Phương Vy
update_topic(strategic_intent='Creating an encyclopedia entry for Phương Vy based on the provided data, following specified formatting and content rul...
Khám phá kho lưu trữ kỹ thuật số, nơi kết nối các thế hệ nghệ sĩ, câu chuyện đằng sau những bản nhạc bất hủ và mạng lưới tri thức âm nhạc sâu rộng.
update_topic(strategic_intent='Creating an encyclopedia entry for Phương Vy based on the provided data, following specified formatting and content rul...
Tổng quan Bài hát "Bao Giờ" do nhạc sĩ Đỗ Bảo sáng tác phần nhạc. Phần lời và năm sáng tác: Đang cập nhật. Nội dung nghệ thuật "Bao Giờ" mang đặc t...
Tổng quan Tên bài hát: Anh đứng đây là đâu Người sáng tác nhạc: Đang cập nhật Người viết lời: Đang cập nhật Năm phát hành: Đang cập nhật Nội dung n...
Anh ngủ thêm đi - Nhạc: Hamlet Trương, Trình bày: Tâm Đoan Đang tải...Anh ngủ thêm đi anh, em phải dậy lấy chồng - Nhạc: Hamlet Trương, Trình bày: ...
update_topic(strategic_intent='Creating an encyclopedia entry for Phượng Hằng based on the provided data, adhering to all specified formatting and con...
Trình duyệt của bạn không cho phép chơi nhạc. Ba mươi năm - Võ Tá Hân phổ nhạc, Khắc Dũng trình bày...
Bản thơ gốc được Giáng Vân viết trong những ngày thu Hà Nội tịch liêu se se lạnh. Phú Quang đã thổi vào đó giai điệu Slow thăng hoa đầy khắc khoải, biến hình ảnh chiếc lá trút rơi thành tiếng thở dài bao dung của tình yêu trước quy luật nghiệt ngã của thời gian và định mệnh cuộc đời dở dang.
Tuyệt phẩm Bolero quê hương viết về mối tình dang dở bên giàn hoa sứ trắng ngát hương. Nhạc sĩ Hoàng Phương sáng tác ca khúc dựa trên mối tình thời trẻ đầy tiếc nuối của chính mình. Giai điệu Bolero mượt mà trầm ấm miêu tả hình ảnh người con gái nhà bên cài hoa sứ lên tóc thề, rồi âm thầm bước sang ngang theo chồng để lại nỗi sầu muộn khôn nguôi cho người trai nghèo ở lại.
Mẹ Việt Nam là tên một bản trường ca của Phạm Duy, khởi soạn tháng 11, năm 1963 và hoàn tất vào tháng 5 năm 1964. Đây là trường ca thứ hai của Phạm Duy sau Con đường cái quan và cùng với Con đường cái quan là 2 trường ca nổi tiếng nhất của ông. Về hoàn cảnh sáng tác của trường ca này, nhạc sĩ Phạm Duy có kể lại trong hồi ký: “Tình hình ở Việt Nam thời điểm 1963-1965 là những sự chia rẽ lớn lao (…) Vào lúc này, tôi còn nhận thấy tình hình âm nhạc nói chung có vẻ suy đồi với loại nhạc chỉ có tính cách biểu diễn cho mọi người ngồi nghe, dùng những ca sĩ mặt hoa da phấn với lời ca ngon ngọt để xoa dịu lòng người. Tôi bèn vác máy tape recorder có sẵn ampli, speaker hiệu AKAI và băng nhạc CON ÐƯỜNG CÁI QUAN tới sinh hoạt với sinh viên và thanh niên. Ðây là lần đầu tiên giới trẻ được tham gia mạnh mẽ vào các cuộc ca hát. Khi chế độ cũ (đệ nhất cộng hòa) ra đi thì bắt đầu tương đối có tự do, sinh viên cũng như tất cả mọi người bắt đầu có sự tự do sinh hoạt. Trước hết tuổi trẻ họp nhau lại, cùng hát chung những bản hùng ca cũ của ngày xưa.Bây giờ tôi đem tới cho họ bản trường ca CON ÐƯỜNG CÁI QUAN và cho in ronéo lời ca để phát cho các bạn trẻ, mời mọi người hát theo với ca sĩ trong băng nhạc. Dù sao thì những anh hùng ca hay bản trường ca này là những bài hát mà thanh niên đã biết tới rồi. Muốn lôi cuốn tuổi trẻ, tôi cần phải có cái gì mới để cung cấp cho họ. Như đã nói ở trên, trong tình trạng xáo động và chia rẽ của thời này, ai cũng muốn đi tìm mẫu số chung. Không cần tìm ở đâu xa xôi, tôi thấy ngay rằng: Mẫu số chung là Mẹ Việt Nam vậy! Muốn tìm lại tổ quốc, đồng bào, con người, nhân đạo, phải tìm đến Mẹ Việt Nam. Tôi bèn soạn trường ca MẸ VIỆT NAM” Nhận xét về tác phẩm này của mình, nhạc sĩ Phạm Duy nói: Nếu như Con Đường Cái Quan là một hành ca, ghi lại bước tiến của dân tộc ta trên một sinh lộ nhất quyết không chịu chia cắt, thì Mẹ Việt Nam là một âu ca, ca tụng Mẹ Tổ Quốc và những Mẹ điển hình trong truyền kỳ lịch sử nước nhà, đề tài và cảm hứng nhắm dựa vào tình thương yêu và tính hiếu hoà, tính tình này đã sinh tồn mạnh mẽ trên đất ta và phải được truyền đi trong thế giới tàn nhẫn hiện tại. Bài trường ca mang hình ảnh mẹ Việt Nam, một khái niệm trừu tượng trong dân gian, qua đó đã đồng hóa thành lịch sử Việt Nam và gửi gắm thông điệp tình thương dân tộc. Trường ca gồm có 4 phần Phần 1 – Đất mẹ: Lúc trẻ tuổi, mẹ Việt Nam được biểu tượng bằng đất màu tươi tốt, đa tình, nền tảng của gia đình, ruộng nương, làng nước… Phần 2 – Núi mẹ: Khi đứng tuổi, mẹ hiện thân là núi non sắt đá, trong sự hi sinh ròng rã, vẫn bền bỉ đợi chờ và che chở người chinh phu chưa hết nợ đao binh. Phần 3 – Sông Mẹ: Mẹ còn âm thầm xót thương lũ con sông ngòi, có những đứa dại dột, hiếu thắng, phản bội mẹ vì sự tranh giành lẫn nhau, gây oán hận phân chia, làm nát tan lòng mẹ… Phần 4 – Biển mẹ: Vào lúc tuổi già, mẹ trở thành biển cả đại lượng bao dung, kêu gọi và ôm đón đàn con giang hồ dù có thành công hay thất bại. Nước mắt vui mừng của mẹ lúc gặp con bốc lên trời cao làm mây đầy đặn và ấm áp, bay đi rửa sạch địa cầu bằng ơn mưa móc, cho các lớp phù sa được Mẹ gửi vào Đất Cũ nối chặt chu kỳ “Mẹ Việt Nam”. Bản Trường ca này tràn ngập giai điệu dân gian mà lại chuyên chở bằng những tiếng hát đầy tình tự dân tộc của Ban Hoa Xuân, là những danh ca như Thái Thanh, Duy Khánh, Trần Ngọc và sự trợ lực của nhóm hòa ca Thái Hằng, Kim Tước, và Nhật Trường. Phần hòa âm và trình tấu dàn nhạc do các nhạc sĩ Nghiêm Phú Phi (dương cầm), Y Vân, Đan Thọ (vĩ cầm) và các nhạc sĩ khác đảm trách. Đầu tiên, mời bạn nghe Phần đầu của bài hát: Click để nghe Ban Hoa Xuân hát Đất Mẹ trong bản thu âm đầu tiên năm 1975 Trường ca mở đầu bằng hình ảnh một người phụ nữ nông thôn không son không phấn: Mẹ Việt Nam, không son không phấnMẹ Việt Nam, chân lấm tay bùnMẹ Việt Nam, không mang nhung gấmMẹ Việt Nam, mang tấm nâu sòng. Bốn câu này được Xuân Vũ, trong cuốn Nửa thế kỷ Phạm Duy nhận xét: “Tôi xin chịu. Không có ai mô tả Mẹ Việt Nam nổi đến thế. Mà chỉ trong có 16 chữ! Như thế là quá tài tình vì tả thể chất mà người đọc nhận thấy cả tâm hồn. Tấm áo nâu, rướn mình đi từ núi rừng cao ở bản Tình Ca càng nổi bật ở đây, vì là tấm nâu sồng của Mẹ Việt Nam là tấm áo nâu mang hồn sông núi. Những ý tưởng cao đẹp tuôn trào ra ngón đàn.” Nhạc sĩ miêu tả hình ảnh người người phụ nữ nông phu vất vả từ hàng nghìn năm về trước, hình ảnh này đã từng thấy trong ca khúc Tình Ca của 10 năm trước đó. Nhưng lần này Phạm Duy đã đi xa hơn rất nhiều, nếu như Tình Ca chỉ có 3 điệp khúc mô tả về đất nước, thì Mẹ Việt Nam đi rất sâu vào hình tượng Mẹ, dù vất vả nhưng cũng rất yêu đời bằng những câu hát tình tứ và duyên dáng khi người còn chưa là mẹ. Mở ra đoạn 2: Đôi má tươi hồng, má tươi hồng, với bàn tay trắngNhỏ người vai lẳn, vú căng tròn, tròn lưng ongMẹ nằm phơi gió trăngÔi Mẹ Việt NamNghiêng mắt xanh chải tóc mây ngàn Mẹ Việt NamBên bờ đại dươngMẹ duỗi chân dài chờ mưa tuôn Mẹ Việt NamMẹ mong, mong chồngCũng như là ruộng sâu nôngRuộng cứng hay mềmCũng êm đềm đón lưỡi cầy tìm da thơm Mẹ cười trong gió sươngÔi Mẹ Việt NamDâng tấm thân nhuộm nắng nâu rònMẹ Việt Nam Đây ruộng đồng trinhMẹ khát khao mầm, mầm tươi ngonMẹ Việt Nam Trời Đông ánh dương hồngCũng như chiều vàng mênh môngCó đàn chim én lượn trên đất xinhChứa chan tình, là tình mong chờMẹ Việt Nam. Để nói về người mẹ xinh đẹp thời thiếu nữ, nhạc sĩ dùng hàng loạt những ngôn từ mô tả sự căng tràn sức sống tuổi thanh xuân, đang mong đợi một người tình lang đến như là ruộng sâu nông chờ đón “lưỡi cầy tìm da thơm”, để gieo nên những nụ mầm mới cho một tương lai có ánh dương hồng soi chiếu trên cánh đồng vàng phì nhiêu lúa tốt. Cách so sánh ý nhị nhưng cũng khéo nhắc tới những hình ảnh quen thuộc của đời sống người nông phu. Mẹ chờ mongNgày trông tháng đợiĐợi Thần Trai đội đá vá trời với hồn Nữ Oa Mẹ giơ tay đónVới tình nước nonMẹ còn chờ mong… Ngày trông và tháng đợi, Mẹ khát khao mong chờ tình lang đến, hình tượng đó thiêng liêng được tác giả liên hệ tới truyền thuyết về mẹ Nữ Oa xưa. Trong thần thoại Việt Nam, Thần Nam (nhạc sĩ Phạm Duy gọi là Trần Trai) và Thần Nữ là hai vị thần đầu tiên sinh ra con người. Thần Nam tên là ông khổng lồ Tứ Tượng và Thần Nữ là bà Nữ Oa. Từ đây trở về sau, chúng ta sẽ thấy nhạc sĩ so sánh hình tượng Mẹ Việt Nam với rất nhiều người mẹ khác trong thần thoại, trong truyền thuyết, là kết tinh của những người mẹ, người phụ nữ có đầy đủ đức tính cao quý nhất, như là Châu Long, Kính Tâm, thiếu phụ Nam Xương, Nữ Oa, người vọng phu… và cả Hai Bà Trưng. Yêu nhau khi lúa chưa mòngThương nhau khi nắng khô đồngÔm nhau nghe nước mưa ròngChẩy vào lòng cặp tình nhân Bên nhau khi lúa xanh rờnChia nhau bông trĩu thơm vàngĐem nhau ra giữa sân làngNhìn đèn trăng kể truyện xưa Xinh xinh bãi lúa xanh rìNgoan như cơn gió đêm hèNghe hơi dưới đất vỗ vềMột lời thề nặng tình quê. Vươn vai lúa nhớn dậy thìMưa thu cưới lúa đem vềNâng niu lúa chín tới kỳKỳ nở hoa, đẹp lòng ta. Rồi Mẹ gặp được tình yêu thăng hoa như đồng thơm hương lúa trổ vàng. Ở đoạn này, chúng ta thấy đôi người đã trải qua tất cả những giai đoạn của một mùa lúa vụ, như là sự thử thách khi phải chống chọi với những hoàn cảnh khó khăn nhất để đến ngày được nhìn thấy thành quả. Họ đã bên nhau từ khi nắng vẫn còn khô đồng, rồi chờ cơn mưa xuống làm mềm đất cày bừa, cho đến khi lúa xanh rờn với bông trĩu thơm vàng, cuối cùng là tới ngày lúa chín và “cưới lúa đem về”. Đó chính là ngày mà “mẹ đón cha về”. Mẹ đón cha về, đón cha vềDuyên thề chắp nốiCuộc đời trôi nổivẫn tươi cười vì lòng vuiĐời nghèo nhưng có đôi. Ôi Mẹ Việt NamNăm tháng lo gạo gánh nuôi chồng,Mẹ Việt Nam đêm ngày thầm mongLửa bếp thơm nồng tình uyên ương, Mẹ Việt NamMẹ yêu, yêu chồng có khi Mẹ là Châu LongNợ trả thay chồng vẫn giữ lòngTrắng như ngần và sạch trong. Mẹ là tiểu Kính TâmLên chùa giải oanÔi sót thương trẻ khóc trong vườn, trẻ con hoangÔi! Mẹ từ bi. Giọt máu rơi này, Mẹ nhận là con, mẹ Việt Nam.Việt Nam có anh hùng, mắt nhung và môi sonGiữa mùa Xuân giết giặcYêu nước non, hé môi cườiNụ cười thanh bình. Mẹ Việt Nam. Mẹ đón cha về, duyên thề được tròn vẹn nên sá gì cuộc đời nổi trôi, vợ chồng sống đời nghèo nhưng vẫn luôn hạnh phúc tươi cười. Mẹ được ví như là Châu Long trong tích truyện Lưu Bình – Dương Lễ, với tấm lòng và tâm hồn trắng ngần sạch trong, Mẹ cũng được nhạc sĩ ví là từ bi như Tiểu Kính Tâm, tức Quan Âm Thị Kính khi xưa đã nhận nuôi đứa trẻ bị bỏ hoang và chăm sóc tận tình đến nỗi bị lao lực. Những tưởng là cuộc sống sẽ được mãi trôi qua trong êm đềm như vậy, nhưng rồi dòng đời còn gieo lên những cảnh can qua, mẹ lại phải gồng gánh việc nhà nuôi chồng đánh giặc. Click để nghe Ban Hoa Xuân hát Núi Mẹ trong bản thu âm đầu tiên năm 1965 Trong phần giới thiệu phần này, nhạc sĩ Phạm Duy đã viết: Khi đứng tuổi, mẹ hiện thân là núi non sắt đá, trong sự hy sinh ròng rã, vẫn bền bỉ đợi chờ và che chở người chinh phu chưa hết nợ đao binh. Nếu như ở phần 1, nhạc sĩ nói về biểu tượng Đất Mẹ từ lúc người còn là người trinh nữ cho đến lúc gặp được lang quân và bắt đâu xây lập được cuộc sống mới, thì ở phần 2, khói lửa khói bắt đầu ngập tràn, ca khúc nhắc đến sự hy sinh lớn lao của mẹ, bền bỉ đợi chờ người chinh phu muôn thuở chưa hết nợ đao binh. Hình tượng Núi là biểu trưng cho sự chờ đợi đó của mẹ, trông chồng về, chờ những điều tốt đẹp nhất quay trở lại sau cơn lửa binh đằng đẵng. Trong phần này nhạc sĩ cũng nhắc nhiều đến những huyền sử và giả sử, như là Thiếu Phụ Nam Xương, Hòn Vọng Phu, những bà mẹ của thần thoại và dân gian có những đức tính cao quý nhất. Lính vua! Lính chúa! Lính làng!Trời ơi! Giết bao nhiêu giặcCho chàng, chàng phải đi? Nước Việt Nam từ mấy ngàn năm ít khi nào mà không có lửa binh, người phụ nữ thời nào cũng lâm vào cảnh chia ly với chồng đi ra biên ải, bỏ hết những niềm vui riêng để vàng võ ngóng trông. Phần Núi mẹ mang nhiều hình ảnh nói lên cảm xúc và tâm trạng người chinh phụ, lấy 4 mùa của năm ra để lột tả dòng tâm trạng biến đổi của mẹ: Gió mùa Xuân, Mẹ bâng khuâng hỏi:Hoa trên đồi, hoa trên đồi sớm tối còn tươiGiữa ngày xuân mới, giữa hội mùa vuiSao vắng bóng người?Sao vắng tiếng cười? Tiếng trống, trống năm xưatrống đổ, đổ đêm khuyaTrên trường thành trăng ngả Cho tàn cuộc vui nhỏCho ai tiễn đưa ngườiRa đi chốn xa vời, hỡi ai. Gió hè qua, Mẹ ra con hỏiKhi trên đồi, khi trên đồi nắng quái chiều hômCó phải chàng Trương gốc miền Nam XươngXa vắng xóm làng vì cha ở chiến trường Nắng sẽ sẽ không đi, bóng Mẹ ngả trên đêIn hình người chiến sĩ, cho Mẹ nhìn con trẻCon ơi hỡi cha kìaMau ra đón cha về với con. Đoạn khúc này được nhạc sĩ viết trên nền làn điệu Ru Con phổ biến ở Việt Nam. Mùa xuân đến, mùa của những cuộc vui chơi giờ đây chỉ còn là những hoang vắng, mẹ bâng khuâng nhìn những khóm hoa trên đồi, nơi có những ngày hội, có những tiếng cười vui vẻ, có những tiếng trống hội giờ đây đã điêu tàn thời ly loạn, giờ đây chỉ có những tiếng tiễn đưa người ra trận chưa biết khi nào được gặp lại. Đoạn mùa hè sang, nhạc sĩ nhắc lại về tích người Thiếu Phụ Nam Xương, nhưng khác với phiên bản nguyên thủy, ông đã soi bóng người Mẹ trên bờ đê giữa trưa nằng hè thay vì trên vách nhà vào mỗi tối. MẸ TRONG LÒNG NGƯỜI ĐI Đồi cao, cao núi caoRừng sâu, sâu rú sâuCũng có, có lối leo đường trèoĐường treo, treo giữa đèoĐường dẫu, dẫu hiểm nghèo Đường ta, ta vẫn có lối theoĐường lên, lên núi LamĐường sang, sang Thất SơnĐường tới những chiến công ngọn nguồnHoành Sơn nghiêng dãy nằm Vạn Kiếp chốn dung thânĐường đưa ta đến với người thương.Ra đi còn nhớ ngày naoNuôi con Mẹ vẫn nguyện cầu Người sinh ra có nhauPhải thương nhau mến nhauNhưng đã có biết bao phen khổ đauGiặc xâm lăng nước nhà Phải cứu lấy dân taThì ta lên núi với Mẹ già Anh ơi! Phải lính thì điNơi quê em gìn giữ lời thềVườn dâu em đốn sâuTrẻ thơ khôn lớn mau Cho chiến sĩ bước theo tiếng Mẹ kêuMẹ giơ tay đón chàoGìn giữ lũ con yêuVì yêu, con chiến đấu dài lâu. Trong đoạn này, nhạc sĩ Phạm Duy nói rằng ông muốn gửi một thông điệp, đó là “Chiēn tranh không dạy chúng ta điều phải trái, lẽ thắng lẽ thua, mà dạy chúng ta một điều: người sinh ra có nhau phải yêu thương mến nhau…” Đây là đoạn hành khúc nói lên tấm lòng người ra đi, những lời dặn dò và nguyện ước của họ với người ở lại, những khó khăn trên đường đi, từ đồi núi cao cho đến rừng sâu, đồng thời cũng nhắc về những những chiến công oanh liệt trong sử xanh nơi Vạn Kiếp, những ngọn núi nổi tiếng của Việt Nam như Thất Sơn, núi Lam hay là Hoành Sơn. 8 câu cuối của đoạn này như là lời động viên tinh thần người chinh phu về sự chung thủy của người ở lại quê nhà, và những đứa con hãy còn thơ dại của chàng đang một ngày khôn lớn, rồi sẽ theo tiếng gọi đất nước và sẵn sàng nối bước theo đường của núi sông. Giữ dân! Giữ nước! Giữ làng!Chàng ơi, giữ thân cho Mẹ!Cho nàng dạy con. Ở đoạn này, người mẹ mạnh mẽ hơn bao giờ hết, người nói với chinh phu rằng hay giữ dân, giữ nước, và cũng phải giữ thân. Ở đoạn sau đó, lời dìu dặt khi nhạc sĩ sử dụng trở lại làn điệu bài dân nhạc Ru Con để nhắc về mùa thu sang, và nhắc về hình tượng người mẹ hóa đá như trong tích Hòn Vọng Phu. Gió mùa Thu, Mẹ ru con ngủCon vẫn chờ bóng cũ người xưaBốn nghìn năm qua, bóng về rồi điBóng ngã chiēn trường làm phân bón cánh đồng Tóc núi đã phơi xương, máu nhuộm cả vai nonAi làm dòng sữa cạn?Xin mời Mẹ lên ngọnNghe tin nước vui mừngCho nên Mẹ ứa đôi dòng sữa ngon. Gió mùa Đông, Mẹ không thấy mỏiĐứng trông về, đứng trông về bốn cõi trời xaXót người nông phu chắp từng manh áoThương gái gánh về thùng bánh ế cuối ngày Biết mấy nỗi thương vay, thấy trẻ nhỏ giơ tayCon ngựa người vất vả, xe nặng nề qua ngõThương thi sĩ hay buồnCho nên Mẹ hóa ra hòn núi cao. Mẹ ru con giấc ngủ mùa thu như là để vơi đi nỗi nhớ cha, người con đã chờ cha suốt từ thế hệ này đến thế hệ khác qua 4000 năm nước Việt. Nhưng thân xác đã đã hòa lẫn vào với non nước, sự ngã xuống của người cũng là để đất mẹ được vươn mình. Rồi màu Đông khép lại vòng tuần hoàn, bóng mẹ đứng chờ vẫn in bên vách núi ngày đêm không thấy mỏi, trông về bốn cõi trời xa mà xót xa do dân mình. Thấy người nông phu manh áo không lành lặn, thương người quang gánh thùng bánh ế mỗi ngày. Trong đoạn trường ca này, nhạc sĩ Phạm Duy nói rằng vì Mẹ thấy được tường tận nỗi đau của thời ly loạn, sự chia cắt sâu xé lẫn nhau, nên thành Vọng Phu hóa đá, không phải hóa đá vì mong chờ người chồng như truyền thuyết xưa, mà là vì Mẹ quá mong chờ ngày hòa bình của dân tộc. Click để nghe Ban Hoa Xuân hát Sông Mẹ trong bản thu âm đầu tiên năm 1965 Ở phần 2 của trường ca nói về sự mong chờ ngày hòa bình của người mẹ Việt Nam để rồi hóa đá như người vọng phu xưa, sang đến phần 3 này, tác giả nói rõ hơn về sự rẽ chia của non sông: “Mẹ còn âm thầm xót thương lũ con sông ngòi, có những đứa dại dột, hiếu thắng, phản bội mẹ vì sự tranh giành lẫn nhau, gây oán hận phân chia, làm nát tan lòng mẹ” – Phạm Duy Mở đầu của phần này là câu ca dao được cải biên: Chiều chiều ra đứng bờ sôngMuốn về quê MẹMuốn về quê MẹMà không có đò Nói về phần này, tác giả ghi: Người vợ nào đã sống theo chồng thì cũng thường hay nhớ đến quê mẹ, muốn về quê mẹ những ra tới bến sống thì không thấy có chuyến đò ngang nào. Sông núi cách ngăn, đường về quê mẹ vốn đã xa xôi, này vì thời ly loạn mà càng thêm xa vời vợi. Khoan hời hò khoan, ơi khoan khoan hò hò khoanAi bảo là sông, ơi sông không có đò ngangKhoan hời hò khoan, ơi khoan khoan hò hò khoanAi bảo là sông, ơi sông không chờ người sang Sông Hồng cuộn sóng lôi cuốn Sông LôSông Đà, Sông Đuống trôi xuống Sông CầuNghe Bạch Đằng Giang chôn bao nhiêu xác quân TầuSông nào cũng muốn đến trước tranh lấy công đầu Khoan hời hò khoanSông còn ngổn ngang cho nên chưa được bình anKhoan hời hò khoanSông còn mải mê cho nên chưa về Mẹ quêKhoan hời hò khoan Khoan hời hò khoan Thời điểm bài trường ca ra đời, đất nước bị chia rẽ sâu sắc. Những con sông cũng giống như những người con đất Việt, vì sự tranh giành công lao quyền lực làm mẹ Việt Nam buồn tủi. Trường đoạn này được nhạc sĩ đặt tên là Sông Còn Mải Mê, với ý nghĩa là các dòng sông cùng chung mẹ Việt Nam nhưng còn mải mê tranh công đầu với nhau, dẫn đến vùi chôn hình ảnh Mẹ như trong trường đoạn tiếp theo. Nhớ xưa, nhớ Mẹ, nhớ Mẹ xưaMẹ xuống sông rửa nhục anh hùngMẹ trôi trên dòng sông HátNước ngược xuôi đưa Mẹ đi muôn nơiNhớ chăng, nhớ Mẹ, nhớ Mẹ chăng? Chôn đáy sông mối hận yêu chồngChàng Trương có buồn thương khócRước Mẹ lên, nước thiêng sẽ giải oan Nhớ Mẹ, nhớ MẹYêu đàn con, thương đàn conNên trao thân cho nước ngoan. Nhớ Mẹ, nhớ MẹTrên trường giang mong đàn conSông trôi suốt đời trong trắng Hỡi ôi! Có ngày, có Mẹ vuiÔm sóng bơi, vớt củi sông dàiNgờ đâu sông đảo điên say máuNước cuộn mau khiến cho Mẹ chìm sâu. Nhắc về những con sông đã lưu trong sử xanh, không thể nào quên được dòng Hát giang, tức sông Đáy, là nơi hai bà Trưng đã gieo mình tự tận, sông vùi chôn thân mẹ. Nhạc sĩ cũng nhắc lại tích thiếu phụ Nam Xương, vợ của chàng Trương Sinh, vì bị nghi oan nên chỉ còn cách rửa nhục trên sông. Những câu cuối của trường đoạn này nhắc lại hình ảnh mẹ ôm sóng vớt củi sông dài và chìm sâu, gợi nhớ đến câu chuyện Anh Phải Sống của nhà văn Khái Hưng. Trong hoàn cảnh éo le, mẹ vì con mà phải hy sinh và chìm sâu xuống nước, để lại đàn con lạc đường về, như trong trường đoạn tiếp theo: Khoan hời hò khoan ơi khoan khoan hò hò khoanAi bảo là sông, ơi sông không dìm Mẹ oanKhoan hời hò khoan, ơi khoan khoan hò hò khoanAi bảo là sông, ơi sông không đổi mầu luôn Sông đỏ như māu tranh đấu sông nâuSông nghèo xanh yếu kêu cứu sông giầuSông nhuộm vàng mau chia nhau uốn khúc khoe mầuSông rồng lôi kéo lũ rắn đi cắn sông đào Khoan hời hò khoanSông tìm vẻ vang cho nên quên lời Mẹ khuyênKhoan hời hò khoanKhông tìm tình thương cho nên không đường về timKhoan hời hò khoan khoan hời hò khoan. Đoạn này có âm điệu “hò khoan” giống với đoạn 12. Về nội dung, nếu như đoạn 14 nói về sự mải mê tranh giành của các dòng sông, đại diện cho sự chia rẽ của đàn con, thì đoạn này là sự phê phán quyết liệt hơn, thể hiện qua các hình ảnh ẩn dụ: Sông nghèo xanh yếu kêu cứu sông giầuSông nhuộm vàng mau chia nhau uốn khúc khoe mầuSông rồng lôi kéo lũ rắn đi cắn sông đào.… Sông tìm vẻ vang cho nên quên lời Mẹ khuyên… Trong lịch sử, đã có những con gắn với những chiến công oanh liệt như là sông Bạch Đằng, nhưng cũng có những dòng sông tủi nhục, biểu tượng cho lòng chia rẽ, như là sông Bến Hải, sông Gianh (tức Ranh), là ranh giới của đất mẹ, của lòng người, nhuốm màu thù hận tranh giành lẫn nhau. Đó là ý nghĩa của trường đoạn tiếp theo: NHỮNG DÒNG SÔNG CHIA RẼ Nước đi là nước không vềChia đôi dòng nước chia lìa dòng sôngChia đôi bên bờ bến lạnh lùngCho Ngưu Lang và Chức Nữ ngại ngùng Chia đôi dòng sông ThươngNước bên đục bên trongNước ân tình đổi thành ra nước căm hờnChia sông Gianh phân tranh mộng đồ vươngChia con sông Bến Hải buồn thương Nước yên vui từ nguồnBỗng gây nên điều buồnDòng lệ tuôn thành sông không có linh hồnChia anh em vì quên tiếng gia đìnhChia tay chân và cắt đứt ngang mình Chia thân hình yêu đươngCắt da thịt chia xươngTrái tim buồn còn hằn in vết thương lòngSông tang thương trôi nghiêng nhịp cầu sươngCho thê lương điếm cỏ Hiền Lương Nước sông trôi bềnh bồngThiếu bao nhiêu mặn nồngVì dòng sông, dòng sông chia rẽ đôi đườngLũ con lạc lối đường xaCó con nào nhớ Mẹ ta thì về. Nhạc sĩ kết thúc phần 3 bằng một lời khuyên cho những đứa con lạc lối, sau đó là thức tỉnh tinh thần dân tộc của những người con vốn cùng một Mẹ ở trong phần 4. Bản Trường ca này tràn ngập giai điệu dân gian mà lại chuyên chở bằng những tiếng hát đầy tình tự dân tộc đó là Thái Thanh, Duy Khánh, Trần Ngọc và sự trợ lực của nhóm hòa ca Thái Hằng, Kim Tước, và Nhật Trường. Phần hòa âm và trình tấu dàn nhạc do các nhạc sĩ Nghiêm Phú Phi (dương cầm), Y Vân, Đan Thọ (vĩ cầm) và các nhạc sĩ khác đảm trách. Click để nghe Ban Hoa Xuân hát Biển Mẹ trong bản thu âm đầu tiên năm 1965 Nội dung của phần 3 – Sông Mẹ là những lo âu của Mẹ Việt Nam đối với đàn con lạc lối không tìm được đướng về, đến phần 4 thì Biển Mẹ đã bạc đầu và già đi. Về ý nghĩa của trường đoạn cuối cùng này, nhạc sĩ Phạm Duy nói: “Tôi sống vào thời đại nhiễu nhương, tình cảnh đảo điên, đạo lý xáo trộn, không còn tư vô tả, tâm vô giữ. Nên giấc mơ của tôi rất ngắn ngủi, tôi chỉ mơ sông về đến biển, đến biển rồi thi 2 sông Thương, sông Ngô, sông Bến Hải hay sông Thái Bình, sông nào cũng chỉ là sông thôi và đó là hình ảnh Biển Mẹ” Sóng vỗ miên man như câu ru êm của Mẹ dịu dàngNước biếc mênh mông như đôi tay ôm của Mẹ trùng dươngMẹ Việt Nam cho quê hương muối trắngThêm thơm mâm cơm mặn nồng Mẹ còn cho conLuôn luôn tôm to cá lớn tươi ngon đầy thuyềnMẹ hiền không lên bão tốMẹ già không đem nỗi khóMẹ là mẹ nhà cho mưa với gió hiền khô Ngày ngày vươn vaiRa khơi đón ánh dương soi con tim bồi hồiChiều chiều chơi vơiKhông nguôi thương thương nhớ nhớ con trong cuộc đời Mẹ tìm con trong gió BắcMẹ về phương Nam nắng gắtTình nhà mở cửa đem ra góp với bao laSóng vỗ êm êm như khuyên con nên trở lại Mẹ hiềnGió rít thông reo như kêu con mau trở về Mẹ yêu. Mở đầu trường đoạn là một âm điệu miên man, ấm áp, đằm thắm và nhẹ nhàng: “Sóng vỗ miên man như câu ru êm của Mẹ dịu dàngNước biếc mênh mông như đôi tay ôm của Mẹ trùng dương” Đó là tiếng vỗ về của mẹ khuyên con trở về sau khi tìm con trong gió phương Bắc và nắng phương Nam. Hình ảnh Mẹ được nhạc sĩ đồng hóa với biển, buổi sớm vươn vai đón ánh dương, chiều thì chơi vơi như nằm trong nỗi thương nhớ những đứa con xa. Mẹ cho con tôm to cá lớn thơm ngon đầy thuyền, Mẹ trùng dương không đem đến bão tố hay là nỗi khó, mà chỉ có những cơn mưa gió hiền lành vỗ về đàn con trở về. Trường đoạn này cũng thường được các ca sĩ hát riêng thành ca khúc mang tên là Mẹ Trùng Dương. Biển là biển Đông sóng gợnBiển Đông gợn sóng tứ bềGọi thuyền viễn xứ quay về Biển ĐôngHà à a hơ ơ hờ Sông ra đi từ khi non dạiTừ miền ngoài sông lại Việt NamCó từ Hi Mã Lạp SơnCũng về biển Mẹ thành con một nhàHà à a hơ ơ hờ Đoạn nhạc này rất ngắn, nhưng mang ý nghĩa về sự hòa hợp dân tộc. Dựa trên nền nhạc là tiếng ru hời của mẹ, lời hát là nội dung kêu gọi những đứa con xa xứ hoặc lầm lạc hãy mau quay trở về dưới chung một mái nhà, vì đều là con chung của một mẹ Trùng Dương – mẹ Việt Nam. Từ đó có đoạn tiếp theo, mô tả những đoàn con trở về: THÊNH THANG THUYỀN VỀ Buồm căng, buồm căng, lộng gió, gió thênh thangThênh thang thuyền vềTrên sóng trường giang thênh thang thuyền vềThuyền về trên lớp sóng vui, trên sóng vuiThuyền về trên lớp sóng vui, vui vui vui là vui Đàn con về với, với, với biển khơi, khơi Mẹ giàMẹ già đang đón chờ ta, đang đón taMẹ già đang đón chờ ta, đang đón taCó đàn chim én, én, én từ xa về rồi Quê ta đẹp lắm Mẹ ơi, ơi Mẹ ơi!Quê ta đẹp lắm Mẹ ơi, ơi Mẹ ơi!Biển êm sóng lặng, lăng, lắng nước nôi, nôi hiền lànhVề đây xây đắp mối tình, một mối tìnhVề đây xây đắp mối tình ôi tình Việt Nam Yêu nhà yêu nước, nước, nước và thương thương mọi ngườiTình tính tang tang tính tình, yêu Mẹ già, thương Mẹ taĐàn con nhớ, nhớ yêu nhauĐàn con nhớ, nhớ thương nhau. Những đứa con lưu lạc – được tượng trưng là những chiếc thuyền – dường như đã thức tỉnh khi nghe được tiếng gọi của Biển mẹ nên đã “thênh thang thuyền về”, háo hức về lại cố xứ với quyết tâm xây đắp lại tình người, dựng lại quê hương. Đêm qua chớp bể mưa nguồnĐể người trong nước hết buồn lại vuiVui buồn chút lệ rơiVui buồn khóc lại cười Mẹ cười Mẹ bốc thành hơiMây từ biển quý lên ngôi trời giàMây về khắp cõi đờiMưa rửa lỗi con người. Chớp bể mưa nguồn hàm ý nói về những thay đổi lớn lao trong đời. Ở đây, sự thay đổi đó chính là từ những thức tỉnh của đàn con làm cho mẹ mừng khóc rồi lại cười. Từ biển cả, mẹ thành mây bay khắp cõi đời rồi làm từng cơn mưa tuôn để gột rửa hết lỗi lầm của đàn con, thành những bụi phù sa vun đắp cho đời như trong đoạn tiếp theo: PHÙ SA LỚP LỚP MÂY TRỜI CUỘN BAY Triều dâng, triều dâng, ngọn sóng, sóng theo trăngTheo trăng vào bờ, ôm lớp phù sa, theo trăng vào bờNgọn triều dâng sóng nhấp nhô, sóng nhấp nhôNgọn triều dâng sóng nhấp nhô, xa xa xa là xa Đồng chua rộng nới, nới, nới thành ra, ra ruộng mềmĐền bồi cho máu về tim, lên cõi timĐền bồi cho máu về tim, lên cõi tim Có đàn cháu bé, bé, bé nhìn chim, chim ngoài trờiMây bay đẹp lắm Bà ơi, ơi Bà ơi!Mây bay đẹp lắm Bà ơi, ơi Bà ơi! Làn mây trắng cuộn, cuộn, cuốn khắp nơi, nơi đợi chờLàn mây che nắng bốn mùa, cả bốn mùaLàn mây che nắng bốn mùa, bốn mùa mộng mơHay là cho nước, nước, nước Mẹ mưa, mưa ngọt bùi Tình tính tang tang tính tìnhCho đời người thêm đẹp tươiVì đã biết, biết yêu nhauVì đã biết, biết thương nhau. Mẹ Việt Nam ơi! Mẹ Việt Nam ơi!Chúng con đã về khát khao hơi MẹChúng con xin thề giữ thơm quê MẹCuộc đời rồi phai tàn sau thế giớiChỉ còn tình yêu của Mẹ mà thôiÔi! Mẹ Việt Nam! Đoạn khúc này chỉ có vài câu, như là lời kinh cầu nguyện mang âm điệu du dương tha thiết mang lời thề của đứa con muốn “giữ thơm quê mẹ”, và hiểu rằng cuộc đời dù có phai tàn như thế nào thì thế giới sẽ vẫn “còn tình yêu mẹ mà thôi”. Đoạn kết của trường là một thông điệp về tình yêu với Mẹ Việt Nam, cũng là đoạn nổi tiếng nhất trong toàn bộ trường ca mẹ Việt Nam: Chung khúc: VIỆT NAM, VIỆT NAM Việt Nam, Việt Nam, nghe tự vào đờiViệt Nam, hai câu nóiBên vành nôi: Việt Nam, nước tôi Việt Nam, Việt Nam, tên gọi là ngườiViệt Nam, hai câu nóiSau cùng khi lìa đời. Việt Nam đây miền xinh tươiViệt Nam đem vào sông núiTự Do, Công Bình, Bác Ái muôn đời Việt Nam không đòi xương máuViệt Nam kêu gọi thương nhauViệt Nam đi xây đắp yên vui dài lâu Việt Nam trên đường tương laiLửa thiêng soi toàn thế giớiViệt Nam ta nguyện tranh đấu cho đời Tình Yêu đây là khí giớiTình Thương đem về muôn nơiViệt Nam đây tiếng nói đi xây tình người Việt Nam! Việt Nam!Việt Nam quê hương đất nước sáng ngờiViệt Nam! Việt Nam!Việt Nam muôn đời! Phần “chung khúc” này ca ngợi hình ảnh đất nước và con người Việt Nam, cùng với chí hướng, ước mơ vươn đến những điều tốt đẹp. Không lâu trước khi qua đời, nhạc sĩ Phạm Duy nói về đoạn nhạc này: “Ca khúc có tính chất xưng tụng nước ta nhan đề VIỆT NAM, VIỆT NAM rút trong trường ca Mẹ Việt Nam, là một tổ khúc kêu gọi sự đoàn kết dân tộc dưới bóng Mẹ Tổ Quốc thiêng liêng và độ lượng”. Rất nhiều người đã đánh giá cao phần xưng tụng tinh thần Việt Nam trong trường đoạn này, với những lời kêu gọi thương nhau, hòa hợp dân tộc để cùng xây đắp yên vui dài lâu. Một điều có lẽ ít người biết, là Trường Ca Mẹ Việt Nam có tổng cộng 22 đoạn, nhưng đến nay cho có duy nhất 4 đoạn được cấp phép ở Việt Nam, theo quyết định số 486/QĐ-CNTBD ngày 15/11/2012, đó là Lúa Mẹ, Mẹ Ta, Mẹ Xinh Đẹp, Mẹ Chờ Mong, đều ở trong phần 1 – Đất Mẹ. Để kết thúc bài viết, xin trích lại lời nhận xét của tác giả Đặng Tiến: Trường Ca Mẹ Việt Nam tổng hợp tất cả tình cảm của Phạm Duy đối với quê hương và những trầm luân của mệnh nước nổi trôi qua hình ảnh người mẹ, đồng thời cũng diễn tả trọn vẹn ơn sâu nghĩa nặng của cuộc đời đối với chúng ta. Gọi là Mẹ Việt Nam vì một cách nói, chứ Mẹ là Nguồn vốn không có quốc tịch. Nghe lại Mẹ Việt Nam, trở lại Mẹ hiền, là về lại Yêu Thương, về lại Cội Nguồn, về với Bản Thân. Nguyễn Minh Phước biên soạnĐông Kha hiệu đínhBản quyền bài viết của nhacxua.vn Phạm Duy viết về mùa Xuân rất nhiều. Ở đây, tôi xin nêu một vài cảm nhận về mùa Xuân... Trong số những ca khúc viết thời đi kháng chiến của nhạc sĩ Phạm Duy, hầu hết là những ca... Những ca khúc tân nhạc viết về Mùa Xuân được sáng tác vào đầu những năm 1950 vốn không phải... Trong tân nhạc Việt Nam, nhạc sĩ Phạm Duy có thể không phải là người tài năng nhất, không phải... Sau đây là bài viết của cố danh ca Quỳnh Giao nói về Đường Chiều Lá Rụng, một ca khúc... Sau khi vào tới miền Nam, hát xong tại Sài Gòn, gánh hát Đức Huy khởi sự xuống Lục tỉnh.... © 2020NhacXua.VN- Nhạc Xưa Thời Báo.
Bài viết này sưu tập những ý kiến của chính các nhạc sĩ nổi tiếng lúc sinh thời, kể về chuyện câu chuyện sáng tác ra những ca khúc để đời. (trích từ vidéo 40 Năm âm Nhạc Lam PhươngThúy Nga Paris thực hiện) Khởi viết, vào lúc 12, 13 tuổi. lúc tôi học nhạc chưa có trường Quốc Gia âm Nhạc vì vậy, tôi mới tìm những ông thầy dạy riêng tư để mà học. Trong đó, ông dạy đầu tiên cho tôi hiện tỵ nạn tại Âu Châu; người thứ hai là một nhạc sĩ sáng tác nổi tiếng, đang ở lại quê nhà. Tôi xin gởi tất cả lòng tri ân của tôi đến hai vị giáo sư đó. Trong bốn thập niên vừa qua, nếu tổng kết, tôi sáng tác khoảng 200 bài. Nếu đem 200 bài đó chia đều cho 40 năm thì cũng không có bao nhiêu. Có bài ở Việt Nam không được phổ biến, nhưng qua đến hải ngoại các bài đó được hưởng ứng nồng nhiệt. Trong thời gian những năm thanh bình của đất nước, bài “Nhạc Rừng Khuya” được tôi viết cho các anh hướng đạo sinh đốt lửa trại để khiêu vũ. Và bài thứ hai là bài ‘Ngày Tạm Biệt’ để hát trong dịp bãi trường. Nhạc tiêu biểu nhất trong thời gian này là bài ‘Khúc Ca Ngày Mùa’ và ‘Trăng Thanh Bình’. Tôi nhớ rõ vào năm 1944, ngày quân đội Pháp trở lại chiếm miền Nam, lúc đó tôi được 7 tuổi, theo mẹ để tản cư về miền đồng quê, khoảng 10 cây số. Thời gian tản cư đó tôi mới nhìn được cánh đồng quê thực sự, như cảnh gặt lúa, cảnh cấy lúa, cảnh giả gạo. Những hình ảnh đó theo đuổi trong trí tôi đến 10 năm sau. Năm 17, tôi mới đem những hình ảnh đó ghi vào nét nhạc; và tôi mượn một điệu nhạc lúc đó được phổ biến rộng rãi là Rumba manbo gọi nôm là dân ca manbo. Bài ‘Khúc Ca Ngày Mùa’ là bài khởi đầu loại nhạc manbo đó. Tôi viết bài ‘Kiếp Nghèo’ trong hoàn cảnh hoàn toàn thật của tôi lúc đó. Viết bằng rung động chân thành, và lần đầu tiên tôi viết bài ‘Kiếp Nghèo’ bằng những giòng nước mắt… Lúc đó tôi còn trẻ lắm, khoảng 1954, sau khi tôi bán được bài ‘Trăng Thanh Bình’ đầu năm 53, tôi để dành được một số tiền. Tôi mua một chiếc xe đạp để di chuyển trong lúc đi học. Nhà tôi ở Dakao. Thường thường muốn về Dakao phải đi qua con đường Phan Thanh Giản. Con đường Phan Thanh Giản cây cối um tùm. Khoảng ngang trường Gia Long không có một căn nhà nào… Đêm đó, tôi chẳng may gặp một trận mưa rất to, không có nơi để trú mưa, đành phải đi dưới mưa để tìm ‘thú đau thương’. Gần tới nhà phải qua một cầu ván gập ghềnh. Về tới nhà mưa to quá, nên cái bàn tôi ngồi học bài ướt hết, tạo cho tôi cảm xúc, từ đó ‘Kiếp Nghèo’ ra đời. Vào những năm 1958, 1959 và 1960 miền Nam bắt đầu nhen nhúm chiến tranh trở lại, kéo dài cho đến Tết Mậu Thân 1968, mùa hè đỏ lửa 1972 và đến ngày sụp đổ miền Nam, năm 1975. Tôi nghĩ rằng tất cả thanh niên chúng ta, trong mỗi gia đình, đều có một người trong quân đội. Tôi may mắn được ở hậu phương an toàn. Trái tim tôi luôn luôn gởi về chiến tuyến. Tôi theo dõi những bước chân oai hùng của các anh chiến sĩ. Tôi thương anh chiến sĩ, vì lẽ đó mà tôi đã viết khoảng 40 bài cho các anh chiến sĩ đó, như những bài ‘Tình Anh Lính Chiến’, Chiều Hành Quân’, là những bài tới giờ phút này vẫn còn thâu đi thâu lại trong các băng nhạc. Về chủ đề bài hát, dù tôi viết nhiều loại, nhưng tôi nghĩ Tình là đề tài muôn thuở của những nhạc sĩ sáng tác. Tình càng đau đớn, người ta càng dễ nhớ. Tôi cũng không thoát khỏi định luật đó. Thường thường tôi viết nhạc theo biến chuyển tình cảm riêng tư của đời mình. Bài nhạc tôi viết cho một người mà tôi chưa biết mặt, chưa bao giờ nghe hát. Tôi chỉ nhìn một chân dung nho nhỏ và một mẩu tin ở trên báo, đã gây một xúc động mạnh để viết bài nhạc đó. Ca sĩ đó thành công trọn vẹn trong bài đó. Chính là người gây nguồn cảm hứng là nữ ca sĩ Họa Mi (nhạc phẩm Em Đi Rồi). Trước 1975, tôi đã từng viết loại nhạc như ‘Chờ Người’, ‘Trăm Nhớ Ngàn Thương’. Lúc đó vì nhu cầu hãng dĩa, băng và chính nhà xuất bản của tôi, buộc tôi phải viết loại nhạc đại chúng. Sau 75, thì tôi viết cho mình trong đó có ‘Cho Em Quên Tuổi Ngọc’, ‘Bão Nắng’, ‘Như Giấc Chiêm Bao’… Nhạc Sĩ Lê Uyên Phương (1941-1999) Trả lời nhà báo Trường Kỳ(tuyển tập nghệ sĩ 1 xuất bản năm 1995) Viết nhạc đối với tôi là một hình thức viết nhật ký. Tôi không viết ca khúc bằng sự tưởng tượng mà bằng những gì thực sự xảy ra trong cuộc sống của tôi. Tôi không viết từng bài hát riêng rẽ, mà luôn viết thành từng tập ca khúc, là một đề tài nhất định mà tôi cố gắng để đào sâu tới mức nào tôi có thể. Có những ca khúc viết nhạc trước lời sau, có những ca khúc viết lời trước , có những ca khúc nhạc và lời viết cùng một lúc. Khi sáng tác tôi luôn luôn cảnh giác để không bị ảnh hưởng bởi bất cứ tác giả nào. Tôi đều ưng ý nhất mọi tác phẩm tôi còn giữ lại vì tác phẩm không ưng ý tôi đã loại khỏi những tập nhạc của tôi. Mỗi ca khúc đánh dấu một thời điểm nhất định và không thể nào thay thế hay có thể tìm lại được. Không có thói quen khi sáng tác, cảm hứng có thể đến với tôi trong bất cứ hoàn cảnh nào. Nhạc Sĩ Văn Cao (1923-1995) Kể chuyện liên quan đến một số tác phẩm của ông(trích từ video Giấc Mơ Một đời Ngườido đinh Anh Dũng đạo diễn. Yến Xuân Productions thực hiện,hảng phim Trẻ sản xuất năm ) Tôi là người luôn luôn thất bại trong tình yêu. Cái thất bại này bởi tôi là người không giỏi về cách giao lưu với những người đàn bà. Mà lại đối với những người đẹp, tôi lại càng bối rối, không bao giờ nói được với người ta, đành nói trong thơ nhạc thôi. Thiên Thai– Tại sao tôi nói đến Thiên Thai, là bởi vì một nơi, một cõi nào đó người ta coi là đất Hứa, mà đất Hứa thì không ai tìm được trên trần gian này. đi tìm mãi trong cái hoài niệm của mình, tuổi thanh niên, thì nhớ rằng có lần tìm ra được… Trương Chi– Tôi viết bài này để nói cái tình cảm của tôi, là mình chỉ có một mình . Không sống lại với cái thú quá mơ mộng của cuộc đời không đạt được. Bến Xuân– Tôi yêu một người con gái mà tôi không ngõ lời với người ta, nhưng họ hiểu và họ tới với tôi, thành ra nó mới có cái chuyện làEm đến tôi một lần…một mối tình câm, mà để lại đời mình một bài hát thế thôi, không có cái gì cả. Buồn Tàn Thu– Có lẽ cuộc đời sinh ra tôi ở mùa Thu, đấy là những ngày sinh nhật của tôi vào mùa Thu. Không hiểu sao, thơ mà mình ảnh hưởng là những bài thơ về mùa Thu. Và bản thân tôi, thì mùa Thu, ngoài cái ấm của nó, cái se lạnh của nó về cuối mùa, thì cũng là cái ngày người ta gọi là nhiều tưởng tượng nhất. Thu Cô Liêu– Tôi viết Thu Cô Liêu cũng là mùa thi của những người đang đi học, mùa thu của những nhà thơ. Mùa Thu mang nhiều thay đổi của con người. Và cái Thu Cô Liêu là cái Thu buồn bã của một cái ngày xa vắng và cái nhớ đi tìm người yêu trong cái Thu thôi. Cung Đàn Xưa– Có nhiều buổi sáng có người khi hết giấc mơ lại tiếp tới thấy một giấc mơ khác ở trong đời. Những ước mơ thì không có thật, nhưng mà nó đem lại cho mình, thường nghĩ tới những ngày sống cũ. Nghĩ lại, vẳng lại những tiếng nói của kỹ niệm cứ đeo đẳng không thể quên được. Những cái đó , tôi tìm ra được những cái điều mà tôi đã mất đi trong tuổi thanh niên của tôi. Nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng (1937-2000) điện đàm cùng nhà báo Trường Kỳ(tuyển tập Nghệ sĩ 3 xuất bản năm 1998) Tôi bắt đầu viết nhạc từ thời còn đi họcm khoảng 1955, 1956, nhưng mãi đến 1965, 1966 ca khúc mới có cơ hội phổ biến rộng rãi. Những bài hát của tôi viết ra phần nhiều là man mác có dính líu đến đời sống riêng của tôi, đời sống về tình cảm riêng của tôi… cùng bối cảnh của từng thời. Tình cảm của tôi thì có nhiều biến động. Tôi không cho một thứ tình cảm nào gọi là mất mát trong đời tôi cả. Tình yêu nó có cái thời của nó, thành thử khi nó đã có, rồi không có nữa thì cái có đó vẫn còn trong cách nghĩ ngợi nào đó. Về sáng tác, Có 3 giai đoạn : 1. Giai đoạn từ 75 về trước, thời đất nước chiến tranh. 2. Giai đoạn từ 75 đến 85. lúc tôi còn kẹt trong nước, 10 năm. 3. Giai đoạn sau 1975. Giai đoạn này có thời gian ngắn sống ở trại tỵ nạn Galang, Indonesia và thời gian định cư tại Hoa Kỳ từ cuối năm 85 đến nay. Mỗi giai đoạn trong tác phẩm của tôi đều có sự hiện hiện của Tình Yêu, hoặc Thân Phận của con người qua mọi biến chuyển của cuộc sống. Dĩ nhiên nó xen lẫn nỗi đau thương và niềm hạnh phúc. Công trình sáng tác, có thể kể như sau: Những nhạc phẩm đầu tay của tôi, rất tiếc đã bị tuyệt bản vì lý do này hay lý do nọ, nhất là vì biến cố tháng 4/75. Những nhạc phẩm được trình làng đầu tiên là: Rồi 20 năm Sau. ‘Rồi 20 Năm Sau’ gồm hai phần riêng biệt: phần 1: ‘Lời Của Mẹ’và phần 2: ’Lời Của Con’ (đã bị tuyệt bản). Trong khi ‘Lời Của Mẹ’ đến nay vẫn được phổ biến, đôi khi dưới tựa đề chung là ‘Rồi 20 Năm Sau’. Cũng trong thời gian 1966, tôi đã viết một loạt tình khúc và in thành tập gồm 14 bài mang tên ‘Trên Đỉnh Yêu đương’, trong đó có 4 bài được phổ từ thơ Hoàng Trúc Ly, xuất bản năm 1969. Hối Tiếc, Mây Hạ, Yêu Dấu Chưa Nguôi… Cõi Nghìn Trùng (thơ Hoàng Trúc Ly) cũng như Trên Đỉnh Yêu Đương đều nằm trong tuyển tập này. Từ đó đến những năm sau tôi đã viết ‘Bài Hương Ca Vô Tận’, ‘Bảy Ngàn đêm Góp Lại’, ‘Đưa Em Vào Hạ’, ‘Mùa Xuân Trên Cao’, ‘Trộm Nhìn Nhau’… Rồi biến cố Mậu Thân 1968 tôi viết ‘Chuyện Một Chiếc Cầu đã Gãy’ cho Huế và cả nước đau thương, rồi ‘Kinh Khổ’, ‘Khúc Sinh Ca’, ‘Đêm Trên Quê Hương’… Không nhớ hết… song song là những bài tình ca như ‘Mộng Sầu’, ‘Tưởng Niệm’, ‘Tưởng Không Còn Nhìn Thấy Nhau’, ‘Em Có Còn Trở Lại’, ‘Nghìn đêm Như Một’… Rồi loạt bài về hòa bình cho thời Hiệp định Paris như ‘Vĩnh Biệt Chiến Trường’, ’Hòa Bình Ơi, Việt Nam Ơi’, ’Hình Ảnh Của Một Ngày Hòa Bình’, ‘Nếu Xuân Này Hòa Bình’… Sáng tác trên đất Mỹ, khởi đầu là ‘Mười Năm Yêu Em’, rồi ‘Bản Tình Ca Mùa Đông’, ‘Thư Xuân Hải Ngoại’, ‘Đêm Nhớ Về Sàigòn’, ‘Hãy Hát Lên Tin Yêu’… Những nhạc phẩm đó có thể đi vào cá biệt hoặc đi vào đại thể, như có những bài về tình yêu nhưng vẫn có những vướng mắc của con người đang sống lưu vong. Đó là quan niệm của tôi, một người viết nhạc, một người lưu vong sáng tác. Đề tài sáng tác của tôi thay đổi theo nhịp sống, hơi thở chung quanh của người Việt hải ngoại… Mỗi một thời nó đều có những sáng tác đi theo tôi chứ tôi không có thay đổi cách sáng tác gì cả. Hoàn cảnh cho tôi những biến đổi trong sáng tác. Tôi nghĩ đó là điều cần cho tôi và đó là cách để cho mình có những sáng tác dồi dào. Nó ghi nhận được từng thời một của cuộc sống, ít nhất cho bản thân của mình. Bên cạnh đó là những người cùng sống với mình, cùng chia sẻ đời sống, chia sẻ những cái vui cái buồn với mình. Vậy thì chủ đề tôi vẫn viết về Tình Yêu, Quê Hương, Thân Phận Con Người và Giữa Con Người Với Con Người cũng như Giữa Mình với chính bản thân mình… Trong đời sống có những cái tiêm nghiệm, cách sống, thái độ sống với mình, với người khác…tất cả những cái đó đều ghi nhận trong cuộc đời sáng tác của tôi. Nhạc Sĩ Văn Phụng (1931-1999) trả lời nhà báo Trường Kỳ(tuyển tập Nghệ sĩ 5 xuấn bản năm 2001) Tôi được Linh mục Mai Xuân Đỉnh chỉ dẫn thêm về nhạc, và sau đó tự học hỏi qua sách vở. Cái gì không hiểu tôi cũng tò mò lấy tự vị, dictionnary ra học. Chỉ tự học lấy vì ông cụ đâu có cho học, ông cụ thời ấy khó lắm, chỉ có muốn tôi làm bác sĩ thôi, đâu có muốn tôi làm nhạc sĩ, ông cụ bực lắm. Nhưng mà nhân thể tôi viện cớ là phải vào lính. Một là mình đi lính chiến, hai là mình đi lính nhạc. Mà lính nhạc thì nghe có vẽ dễ chịu hơn… cầm súng, cầm siếc chán lắm! Khởi đầu với ‘Ô Mê Ly’ vào năm 1948 và kết thúc với ‘Chán Nản’ năm 1972. Sáng tác lai rai… chẳng có lúc nào mạnh, lúc nào yếu cả… cứ làm đại thôi! Có hứng là làm, gặp cái gì làm cái đó… Nói đúng thì đối với tôi, bài nào tôi cũng hài lòng. Không có bài gì đặc biệt lắm. Nhưng cũng có một vài bài hơn hơn một chút, thí dụ như bài ‘Suối Tóc’ chẳng hạn, tôi thích lắm. Hay như bài ‘Tôi đi Giữa Hoàng Hôn’. Mọi người đều thích bài đó. Gần nhất là bài ‘Chán Nản’, vào độ 1972, 1973 gì đó, thiên hạ thích lắm. Những ca khúc khác, được biết đến nhiều: Các Anh đi (phổ thơ), Tình, Suối Tóc, Mưa, Tiếng Hát Với Cung Đàn, Tiếng Dương Cầm, Trở Về Huế, Ghé Bến Sài Gòn… Nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ (1929-2001) tài liệu của nhà báo Trường Kỳ(tuyển tập Nghệ sĩ 4 – xuất bản năm 2000) Khi nhỏ, tôi làm nhạc trong lúc ở trung học. Mình cứ đi theo lý tưởng của mình và tôi có một niềm đam mê dễ sợ lắm, do đó mình cứ làm hết việc này qua việc khác. Khi mình làm những cái việc đó mình có nghĩ rằng một ngày nào những việc gì mình làm sẽ tích lũy để mang đến cái danh cho mình không? Tuyệt đối không! Bởi tôi nghĩ rằng, nếu mình làm được gì thì mình làm lấy thôi. Nhưng mà qua trên 50 năm, thì tôi thấy, đến phút này, nghiệm lại, và thấy được mình đã làm nhiều quá. Không những tôi làm về nhạc mà còn đi vào những lĩnh vực khác. Tôi tạo ra show, làm đạo diễn để tập cho các ca sĩ biểu diễn. Tôi còn làm về vũ, sáng tạo với những vũ sư mà tôi thấy có khả năng để xây dựng cho nền vũ của mình. Làm về điện ảnh, viết nhạc kịch, làm đủ thứ. Không phải mình tham lam, nhưng nghĩ rằng là mình làm được cái gì thì làm. Sau năm mươi mấy năm trời, bây giờ mình ngồi lại, thấy mình làm quá nhiều! Cho nên về cái bệnh của tôi, tôi ít khi than phiền lắm. Một người như vậy thì phải như vậy thôi! đã quá nhiều ‘stress’ trong đời văn nghệ rồi! Lúc sau này khi về hưu rồi, tôi chỉ sống với âm nhạc thôi… Một hôm ngồi ăn với một cô ca sĩ có chiếc răng khểnh đẹp, nhìn thấy cái miệng đẹp quá, tôi tưởng tượng như một đoá hoa. Tôi đã bị ảnh hưởng bởi những chuyện hoa rồi… bây giờ hoa ở nhà mình cũng có, hoa ở ngoài vườn cũng có, hoa ở ngoài đời cũng có. Nếu bây giờ mỗi người con gái đều mang cái hoa nở ra miệng thì quá đẹp vì vậy, tôi làm bài ‘Nụ Cười Hoa Nở’ (khoảng tháng 2 năm 98)… Những cái đó tôi không dám nói là độc đáo, nhưng tôi dám thành thực để nói ra. Nếu sau này tôi chết rồi, nếu ai nghe những điều đó họ có thể hơi cười, mà điều đó họ không thể hiểu được. Tôi có những phút sống với âm nhạc, với nghệ thuật như vậy thôi ! Trong cái giai đoạn cuối cuộc đời tôi, tôi sống như một ông tiên. Tôi không có lo nghĩ cái gì nữa hết… Buổi sáng dậy, tôi uống nước, tôi nhìn ra dàn hoa, tôi nhìn những con chim. Tôi nghe vang vọng lại những cái bài của tôi đã làm hay những cái bài người khác. Rồi tôi lại thích viết nhạc, tôi đọc sách, tôi lại tiếp tục đọc sách. Tôi thấy như vậy là cuộc đời đẹp đẽ quá, và tôi sáng tác được. Nhưng tôi khác ông tiên cái chỗ này: ông tiên không còn vướng bụi trần, còn tôi thì khổ quá, đến phút này mà trái tim vẫn rung động! Như vậy vẫn còn vướng bụi trần, bắt tôi phải sáng tác hoài. Nó chỉ khác chỗ đó thôi. Nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn trả lời nhà báo Nguyễn Phúcbiên tập viên đài BBC Luân đôn(tạp chí Văn Học) Cái buồn cười là khi bắt đầu viết nhạc, ưng viết cho khúc mắc, cho khó khăn, sau này đọc thêm, học thêm, nghe nhiều mới thấy được cái simpicité (giản dị) mà đạt được mới là khó. Ðúng vậy, mãi về sau này, khi vào thành rồi, tôi mới học composition. Nhưng có cái buồn cười là lúc đó, mình chưa học composition mà lại viết nhạc, viết được có lẽ nhờ mình nghe nhiều, sống nhiều với âm nhạc. Cũng như có nhiều người có học luật lệ gì về thi ca đâu nhưng mà vẫn làm thơ, vẫn làm được thơ. Riêng trong âm nhạc, tôi nghĩ muốn viết cho vững, tối thiểu phải học harmonie, nó giúp cho mình chấm câu dứt đoạn. Người sáng tác nhạc ít nhất cũng phải biết hòa âm. Thiếu kỹ thuật đó, nhạc phẩm không có được mạch lạc chặt chẽ. Các nhạc sư Pháp cho rằng âm nhạc là sự vận chuyển của tâm trạng và tư tưởng. Sự vận chuyển này được tạo ra bởi hai trạng thái động và tĩnh. Có nghĩa là căng thẳng (tension) và buông dãn (détente). Ðể dễ hiểu, khi nghe một bài vọng cổ, đến đoạn nói lối (có khi kéo dài đến hàng trăm chữ), có lúc tiết điệu và âm điệu đang tạo sự căng thẳng, người nghe nín thở chờ đợi, chờ đợi gì, chờ đợi sự buông dãn của âm Hò chấm câu, là lúc cả rạp vỗ taỵ Lúc này là lúc âm nhạc chủ động, lời văn của bài ca là thứ yếu, chỉ có âm Hò họa điệu (chute) để cho người nghe thở phào. Có tiết điệu trống (rythme masculin), tiết điệu chiều ý người nghe theo nét nhấn (accent) của nhịp ấn định. Và tiết điệu mái (rythme féminin) là tiết điệu đưa lệch nét nhấn mà người nghe chờ đợị. Ðấy là một vài chi tiết của composition. Sau khi vào thành rồi, tôi bắt đầu học thêm khóa hàm thụ với Ecole Universelle ở bên Pháp. Tháng tháng gửi mandat-poste cho họ, theo học cours de composition. Sau khi học xong tôi được chấp nhận là hội viên của SACEM Hội Nhạc sĩ Pháp. Lúc bấy giờ tôi quyết tâm đeo đuổi ngành nhạc…. trả lời nhà báo Trường KỳVề Sự Nghiệp Và Những Bài Nhạc Tình Ca(Tuyển Tập Nghệ Sĩ 4 xuất bản năm 2000) Nếu cần phải tóm tắt cái gọi là sự nghiệp của Phạm Duy, thì đây là một dịp để tôi báo cáo với những người yêu nhạc : Có 3 con người ở trong tôi, cũng như mọi nghệ sĩ khác. Ba con người rõ rệt Thứ nhất, là con người tình cảm: là soạn những bản nhạc tình yêu cho cá nhân, không cứ ở trong một thời đại nào, ví dụ những bài nhạc như ‘Ngày đó Chúng Mình’, là những bài tình ca. Con người thứ hai: con người xã hội: là con người khóc cười theo mệnh nước, thì khởi sự bằng những bài ca yêu nước, yêu lịch sử với những ‘Gươm Tráng Sĩ’, ‘Chiến Sĩ Vô Danh’; qua những ‘Bà Mẹ Gio Linh’, qua cả những bài như ‘Huyền Sử Ca Một Người Mang Tên Quốc’… Cái xã hội tốt hay xấu, vẻ vang hay nhục nhằn thì nó đều hiện qua âm nhạc của tôi. Con người thứ ba: là con người tâm linh, con người lúc đó không còn là con người xác thịt nữa và cũng không phải là con người xã hội, mà phải vui phải buồn với cái xã hội của mình, mà phải hoà mình vào với thiên nhiên… Và tôi nghĩ rằng âm nhạc bao giờ nó cũng khởi sự bằng nhạc tâm linh cả… Cũng như tất cả những nhạc sĩ khác, tôi cũng có những bản nhạc cho tình yêu. Về tình yêu thì nó hơi khác với những người khác ở chỗ tính chất nhạc tình của tôi khác nhạc của ông Dương Thiệu Tước, hay là của ông Đặng Thế Phong, hay là của ông Trịnh Công Sơn… Nếu chúng ta nghe những loại nhạc tình của ông đặng Thế Phong, hay của ông Lê Thương, hay của ông Văn Cao thì đó là những tổ sư lãng mạn ở trong thời kỳ rất đẹp của tân nhạc lúc đó… Bên người tình nhân yêu nhau thì phải có mùa thu mới yêu nhau được. Thế cho nên hồi mới, ra toàn là những bài ca mùa thu: ‘Giọt Mưa Thu’, rồi thì ‘Con Thuyền Không Bến’, rồi thì ‘Thu Trên đảo Kinh Châu’, còn ông Văn Cao thì ‘Thu Cô Liêu’, rồi ‘Buồn Tàn Thu’… Thời kỳ đó là thời kỳ lãng mạn. Thật ra tôi cũng có những bài lãng mạn chứ không phải là không… Lúc bấy giờ tôi tách được ra, là tôi làm loại nhạc không còn lãng mạn nữa mà nó là tình cảm. Tôi khởi sự với những bài: ‘Tìm Nhau’, ‘Kiếp Nào Có Yêu Nhau’, rồi ‘Cho Nhau’ rồi thì ‘đừng Xa Nhau’… đôi tình nhân yêu nhau không cần phải mùa thu, không cần phải con đò, ao lạnh hay trên cái hồ xưa gì cả! Mà hai người yêu nhau thì chỉ có người nam với người nữ yêu thôi.‘…ngày đó em đi nhẹ vào đời…’, anh ra sao, em ra sao, chỉ có hai người ấy thôi thì tôi gọi đó là nhạc tình cảm. Về sau này cũng có một số những anh em khác cũng đi vào cái con đường đó, có thể còn hay hơn nhạc của tôi cơ, nhưng mà dù sao tôi là người đi đầu. Những người đi sau, ví dụ như Ngô Thụy Miên chẳng hạn, với loại nhạc mà theo tôi, gần với Phạm Duy nhất, chứ không có tính chất lãng mạn nữa, ví dụ như bài mà tôi rất thích có lời như“dù mai đây ai đưa em đi đến cuối cuộc đời…”gì đó, phải không? Nó gần gũi với nhạc tôi lắm. Hơn nữa, có thể thấy rõ rằng là về sau, nhạc tình của ông Trịnh Công Sơn thì nó không có tình cảm, mà nó cũng không có lãng mạn… Tôi gọi đó là nhạc ‘não tình’. Nó cũng không vào tim mà cũng không vào đầu; nó đánh vào cái não của mình. Vì cái đời sống lúc đó nó não nề quá. Hay nhạc của ông Lê Uyên Phương chẳng hạn thì nó cũng không giống những người khác, tức là nó ‘dục tính’, nó xưng tụng cái tình dục như ‘Vũng Lầy Của Chúng Ta’, đại khái như vậy! Nghe nhạc Lê Uyên Phương thấy nó khác nhạc Phạm Duy, nó lại càng khác nhạc của Đặng Thế Phong, là ở chỗ nó xưng tụng cái dục tình. Còn cái đời sống của ông Văn Cao trong nhạc tình thì còn tuyệt vời hơn. Nếu cần phải biết là nhạc của tôi khác với nhạc của những người khác về phương diện nhạc tình ra sao, thì hôm nay tôi mạo muội đưa ra vài ba nhận xét nhỏ như vậy… Ngoài những cái khía cạnh nội dung như vậy, xét đến cái phương diện hình thức, phải công nhận rằng lúc đó nhạc tình của những người như ông Văn Cao, ông Đặng Thế Phong hay như của Lê Yên, của ông Dương Thiệu Tước hay là ông Thẩm Oánh chẳng hạn, không phát triển mạnh mẽ về phương diện nhạc tính, phương diện nhạc điệu. Gần như ở trường hợp là hãy còn bình dị quá. Thí dụ như nhạc tình của ông Văn Cao thì đại đa số chỉ nằm trong cái âm giai ‘Ré mineur’ (Cn) chẳng hạn, hay trong một cái khuôn khổ 32 ‘mesures’. Nhưng dù sao ông ấy cũng có hai tác phẩm tuyệt vời là ‘Trương Chi’, với ‘Thiên Thai’, hai tác phẩm lớn. Nhưng dù sao đi chăng nữa, nhạc ngữ của ông ấy cũng không được phong phú như chúng ta mong muốn. Riêng tôi, thì tôi cũng mừng về cái loại nhạc tình cảm đó, nó cũng đi từ những chỗ hết sức giản dị cho đến những chỗ hơi cầu kỳ một chút xíu. đó là lẽ tất nhiên vì nghệ sĩ mà không sáng tạo thì đứng một chỗ, tức là lùi. Từ cái bài nhạc tình nhỏ nhen của tôi là ‘Đừng Xa Nhau’ khi chuyển sang bài ‘Đường Chiều Lá Rụng’, thì về nhạc ngữ có thể có một cái sự khác nhau, chứ không nằm trong nhạc ngữ bình dị nữa. Ngày 22/8/2024, khi ở tuổi 61, Trường Vũ - ca sĩ nổi tiếng với các ca khúc "Thân phận nghèo",... Giai điệu Bolero, với xuất xứ từ các thể loại nhạc như Rumba, Habanera, Valse và Tango, đã du nhập... Việc tặng bông trong các buổi đờn ca tài tử đã trở nên phổ biến trong những thập kỷ gần... Trong bài hát "Chiều Trên Phá Tam Giang" của nhạc sĩ Trần Thiện Thanh có câu: "Giờ này Thương Xá... Trong những thập niên 1950, 1960 và 1970, hình ảnh những chiếc taxi hai màu xanh - trắng (hoặc vàng... Những ai từng học ở trường Đại học Văn Khoa xưa, nay là trường Đại học Khoa học Xã hội... © 2020NhacXua.VN- Nhạc Xưa Thời Báo.
Ca khúc ra đời từ kỷ niệm những chiều mưa tầm tã Sài Gòn khi nhạc sĩ Nguyễn Trung Cang đón đưa người yêu đi học về. Thay vì viết những bản tình ca u sầu đẫm nước mắt theo lối mòn thời bấy giờ, ông chọn tạo ra những nốt nhạc rộn rã, rộn ràng để xua tan cái lạnh buốt của hạt mưa, sưởi ấm trái tim người yêu bằng sự lạc quan vui vẻ. Tác phẩm nhanh chóng trở thành bài hát tủ của ban nhạc Phượng Hoàng, mang làn gió mới Pop-Rock Âu Mỹ trẻ trung thổi hồn vào phong trào nhạc trẻ Sài Gòn đầu thập kỷ 1970.
Mộng Dưới Hoalà một nhạc phẩm tình ca có nội dung tuyệt đẹp và rất lãng mạn của nhạc sĩ Phạm Đình Chương. Cái đẹp và lãng mạn của bài này hát được thừa hưởng từ bài thơ thời tiền chiến của thi sĩ Đinh Hùng. Tuy nhiên ít người biết rằng bài hátMộng Dưới Hoakhông phải được phổ từ một bài mà từ 2 bài thơ khác nhau của thi sĩ Đinh Hùng. Nếu để ý, người nghe nhạc sẽ thấy lời của bài hátMộng Dưới Hoaêm đềm như một bài thơ với câu có 7 chữ, nhưng đến đoạn điệp khúc:Nếu bước chân ngà có mỏi…thì nhịp điệu nhanh hơn và có 6 chữ trong mỗi câu. Đó là vì những câu hát đó thuộc về 2 bài thơ khác nhau: 1 bài thơ 7 chữ và 1 bài thơ 6 chữ. Một điểm đặc biệt của thơ Đinh Hùng là các bài thơ thường rất dài, nên nhạc sĩ Phạm Đình Chương chỉ lấy vài đoạn trong 2 bài thơ này để đưa vào bài hát. Đó là 2 bài thơ“Tình Tự Dưới Hoa”và“Xuôi Dòng Mộng Ảo”: “Tình Tự Dưới Hoa”được thi sĩ Đinh Hùng in trong tập thơ “Đường Vào Tình Sử”, tuy là nội dung bài hátMộng Dưới Hoadựa nhiều vào bài thơ này, nhưng thật ra chỉ có hai trong sáu đoạn của bài thơ được phổ thành nhạc. Đó là đoạn thứ nhất của bài thơ: “Chưa gặp em, tôi vẫn nghĩ rằngCó nàng thiếu nữ đẹp như trăngMắt xanh lả bóng dừa hoang dạiThăm thẳm nhìn tôi không nói năng” cùng đoạn thứ ba của bài thơ: “Em đến như mây, chẳng đợi kỳHương ngàn gió núi động hàng miTâm tư khép mở đôi tà áoHò hẹn lâu rồi – Em nói đi” Và một câu thơ của đoạn cuối: “Vai kề một mái thơ phong nguyệt” Bài thơ 6 chữ“Xuôi Dòng Mộng Ảo”cũng ở trong thi tập “Đường Vào Tình Sử” của Đinh Hùng. Bài thơ có tám đoạn và chỉ có đoạn thứ năm được nhạc sĩ Phạm Đình Chương lấy làm điệp khúc cho bài hát: “Nếu bước chân ngà có mỏiXin em dựa sát lòng anhTa đi vào tận rừng xanhVớt cánh rong vàng bên suối” Nếu tìm hiểu kỹ bài hát“Mộng Dưới Hoa”với 8 đoạn, và so sánh với nguyên tác hai bài thơ (chép nguyên văn ở bên dưới bài viết này), sẽ thấy đa số lời nhạc của bài hát không có trong bài thơ nào của thi sĩ Đinh Hùng, mà được nhạc sĩ Phạm Đình Chương tự sáng tạo thêm lời nhạc, và thật lạ lùng là phần lời đó vẫn phảng phất được cái chất thơ Đinh Hùng. Để được như vậy, nhạc sĩ Phạm Đình Chương có nhờ chính thi sĩ Đinh Hùng góp sức để hoàn thiện bài hát. Click để nghe danh ca Duy Trác hát Cố nhạc sĩ Vũ Thành đã từng nhận xét:“Mộng Dưới Hoa đáng được coi là một kỳ công vì phổ nhạc vào thơ Việt Nam là một việc cực khó… Làm theo thể mẫu hết sức cân đối mà vẫn giữ bằng trắc của từng chữ, ta phải ngả nón trước Phạm Đình Chương”. Giáo sư Nguyễn Đình Cường có kể lại một giai thoại nhỏ đã được chính nhạc sĩ Phạm Đình Chương kể trong một lần hai người di thăm ca sĩ Hoài Trung đang nằm trong một bệnh viện ở Pasadena vào năm 1990. Khi được hỏi về trường hợp sáng tác bảnMộng Dưới Hoathì nhạc sĩ Phạm Đình Chương cho biết là khoảng năm 1957, ông đọc tập thơĐường Vào Tình Sửcủa thi sĩ Đinh Hùng, thấy bàiTự Tình Dưới Hoahay và có nhiều hình ảnh đẹp, lời thơ có vẻ cổ điển ước lệ, với mỹ nhân, với trăng sao, mây nước, suối rừng, mơ mộng…, những giai điệu đã vang lên trong đầu rồi bật ra thành những nốt nhạc đầu tiên, và ông đã ghi lại trên giấy. Ở Sài Gòn trước năm 1975, chính tác giả Phạm Đình Chương (tức ca sĩ Hoài Bắc của ban Thăng Long) đã nhiều lần hát bài này ở phòng trà Đêm Màu Hồng. Đặc biệt mỗi lần hát đến câu“mắt xanh lả bóng dừa hoang dại”thì ông ngừng lại ngang xương khiến ban nhạc lỡ bộ, rồi nói: “Lảbóng, các bạn ạ, đừng hátLàbóng, mất đẹp của câu thơ đi”.Nói xong, ông lại say sưa và mơ màng hát tiếp, ban nhạc lại ngoan ngoãn đệm theo. Chưa gặp em tôi vẫn nghĩ rằngCó nàng thiếu nữ đẹp như trăngMắt xanh lả bóng dừa hoang dạiẤu yếm nhìn tôi không nói năng… Nếu chỉ nghe thoáng qua bài hát, chúng ta thường chỉ nghĩ đơn thuần rằng đây là một bài hát lãng mạn, ca từ đẹp như thơ (vì vốn dĩ đây là một bài thơ). Còn nếu để ý sâu hơn nữa, sẽ thấy được tài dụng chữ trác tuyệt của những thi sĩ thời tiền chiến. Chưa gặp em tôi vẫn nghĩ rằng có nàng thiếu nữ đẹp như trăng…Nếu theo câu chữ thông thường, người ta sẽ viết là “chưa gặp em tôi đã nghĩ rằng” – nghĩa là khi chưa gặp em, tôi đã nghĩ rằng em là một thiếu nữ rất đẹp. Nhưng điều đó còn nằm trong vòng dự đoán, rồi nếu gặp được, có thể nàng đẹp hoặc không đẹp, hoặc đẹp bằng một hình tượng khác chứ không phải là “như trăng”. Còn thi sĩ Đinh Hùng sử dụng chữ “vẫn”, là một sự minh định rõ ràng, như là một định mệnh, dù chưa gặp nhưng biết là nàng “vẫn đẹp như trăng” không hề do dự. Mắt xanh LẢ bóng dừa hoang dạikhác hoàn toàn vớiMắt xanh LÀ bóng dừa hoang dại. Mắt của nàng không phải, mà cũng không thể LÀ cái bóng dừa. Tác giả muốn mô tả về đôi mắt hoang dại, còn ngây thơ, trong sáng và thuần khiết chưa vương một chút sầu. Nàng như là đến trong giấc mộng và nhìn tôi thật âu yếm trìu mến không nói năng, nhưng mà nàng cũng đâu cần nói gì nữa, vì thực ra chúng ta như là đã gặp nhau từ muôn kiếp rồi… Ta gặp nhau yêu chẳng hạn kỳMây ngàn gió núi đọng trên miÁo bay mở khép niềm tâm sựHò hẹn lâu rồi – em nói đi… Rồi nàng con gái cũng đến thật sự, nàng không những đẹp như tôi vẫn nghĩ, mà đứng trước dung nhan của nàng tôi còn thấy cả một sự kỳ vĩ của tạo hóa, và những giọt lệ chớm buồn bỗng trở thành mây ngàn gió núi về đọng trên bờ mi người thiếu nữ. Hình ảnh “áo bay mờ khép nghìn tâm sự” thể hiện được biết bao nhiêu ý nghĩa ở trên đời. Người giai nhân áo mỏng đi giữa đường chiều gió lộng, và những lần vạt áo tung bay mở khép hờ hững thôi cũng đủ khiến lòng người trai thấy rối bời cả tâm trí. Hò hẹn đã lâu rồi, xin người hãy nói lời nào êm dịu để lòng tôi được trấn tĩnh giữa nghìn tâm sự miên man không thể xếp được thẳng thớm ngay hàng. Nếu bước chân ngà có mỏiXin em dựa sát lòng anhTa đi vào tận rừng xanhVớt cánh rong vàng bên suối. Ôi hoa kề vai hương ngát mái đầuĐêm nào nghe bước mộng trôi mauGió ơi, gửi gió lời tâm niệmVà nguyện muôn chiều ta có nhau… Đôi tình nhân nép sát và dìu nhau đi vào tận chốn rừng xanh, nơi chỉ có 2 người trên đời. Dừng chân bên dòng suối vắng, nàng hãy để ta được nghe mùi hương tóc khi tựa đầu kề bên vai, nghe được những tâm sự của thiếu nữ và thả hết cơn muộn phiền trôi theo cánh rong vàng bên suối. Cuộc tình này thắm thiết đổi trao và nguyện mong rằng sẽ được gắn bó với muôn chiều. Bài hát còn có phần lời 2, với ca từ đa số là được nhạc sĩ Phạm Đình Chương viết (không có trong thơ Đinh Hùng) như sau: Tôi cùng em mơ những chốn nàoƯớc nguyền chung giấc mộng trăng saoSánh vai một mái lầu phong nguyệtHoa bướm vì em nâng cánh trao Hy vọng thơm như má chớm đàoAnh chờ em tới hẹn chiêm baoDưới hoa tưởng thấy ngàn sao rụngHòa lệ ân tình nguôi khát khao Bước khẽ cho lòng nói nhỏBao nhiêu mộng ước phù duTa xây thành mộng nhìn thuNúi biếc, sông dài ghi nhớ Ôi, chưa gặp nhau như đã ước thềMây hồng giăng tám ngả sơn khêBóng hoa ngả xuống bàn tay mộngVà mộng em cười như giấc mê… Bài thơ Tự Tình Dưới Hoa của thi sĩ Đinh Hùng: Chưa gặp em, tôi vẫn nghĩ rằng:Có nàng thiếu nữ đẹp như trăng,Mắt xanh lả bóng dừa hoang dại,Thăm thẳm nhìn tôi, không nói năng Bài thơ hạnh ngộ đã trao tay,Ôi mộng nào hơn giấc mộng này?Mùi phấn em thơm mùi hạ cũ,Nửa như hoài vọng, nửa như say Em đến như mây, chẳng đợi kỳThương hàng gió núi động hàng miTâm tư khép mở đôi tà áo,Hò hẹn lâu rồi. Em nói đi Em muốn đôi ta mộng chốn nàoƯớc nguyền đã có gác trăng saoChuyện tâm tình: dưới hoa thiên lý,Còn lối bâng khuâng: ngõ trúc đào Em chẳng tìm đâu cũng sẵn thơ,Nắng trong hoa, với gió ven hồDành riêng em đấy. Khi tình tự,Ta sẽ đi về những cảnh xưa Rồi buổi u sầu, em với tôiNhìn nhau cũng đủ lãng quên đờiVai kề một mái thơ phong nguyệt,Hạnh phúc xa xa mỉm miệng cười Bài thơ Xuôi Dòng Mộng Ảo của thi sĩ Đinh Hùng: Chim hồng về khu rừng cũ,Xuân ấy hai lòng mới yêuCùng hoa, bướm trắng sang nhiều,Nắng thơm những chiều tình tự. Xin em ngồi trên nhung cỏ,Nghe suối ca vui nhịp nhàng.Anh ru cho hồn em ngủ,Bằng điệu ca sang dịu dàng. Chim xanh về khu rừng cũ,Hè tới, hai lòng còn yêuCỏ thơm mọc đã cao nhiều,Cành mộng bao nhiêu hoa đỏ! Nếu bước chân ngà có mỏi,xin em dựa sát lòng anh.Ta đi vào tận rừng xanh,Vớt cánh rong vàng bên suối. Lá đỏ rơi trong rừng cũ,Thu về, hai lòng còn yêu.Đường tình trải một làn rêu,Ngơ ngẩn hồn chiều tư lự. Em có lên sườn núi biếc,Nhặt cánh hoa mơ gài đầu.Này đôi nai vàng xa nhau,Có tiếng gọi sầu thảm thiết. Chim buồn xa khu rừng cũ,Đồi núi trập trùng cỏ rêu.Hai lòng nay đã thôi yêu,Có tiếng suối chiều nức nở. Em không nghe mùa thu hết?Em không xem nắng thu tàn?Trời ơi! Giọt lệ này tan,Là lúc linh hồn anh chết! Đông Kha (nhacxua.vn) biên soạn Ngày 22/8/2024, khi ở tuổi 61, Trường Vũ - ca sĩ nổi tiếng với các ca khúc "Thân phận nghèo",... Giai điệu Bolero, với xuất xứ từ các thể loại nhạc như Rumba, Habanera, Valse và Tango, đã du nhập... Việc tặng bông trong các buổi đờn ca tài tử đã trở nên phổ biến trong những thập kỷ gần... Trong bài hát "Chiều Trên Phá Tam Giang" của nhạc sĩ Trần Thiện Thanh có câu: "Giờ này Thương Xá... Trong những thập niên 1950, 1960 và 1970, hình ảnh những chiếc taxi hai màu xanh - trắng (hoặc vàng... Những ai từng học ở trường Đại học Văn Khoa xưa, nay là trường Đại học Khoa học Xã hội... © 2020NhacXua.VN- Nhạc Xưa Thời Báo.
Tổng quan “Diễm xưa” là tình khúc tiền chiến diễm lệ và nổi tiếng nhất của Trịnh Công Sơn, sáng tác năm 1960 tại cố đô Huế. Tác phẩm lấy cảm hứng từ...
Tác phẩm mới được tổng hợp và đưa vào hệ thống.
Tác phẩm mới được cập nhật vào kho lưu trữ kỹ thuật số.
Tháng 5 năm 2014: Hiện tượng "Chắc ai đó sẽ về" làm khuynh đảo các bảng xếp hạng V-Pop, đồng thời mở ra cuộc tranh luận lớn nhất về vấn đề bản quyền trong lịch sử âm nhạc Việt Nam.
Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại gia tài âm nhạc đồ sộ với hơn 600 ca khúc, trong đó phần lớn là các bản tình ca buồn.
Khám phá mạng lưới kết nối giữa các nhạc sĩ và ca sĩ định hình âm nhạc đại chúng Việt Nam những năm 1990-2000.
Khám phá bản đồNhững câu chuyện thâm cung bí sử, hoàn cảnh sáng tác phía sau những bài hát bất hủ.
Sự giao thoa tuyệt đẹp giữa thi ca và âm nhạc. Những bài thơ được chắp cánh bởi giai điệu.
Một góc nhìn sâu sắc về các trào lưu âm nhạc đa dạng đã nảy nở tại Sài Gòn.