuống trần. Tối đến là tiệc cưới tại nhà hàng La Lune, đối diện State Olympic, với 200 quan khách, họ hàng và bạn bè nhà trai, nhà gái. Dĩ nhiên là có nhạc sống do mấy tên bạn tôi tự mang đồ nghề đến giúp vui. Đêm đó, hai đứa tôi khiêu vũ và cụng ly với bạn bè gần tới sáng. Sau ngày chúng tôi thành hôn thì tình hình chính trị giữa hai nước Kampuchea và Miền Nam Việt Nam biến chuyển dồn dập. Ông bà nhạc tôi và gia đình bay về Sàigòn vài ngày sau đó. Vợ chồng tôi vẫn ở Nam Vang. Tôi vẫn đi làm ở L’UCIA . Khi xa’c nhiều người Việt trôi về tới Hồng Ngự, Tân Châu, ông Nguyễn Cao Kỳ – lúc đó là Phó Tổng Thống VNCH – ra lệnh cho Quân-đoàn 3 tràn qua biên giới, lấy cớ là để “bảo vệ kiều bào VN”. Trung tướng Đỗ Cao Trí nhận lệnh với lời tuyên bố làm chấn động chính phủ Cao Miên:“Cho tôi 24 tiếng, tôi sẽ chiếm Nam Vang”. Ông Lon Nol nghe muốn té đa’i. Mới làm tổng thống có mấy ngày, nếu để QLVNCH chiếm Nam Vang thì mất mặt bầu cua. Ông gọi điện năn nỉ chính phủ VNCH đừng chiếm Nam vang nên Quân-đoàn 3 dừng lại ở Neak Luong (người Việt mình gọi là Hố Lương), một bến phà chỉ cách Nam vang 60 cây số. Nghe tin QLVNCH tràn qua biên giới, cả trăm ngàn kiều bào VN ở Cao Miên, trong đó có vợ chồng tôi, bỏ tất cả tài sản, dắt díu nhau vào các trại tị nạn. Các sân trường trung học, chùa, nhà thờ bỗng trở thành những trại tị nạn khổng lồ. Vợ chồng tôi vào trường Seminaire, nơi tôi đã học năm cuối chương trình Tú tài Pháp hai năm trước. Trong trại Seminaire, người ta chia ra nhiều nhóm, mỗi nhóm 10 gia đình, trước hết là để lãnh nước uống, sau là thức ăn, lúc đó chỉ có khô cá lóc do Red Cross cung cấp. Tôi làm trưởng nhóm 31. Đầu tháng 5/1970, ông Nguyễn Cao Kỳ bay lên Nam Vang, nói là thăm xả giao tướng Lon Nol nhưng thật sự là đi thanh tra các trại tị nạn. Tối đêm trước, tôi và các trưởng nhóm được lệnh phải thu tất cả những những gì có thể coi như là vũ khí gồm dao, gậy,… và cùng nhiều người thức gần sáng đêm để dựng cái sân khấu dã chiến. Khi ông Kỳ vào trại Seminaire, ông đến từng lều, bắt tay và hỏi thăm từng người. Điều làm mọi người chú ý là 2 anh đại-úy cận vệ. Họ cao hơn ông Kỳ 1 cái đầu, mặc đồ bay, mang súng ngắn dưới nách, nhưng không cản trở khi kiều bào đến bắt tay, thậm chí ôm hôn ông Kỳ. Ông Kỳ lên sấn khấu, nói vài lời thăm hỏi xã giao rồi hứa:“Tôi sẽ đưa tất cả đồng bào về quê hương!” Ông nhận được những tràng pháo tay như sấm động của mấy ngàn người trong trại Seminaire. Nhiều bà lão bò ra khoảng trống trước sân khấu lạy ông Kỳ như tế sao. Vài ngày sau, chúng tôi được phát thịt heo lần đầu, dù không ai biết ai cho nhưng mọi người nghĩ là từ chính phủ VNCH. Tuần sau, một đoàn “tàu há mồm” của Hải quân VNCH cặp bến sông Mekong. Danh sách từng nhóm được gọi để rời trại xuống tàu về nước. Vợ chồng tôi thuộc danh sách thứ 31 nên gần cuối tháng 5/1970 mới được rời trại. Sau 1 ngày lênh đênh trên sông Tiền (hay sông Hậu?) thì về tới trại Đồng Tâm, Mỹ Tho, lúc đó là hậu cứ của Sư-đoàn 7 BB. Vợ chồng tôi chỉ ở trại Đồng Tâm 5 ngày. Làm giấy tờ nhập cảnh xong thì Ba em lái xe xuống rước về Sàigòn. Cuộc sống chúng tôi từ ngày về Sàigòn không còn… tà tà như lúc ở Nam Vang. Cũng như tất cả Việt kiều hồi hương lúc đó, tôi được hoãn dịch 18 tháng. Thời gian không nhiều nên tôi làm ngày làm đêm. Em cũng đi làm. Cuối tuần hai đứa đưa nhau đi ăn mì xào dòn, hay ăn nghiêu luộc. Mỗi tối đi đàn về, tôi chạy thẳng vô Chợ Lớn mua cho em cái bánh bao Ông Cả Cần của Bà Năm Sa-Đéc. Lúc này em không còn thơ thẩn, mà ngược lại… em ăn rất bạo. Dù không nói ra, tôi biết em đang chuẩn bị cái bụng cho đứa con đầu lòng của chúng tôi, dù không biết lúc nào nó sẽ tượng hình. Nhiều người trong gia tộc hai bên thường trề môi nói“thằng B. con nhà lính tính nhà quan, mới ở Nam Vang về tay trắng mà vợ nó muốn gì được nấy”…. Mấy người này không biết là lúc còn độc thân, tôi đã đọc một câu định nghĩa “người phụ nữ lý tưởng” của 1 người đàn ông như sau:“Người phụ nữ lý tưởng của một người đàn ông là người bạn, người tình và là người vợ của người đàn ông đó”. Hồi đọc câu đó, tôi chưa gặp cô Tiên nên tôi đã tự hỏi ngược lại là “tôi có thể vừa là người bạn, vừa là người tình, và là chồng của vợ tôi không”. Ông nào muốn biết cái vụ này nó khó cỡ nào cứ thử cua một cô bạn gái rồi cưới cổ về làm vợ thì sẽ hiểu câu… “chưa thấy quan tài chưa đổ lệ”. Nhưng khi gặp rồi thương yêu cô Tiên, cái định nghĩa xưa tự nó cho tôi lời giải đáp. Lúc mới thương nhau, tôi thường kể em nghe chuyện bồ bịch của tôi lúc trước. Em chẳng những không ghen hờn, mà còn góp ý đôi khi rất tiếu lâm, rồi hai đứa cười hí hí. Lúc hai đứa đi chơi, gặp cô nào có “ngực tấn công, mông phòng thủ” là tôi hay quay lại nhìn, em im lặng nắm tay tôi, đợi cô đó đi khỏi tầm mắt mới hỏi“bộ toi hổng thấy cổ đi hai hàng hả?”. Khi vào tiệm bán sách, tôi có cái tật (hổng biết xấu hay tốt) là đứng hơi lâu trước mấy cái đặc san người lớn như PlayBoy. Em im lặng đứng bên tôi, đến khi rời tiệm sách em mới phê bình…“nhỏ này vú đẹp, cô kia mông teo…”. Chỉ khi đến kệ bày mấy cuốn Salut les Copains, em mới thò tay lựa cuốn mới nhất và tự ra quầy trả tiền. Em chưa bao giờ bắt tôi trả tiền những gì em mua cho riêng em. Em chưa bao giờ lớn tiếng hay dùng lời lẽ không lịch sự với bất cứ ai, dù đôi khi tôi hay ai đó vô tình hoặc cố ý làm em giận. Ba em nói với em “Ba thấy nó đi nhảy đầm, tay trái một con, tay mặt một con”.Em trả lời“những gì ảnh làm lúc còn độc thân là quyền của ảnh, con không cần biết (thật ra tôi đã kể em nghe hết rồi). Chỉ cần biết hiện giờ hai đứa con thương nhau thật lòng là được rồi”. Tết đầu tiên ở Saigon, 1971 Em có cách hôn, chỉ phớt nhẹ, làm tôi hồn phi phách tán. Khi thấy tôi buồn, em cầm tay tôi, xoa nhè nhẹ lên mu bàn tay, khiến tôi quên hết mọi phiền não. Sau này thành vợ thành chồng, em vẫn là người tình tuyệt vời. Em biết cách làm tôi quên những nghiệt ngã mà tôi đã trải qua trong ngày hôm đó. Em biết tiết kiệm, vén khéo với số tiền mà chúng tôi kiếm được. Em không se sua, dù luôn ăn mặc thanh lịch. Mỗi lần hai đứa ra đường là tôi phải ngó trước nhìn sau, coi có tên nào nhìn lén em không. Khi đứa con đầu lòng của chúng tôi chào đời năm 1972, em tự nguyện bỏ bớt chuyện mua sắm cho riêng mình, để có đủ tiền cho con chúng tôi bú sữa Guigoz 3 năm liên tục. Cô Tiên đã là một người bạn, một người tình và là người vợ tuyệt vời của tôi.Được một người vợ như cô Tiên, em muốn gì được nấy không có gì quá đáng.Bán nhà cho em cũng được, huống chi là ba cái lẻ tẻ. Tháng 4/1972, tôi hết hạn hoãn dịch, phải đi lính cho tới ngày tan hàng. Sau 75, có ngày hai đứa phải ăn sáng bằng… cơm nguội, nhưng em luôn dành 1 hoặc 2 đồng cho con chúng tôi có gói xôi nóng hay tô cháo huyết. Cực nhất là lúc chúng tôi về quê tôi sống từ năm 1976 đến năm 1979.Má tôi cho 2 công ruộng và nửa công vườn, đủ cho gia đình chúng tôi sinh sống, không cần phải đi làm mướn, làm thuê. Nhưng không may là hai năm 77-78, lũ lụt tràn vào ngập ruộng trước khi lúa chín. Nông dân vùng Tân châu đói thể thảm. May mà tôi cất nhà sàn, cao khoảng 1.5m, nên nước ngập lé đé sàn nhà. Nhiều nông gia ở nhà đất, phải kê tủ giường lên cao, có người kê giường tới gần đụng nóc nhà. Mỗi ngày, cô Tiên ngồi trên sàn nước, miệt mài câu từng con cá chốt, cá sặc, cá lòng tong. Tôi không dám nhìn lâu. Đến bữa ăn chỉ có món cá kho thập cẩm vậy mà thằng con khen “má kho cá ăn ngon”. Tôi mắc nghẹn từng hồi. Rồi cũng qua. Ở quê, em không cho con đi học, nói mấy ổng dốt mà dạy cái gì! Vợ chồng tôi thay nhau dạy con nói và viết tiếng Việt, tiếng Pháp. Bài học tiếng Việt đầu tiên là bốn câu thơ của ngài Lý Thường Kiệt : Nam quốc sơn hà Nam đế cưTiệt nhiên phận định tại thiên thưNhư hà nghịch lỗ lai xâm phạmNhữ đẳng hành khan thủ bại hư. Tiếng Pháp thì chúng tôi dạy con nói và viết những câu chào hỏi thông thường, không ngờ khi qua Úc nó học tiếng Anh nhanh hơn những bạn tị nạn khác nhờ tiếng Pháp và tiếng Anh có nhiều chữ giống nhau. Qua năm 79, tôi trúng mùa. Bán mấy chục giạ lúa, thêm chút tiền dành dụm, mua được cái ghe nhỏ, tính chuyện lớn. Khoang ghe chỉ vừa đủ cho hai người lớn và một đứa nhỏ chen vai nhau ngủ. Tôi không biết chèo, tập cả tháng sau mới chèo được 2 chèo. Em không biết lội nhưng nhất quyết đòi đi đến những nơi có thể cho chúng tôi thấy được tương lai. Em nói“mình đã sống mấy năm ‘có miệng không nói lại câm, hai hàng nước mắt chan dầm như mưa’. Đủ rồi, phải đi tìm tương lai cho mình và cho con”. Vậy là đi. Chèo từ Tân châu tới Long xuyên mất hai ngày. Nghỉ xả hơi một ngày rồi chèo tiếp tới Ô Môn, Cần Thơ, Ngã 7, Sóc Trăng, Hộ Phòng, Gành Hào, và sau cùng là ngã 3 cây Tàn. Ở ngã 3 cây Tàn hơn 1 tháng vì có người mướn tôi đào ao nuôi cá. Đào ao 1 tháng được 2 giạ gạo và một mớ tiền. Chúng tôi trở ra Gành hào vì thấy nơi này là nơi lý tưởng để ra đi. Tôi giấu dưới khoang ghe cái máy đuôi tôm, thường ngày không dám sử dụng, sợ người ta dòm ngó, định khi nào đi mới xài. Ở Gành Hào đêm trước, thì đêm sau bị bão. Mưa như trút nước, sấm chớp đầy trời. Chiếc ghe tôi lắc lư như người say rượu, nửa đêm đứt dây buộc sào trôi ra giữa sông. May là lúc đó nước lớn, nước từ ngoài biển đổ vô sông, nếu ngược lại thì có thể bão đã đưa chúng tôi qua Thái Lan hay hổng chừng… vô bụng cá. Tôi cột sợi dây quanh bụng, cố gắng lội vô bờ. Hình như… lúc không còn cái gì để sợ nữa thì mình mạnh hơn bình thường nên tôi đã kéo chiếc ghe tới dưới dạ cầu chợ Gành hào. Buộc dây ghe lại đàng hoàng là tôi ngã lăn ra thở dốc, lạnh run cầm cập. Em lau mình cho tôi và đưa tôi cái bánh bía, hổng biết em mua lúc nào, đúng là cô Tiên. Ăn cái bánh bía đêm đó, hương vị thơm ngon còn phảng phất tới bây giờ. Bye bye Gành hào, tôi gắn máy đuôi tôm chạy về Long Xuyên. Chúng tôi ở Long Xuyên gần 3 năm. Tôi làm bất cứ chuyện gì, miễn là lương thiện, để có tiền nuôi vợ con. Có lúc đạp xe lôi, có lúc vác lúa gạo ở các nhà máy xây lúa, có lúc làm tạp nhạp. Đến tháng 2/1982, em tìm được đường dây ra nước ngoài vừa với khả năng của vợ chồng tôi lúc đó. Cái may là chúng tôi chỉ đi một lần là tới Mã Lai. Ở Bidong 1 tháng rưỡi là được phái đoàn Úc nhận. Qua trại chuyển tiếp Sungei Besi2, ngoại ô Kuala Lumpur để khám bệnh, bổ túc hồ sơ. 3 tháng rưỡi sau là chúng tôi có list đi Úc. Chụp với vợ chồng ông quản lý Trung tâm tạm cư Tamarind, trong lễ Giáng sinh đầu tiên tại Úc năm 1982. Vài ngày sau khi đặt chân lên đất Úc, lúc đó chúng tôi chỉ biết tiếng Pháp chưa biết tiếng Anh. Em nói với tôi“moi không thích nhờ thông dịch, nhà mình phải có một người giỏi tiếng Anh, toi phải đi học. Moi sẽ đi làm nuôi toi và con”!Nghe ghê chưa? Mà em cũng không biết tiếng Anh thì đi làm cái gì? Em quên mình từng là một tiểu thơ được cơm bưng nước rót, em quên mình từng đi học có xe đưa rước, em quên mình là… cô tiên của tôi,. nên ai mướn gì làm nấy. Quét dọn nhà cửa cho người Úc, chăm sóc con em của đồng hương, làm chả giò bán sĩ (không biết em học ở đâu mà làm chả giò và đổ bánh xèo ngon nhất Darwin). Tôi cũng đi làm ban ngày, đi học ban đêm. Bảy năm ròng rã, tôi lấy được 2 cái Certificates về kế toán và quản trị địa ốc và xin được cái job “Security Administrator” tại trường đại học Charles Darwin University ở Darwin đầu năm 1985. Tôi làm việc tại CDU liên tục hơn 27 năm, đến khi nghỉ hưu cuối năm 2012. Em không đi học tiếng Anh một ngày nào nhưng sau này… lại làm thông dịch cho bạn bè, nhiều nhất là mấy cô lấy chồng Úc, mới qua Úc chân ướt chân ráo, tìm đến em nhờ giúp đỡ. Em chở họ đi làm hồ sơ nhập cư, điền đơn xin tiền an sinh xã hội… Bà xã tôi thương đồng hương nên ai nhờ thì giúp, cứ ăn cơm nhà vác ngà voi, không đòi hỏi ai phải trả đồng bạc nào dù biết làm thông dịch cũng được trả tiền. Mấy cô vợ Úc thương em lắm, cuối tuần là ghé nhà tôi xào xào nấu nấu … thật vui. Hỏi em mới biết, em học tiếng Anh bằng cách theo dõi các chương trình Play School trên TV. Chương trình này dạy con nít Úc nói/viết tiếng Anh để chuẩn bị vô mẫu giáo. Em đọc báo tôi mang về mỗi ngày. Không hiểu chữ nào, đoạn nào thì em hỏi tôi hay tra tự điển. Tiếu lâm nhất là khi bà hàng xóm nhờ em làm thông dịch. Bà này gốc Ý (Italy), có chồng gốc Tây Ban Nha (Spain). Bà ta đến Úc theo diện vợ chồng năm 1978 và không đi học ngày nào. Khi rảnh rỗi bà ta qua nói chuyện với bà xã tôi. Bà ta nói “broken english” với giọng Ý nên tôi và mọi người không ai hiểu cả. Vậy mà bà xã tôi hiểu nên mỗi lần bà hàng xóm cần đi bác sĩ, hay bất cứ cơ quan công quyền nào ở Darwin là qua năn nỉ nhà tôi theo làm thông dịch. Một năm sau ngày đến Úc, tôi được bầu làm tổng thư ký Hội Người Việt Tự Do tại Darwin, sau đổi tên thành CĐNVTD Bắc Úc cho tới bây giờ. Tôi dính với các sinh hoạt của CĐ mình cho tới năm 2017 mới rút chân ra được. Suốt thời gian này, bất cứ tôi làm cái gì đều có sự giúp đỡ, yểm trợ khi công khai khi âm thầm của cô Tiên. Đứa con thứ hai của chúng tôi chào đời năm 1984 tại Darwin. Nhìn em cho con bú, tắm rửa cho con, nâng niu thằng nhỏ như vàng như ngọc, tôi nhớ lại những ngày hai đứa mới thương nhau, mỗi lần bên nhau là bàn chuyện mai này… tôi viết bài thơ tặng em. Một chiều lãng đãng ánh tà dươngEm kể anh nghe chuyện mộng thườngĐôi mắt em nhìn xao xuyến quáNhư sao lấp lánh một trời thương. Từ đó đời mình hết lẻ loiĐan tay qua phố bước chung đôiEm cười rạng rỡ như tiên nữTiên nữ của anh – cũng được rồi. Từ đó đời mình ươm ước mơTừng đêm anh cắn bút làm thơMỗi dòng ôm ấp ngàn thương nhớThương nhớ lớn theo nổi đợi chờ. Từ đó mình bàn chuyện lứa đôiMai này, mình có hai con thôiTrưởng nam, phần nó lo hương hỏaEm nó, cô Ba – có rượu mời. Từ đó mình bàn chuyện cưới nhauAnh giành chọn áo cưới cô dâuMàu vàng, hoàng hậu lòng anh đóEm nói : – Màu hồng, áo cô dâu! Từ lúc về làm vợ của anhÂm thầm mình kết mộng ngày xanhTrưởng nam bật khóc, cưng như ngọcĐứa kế trai luôn, quý tựa vàng. Nhiều đêm nằm gác tay lên tránAnh cám ơn Trời, cám ơn emBảy nổi ba chìm mình chẳng ngánVì em có anh, anh có em. Từ năm 2005 đến năm 2015, chúng tôi tổ chức những bữa ăn cứu trợ Thương Phế Binh còn sống khổ sở nơi quê mình bằng cách… tổ chức BBQ tại nhà tôi. Thức ăn do bà xã tôi và vài người bạn thân cùng chung sức nấu nướng, tôi bỏ tiền túi mua bia và nước giải khát. Ăn uống free. Tôi để 1 cái “Thùng Cứu trợ” trên bàn, ai cho bao nhiêu, tôi gởi về VN giúp anh em thương phế binh bấy nhiêu, theo tiêu chuẩn mỗi người 100 Úckim. Vì số người Việt ở Darwin rất khiêm nhường, chỉ có vài trăm người, nên lúc đầu chỉ được vài ngàn. Từ từ, bà con tin tưởng nên khi có dịp đi ngang nhà tôi là họ bỏ tiền vô thùng thơ, không đợi đến Bữa ăn Cứu trợ. Gõ máy tới đây, bỗng nhiên làm biếng… không muốn gõ máy nữa, vì đang nhớ cô Tiên, nhớ quá xá nhớ. Cô Tiên của tôi đã về trời sau khi đã cùng sống chung với cha con tôi 43 năm, 3 tháng, 27 ngày hạnh phúc. Em quy tiên sau một cơn bạo bệnh. Từ một người mạnh khỏe bình thường, đúng 5 tuần sau thành người thiên cổ. Trong những ngày cuối của cuộc sống nơi dương thế, khi thấy hai con đứng nhìn em, nước mắt lưng tròng, em cầm tay con lắc lắc, mỉm cười nói: “Chúa cũng chết, Phật cũng chết, thì Má cũng chết. Má đã trả xong món nợ ân tình với Ba con và các con thì Má đi. Con trai khóc… xấu lắm”. Con tôi quẹt nước mắt… miệng cười méo xẹo. Trong Hospice Hospital, nơi dành cho những bệnh nhân… “terminally ill”, mỗi ngày có y tá đến đánh răng và lau mình cho em. Có một lần em cám ơn họ“Thanks so much for keeping my body clean. I know it’s shutting down”. Cô y tá người Úc trợn mắt nhìn em, rưng rưng nước mắt. Sau này, cô nói với tôi“Tao chưa thấy ai sắp chết mà còn lịch sự và tỉnh táo như vợ mầy”. Khi biết mình sắp trả xong cái nghiệp ở dương gian, em nắm tay tôi dặn dò phải tổ chức tang lễ em như thế nào. Thỉnh vị tăng ni nào chủ trì tang lễ, xong phải hỏa thiêu và chỉ giữ tro cốt 100 ngày. Sau đó mang tro cốt em rải trên sông Parramatta, đoạn gần Opéra House ở Sydney, là nơi em thích đi dạo mỗi lần đi thăm con. Em nói nhỏ nhẹ như đang lo tang lễ của ai khác. Tôi chỉ biết im lặng gật đầu, ráng kềm cho nước mắt đừng chảy ra. Tôi đã làm đúng theo lời em dặn. Từ ngày cô Tiên về trời, cha con tôi đứt ruột đứt gan, tan nát trong lòng. Tôi đã sống những ngày như người chết chưa chôn. Câu chuyện kể của thật của Buu Nguyen Ngày 22/8/2024, khi ở tuổi 61, Trường Vũ - ca sĩ nổi tiếng với các ca khúc "Thân phận nghèo",... Giai điệu Bolero, với xuất xứ từ các thể loại nhạc như Rumba, Habanera, Valse và Tango, đã du nhập... Việc tặng bông trong các buổi đờn ca tài tử đã trở nên phổ biến trong những thập kỷ gần... Trong bài hát "Chiều Trên Phá Tam Giang" của nhạc sĩ Trần Thiện Thanh có câu: "Giờ này Thương Xá... Trong những thập niên 1950, 1960 và 1970, hình ảnh những chiếc taxi hai màu xanh - trắng (hoặc vàng... Những ai từng học ở trường Đại học Văn Khoa xưa, nay là trường Đại học Khoa học Xã hội... © 2020NhacXua.VN- Nhạc Xưa Thời Báo.

Không

Tác phẩm Twist sôi động viết năm 1970 làm bùng nổ phong trào nhạc trẻ Sài Gòn. Bài hát ra đời từ một lời đối đáp đùa vui từ chối tình yêu của nhạc sĩ khi cùng bạn bè hội ngộ. Điệp khúc dứt khoát dồn dập cùng phím đàn dương cầm điêu luyện tạo nên luồng gió mới tươi trẻ, đưa Nguyễn Ánh 9 bước vào hàng ngũ nhạc sĩ nổi tiếng và gắn liền với diva Đài Loan Đặng Lệ Quân dịch hát khắp châu Á.

Tuyệt Phẩm Thơ Phổ Nhạc

Xem tất cả

Kho Tàng Lưu Trữ

Tác phẩm tiêu biểu

Xem tất cả
Featured Story

Diễm xưa

Tổng quan “Diễm xưa” là tình khúc tiền chiến diễm lệ và nổi tiếng nhất của Trịnh Công Sơn, sáng tác năm 1960 tại cố đô Huế. Tác phẩm lấy cảm hứng từ...

Bài viết nổi bật
Mới cập nhật

Bao Giờ

Tác phẩm mới được tổng hợp và đưa vào hệ thống.

Tác phẩm
Mới cập nhật

Ba Mươi Năm

Tác phẩm mới được cập nhật vào kho lưu trữ kỹ thuật số.

Tác phẩm

Góc Kiến Thức

Ngày này năm xưa

Tháng 5 năm 2014: Hiện tượng "Chắc ai đó sẽ về" làm khuynh đảo các bảng xếp hạng V-Pop, đồng thời mở ra cuộc tranh luận lớn nhất về vấn đề bản quyền trong lịch sử âm nhạc Việt Nam.

Bạn có biết?

Bài hát 'Tiến Quân Ca' của nhạc sĩ Văn Cao từng bị đề nghị thay đổi lời nhiều lần trước khi được chọn làm Quốc ca chính thức.

Kỷ lục Âm nhạc

  • 🏆 Nghệ sĩ nam có nhiều MV trăm triệu view nhất: Sơn Tùng M-TP
  • 🏆 Cống hiến nhiều nhất: Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn

Kết nối nghệ sĩ & Tác phẩm

NETWORK HIGHLIGHT

Làn Sóng Xanh Era

Khám phá mạng lưới kết nối giữa các nhạc sĩ và ca sĩ định hình âm nhạc đại chúng Việt Nam những năm 1990-2000.

Khám phá bản đồ
Bộ sưu tập

Giai Thoại & Câu Chuyện

Những câu chuyện thâm cung bí sử, hoàn cảnh sáng tác phía sau những bài hát bất hủ.

Bộ sưu tập

Thơ Phổ Nhạc

Sự giao thoa tuyệt đẹp giữa thi ca và âm nhạc. Những bài thơ được chắp cánh bởi giai điệu.

Vintage sheet music and instruments
Bộ sưu tập đặc biệt

Giai đoạn vàng trước 1975

Một góc nhìn sâu sắc về các trào lưu âm nhạc đa dạng đã nảy nở tại Sài Gòn.