Những mảnh ghép tri thức âm nhạc

Khám phá kho lưu trữ kỹ thuật số, nơi kết nối các thế hệ nghệ sĩ, câu chuyện đằng sau những bản nhạc bất hủ và mạng lưới tri thức âm nhạc sâu rộng.

Ngẫu nhiên

Những Mảnh Ghép & Giai Thoại

Xem tất cả
Thông tin Bài hát

Bao Giờ

Tổng quan Bài hát "Bao Giờ" do nhạc sĩ Đỗ Bảo sáng tác phần nhạc. Phần lời và năm sáng tác: Đang cập nhật. Nội dung nghệ thuật "Bao Giờ" mang đặc t...

Giai thoại Bài hát

Ba Mươi Năm

Trình duyệt của bạn không cho phép chơi nhạc. Ba mươi năm - Võ Tá Hân phổ nhạc, Khắc Dũng trình bày...

Tiểu sử Nghệ sĩ

Phượng Hằng

update_topic(strategic_intent='Creating an encyclopedia entry for Phượng Hằng based on the provided data, adhering to all specified formatting and con...

Thông tin Bài hát

Anh đứng đây là đâu

Tổng quan Tên bài hát: Anh đứng đây là đâu Người sáng tác nhạc: Đang cập nhật Người viết lời: Đang cập nhật Năm phát hành: Đang cập nhật Nội dung n...

Giai Thoại Cuốn Hút

Xem tất cả

Tuổi đá buồn

Tác phẩm ra đời từ hình bóng mong manh của người con gái Dao Ánh đi lễ nhà thờ Phủ Cam trong những chiều mưa Huế lạnh giá. Tiếng chuông nhà thờ vang vọng trầm mặc cùng những hàng thông già đẫm nước mưa đã khơi nguồn cảm hứng cho nhạc sĩ ví von những viên đá lạnh bên đường cũng biết sầu muộn khóc thương phận người. Nhạc khúc bất hủ biến nỗi buồn cô đơn thành một nét nghệ thuật thanh cao quý phái, đồng điệu sâu sắc với tâm hồn những người trẻ yêu thơ ca nhạc trữ tình.

Bên Ni Bên Nớ

Bên Ni Bên Nớ– Nhạc của Phạm Duy, thơ Cung Trầm Tưởng, có thể là một ca khúc tương đối lạ và không dễ thưởng thức đối với nhiều người, nhưng với tôi thì đây là một ca khúc đặc biệt, là một bức tranh màu xám đầy tương phản của đô thành Sài Gòn trong những năm thập niên 1950. Ca khúc này mang đầy chất liêu trai, lời nhạc mông lung nhưng có thể làm ám ảnh người nghe, nội dung bài hát bày ra hai cảnh đời mâu thuẫn, nhưng cũng từ đó đã đề cao tình nhân ái, tinh thần tích cực và an vui hạnh phúc của con người dù có phải ở vào cảnh nghèo túng. Click để nghe Khánh Ly hát Bên Ni Bên Nớ Nguyên tác bài thơ mang tênTương Phảncủa thi sĩ Cung Trầm Tưởng, ông sáng tác bài này khi mới 18 tuổi và đang sống ở vùng Dakao, khi ấy vẫn là một vùng ngoại thành tối tăm, hoang vắng và xơ xác. Dakao ngày ấy đã được nhạc sĩ Lam Phương mô tả là một xóm nghèo“lầy lội qua muôn lối quanh”và“gập ghềnh đường đê tối tăm”như trong bài hátKiếp Nghèo, hay là“vàng ánh điện câu”với hắt hiu mái lá vách phên như trong bàiXóm Đêmcủa nhạc sĩ Phạm Đình Chương. Một đêm, từ vùng ngoại ô nhìn về phía đô thành với đèn hoa rực rỡ, thi sĩ Cung Trầm Tưởng nhìn thấy rõ một bức tranh tương phản, giữa một bên là đô thành tráng lệ, một bên là hoang liêu như một bãi tha ma. Từ bài thơTương Phản, nhạc sĩ Phạm Duy viết thành ca khúc mang tênBên Ni Bên Nớvới ca từ khá sát với lời thơ gốc,. Hãy cùng đi vào chi tiết từng lời hát: Đêm chớm ngày tàn,theo tiếng xe về,lăn về viễn phố Em hỡi sương rơi,ngoài song đêm hạ,ôi buồn phố xá Hoang liêu về chết tha ma,tiếng chân gõ guốc xa xaNgười xa vắng người,người xa vắng người… “Đêm chớm ngày tàn” thể hiện một bức tranh động, mơ hồ, ở đó có thể nghe cả tiếng xe hối hả về viễn phố cuối ngày. Rồi sương rơi, đêm xuống, bên cạnh những bãi đất dài hoang vu tối tăm và nghĩa trang buồn ở nơi xa ánh đèn phố thị này, chợt nghe tiếng gõ guốc xa xa dồn giã, như là thanh âm của sự sống, là chút giao cảm của đồng loại, là sợi dây mỏng manh và yếu ớt kết nối giữa hoang liêu bãi tha ma hãi hùng này với những những rộn ràng của đô thành rực rỡ. “Người xa vắng người”là để diễn tả những linh cảm của nhà thơ về sự phân hóa của những người trong xã hội đang chớm hình thành. Đó là phân ly giữa người giàu và người nghèo, người sống và người chết… Sự tương phản đó được mô tả rõ nét hơn ở đoạn sau: Em có nghe dồn giãbước ai vất vảbóng ai chập chờn? Hồn ai cô đơn tìm về ấm cúngEm có nghe bi ai tình ai ấp úngThương ai lạc loàiăn mày xán lạn ngày mai… Hình dáng kẻ ăn mày chập chờn trong đêm tối, như là một bóng ma vật vờ trên lối nhỏ, lên tiếng ấp úng và van xin chút tình thương, lời cầu xin đó bi ai như tiếng của oan hồn. Đó là những hình ảnh ở nơi tối tăm, nghèo nàn nhưng đầy ắp lòng thương cảm ở “bên ni”. Tương phản với “bên nớ”, dù có những truy hoan dài theo chuỗi cười vô tận, nhưng đó là chuỗi cười theo “vạn mảnh ly tan”: Đêm ni ai say đất lở, em ơi có nghe rạn vỡVạn mảnh ly tan theo chuỗi cười…Bên tê thành phố tráng lệGiai nhân nằm khoe lõa thểBên ni phố vắng ôi lòng ngoại ô Có những sự tương phản ngay cả bên trong vẻ bề ngoài tráng lệ của bên tê, đó là của những trơ trẽn giai nhân khoe lõa thể, những truy hoan lạc bước, và nhìn lại “bên ni phố vắng” thì chỉ thấy một nỗi ngậm ngùi ngân dài… Em có nghe hồ như bước ai gõ nhịp bước ai giang hồ?Hẹn ai bên ni dài in ngõ cũEm có nghe bên ni lạnh như bên nớ?Phút giây chia lìa, trong lòng vẫn phải đèo mong… Hai tâm linh giam kín lạiBấm đốt ngón tay chờ đợiChờ ngày con thơ, thơ cũng ra đời Em ơi ngoài kia liếp ngõSương rơi ngoài song khép hởBên trong kín gió ấm ơi là tình. Đoạn cuối của bài hát được nhạc sĩ Phạm Duy “rút gọn” câu chữ cho hợp với nhạc nên ý nghĩa không được thông suốt, thành như là bức tranh trừu tượng, ẩn hiện một cách mơ hồ. Xin chép lại đoạn cuối của nguyên tác từ bài thơ: Em có nghe mơ hồBước ai thao thứcGõ nhịp hẹn hòIn dài ngõ cụt Bóng ai giang hồBên nớ bên ni đêm lạnh cảLạnh đêm mà chẳng lạnh vuông phòng Em ơi bên trongDù chia ly đôi phútĐồng mang nhớ đèo mong Hai tâm hồn giam kínBốn mắt xanh bịn rịnAnh ngồi làm thơAnh ngồi bấm đốt con thơ ra đời Bên ngoài liếp ngõ sương rơiBên trong kín gió ấm ơi là tình… Ở đoạn này, vẫn là tương phản với những ly tan của “bên nớ”, ở bên ni có những người nghèo khó, thiếu thốn, mà về tình cảm với nhau thì luôn luôn tràn đầy. Đêm khuya gió lạnh từng cơn, dù là bên ni hay bên nớ cũng đều lạnh cả, nhưng ở bên ni thì “Lạnh đêm mà chẳng lạnh vuông phòng”,và dù “bên ngoài liếp ngỏ sương rơi”thì bên trong vẫn“kín gió ấm ơi là tình”… Hình tượng “bấm đốt ngón tay” được nhà thơ Cung Trầm Tưởng giải thích như sau: “Thời đó tôi cũng có quen một cô thiếu nữ ở Huế và tôi mê lắm, cùng học trung học. Tôi có vợ chồng một anh bạn, cùng học một trường, anh có một đứa con sắp ra đời, và tôi là cha đỡ đầu cho đứa bé đó. Từ cảm hứng đó tôi mới làm bài này, trong có câu “bấm đốt ngón tay chờ đợi/chờ ngày con thơ, thơ ra đời”. Có lẽ cũng vì quen với cô thiếu nữ Huế, nên dù là một người gốc Bắc, thi sĩ dùng những chữ rất Huế trong bài thơ này, như là “bên ni, bên nớ, bên tê”. Ca khúcBên Ni Bên Nớđã được ca sĩ Julie Quang hát trước năm 1975, nhưng bài hát này chỉ thành công nhất là với tiếng hát Khánh Ly sau năm 1975. Cô thể hiện bài hát này thành công đến nỗi có lẽ vì vậy mà sau đó không có ca sĩ nào hát lạiBên Ni Bên Nớnữa. Bài hát có giai điệu mông lung, hoang hoải và đậm không khí liêu trai, hoàn toàn thích hợp với giọng hát liêu trai – Khánh Ly. Bài: Đông KhaBản quyền bài viết của nhacxua.vn Phạm Duy viết về mùa Xuân rất nhiều. Ở đây, tôi xin nêu một vài cảm nhận về mùa Xuân... Trong số những ca khúc viết thời đi kháng chiến của nhạc sĩ Phạm Duy, hầu hết là những ca... Những ca khúc tân nhạc viết về Mùa Xuân được sáng tác vào đầu những năm 1950 vốn không phải... Trong tân nhạc Việt Nam, nhạc sĩ Phạm Duy có thể không phải là người tài năng nhất, không phải... Sau đây là bài viết của cố danh ca Quỳnh Giao nói về Đường Chiều Lá Rụng, một ca khúc... Sau khi vào tới miền Nam, hát xong tại Sài Gòn, gánh hát Đức Huy khởi sự xuống Lục tỉnh.... © 2020NhacXua.VN- Nhạc Xưa Thời Báo.

Mơ về nơi xa lắm

Tác phẩm ra đời từ một đêm nhạc sĩ ngồi một mình bên khung cửa sổ tại Sài Gòn lộng gió nhìn về phương Bắc xa xôi. Nỗi nhớ người tình cũ hòa cùng dạ khúc đêm nay se lạnh đã chắp cánh cho ông viết nên những giai điệu Pop lãng mạn tinh tế gửi gắm khát khao sum họp ngọt ngào trọn đời.

Duyên kiếp

Ra đời trong bối cảnh xã hội chiến tranh chia cắt gặp nhiều ngăn trở duyên tình lứa đôi. Lam Phương mượn những nốt nhạc ngọt ngào để động viên những người yêu nhau hãy vững tin vào sợi chỉ đỏ duyên kiếp sẽ đưa họ trở về bên nhau sau bao tháng ngày dài mong mỏi ngóng trông chốn hậu phương.

Bến xuân

Nhạc sĩ Văn Cao đã soạn ca khúcBến Xuântừ 80 năm trước, khi ông thầm thương trộm nhớ nhưng không dám ngỏ lời với một nàng thiếu nữ xinh đẹp. Văn Cao từng tâm sự:“Ngày xưa tôi có thầm yêu một người con gái mà không dám nói ra. Nhưng người ấy hiểu lòng tôi và đến với tôi. Vì thế nên mới có câu hát “Em đến tôi một lần” và có bài hát này”. Người con gái ấy chính là nữ ca sĩ Hoàng Oanh, hoa khôi đất cảng Hải Phòng những năm đầu thập niên 1940. Trái ngược với hoàn cảnh nghèo khó, lay lắt của gia đình Văn Cao, cô tiểu thư Hoàng Oanh sinh ra một trong gia đình quyền quý, giàu có; vừa xinh đẹp lại vừa có giọng hát ngọt ngào khiến bao chàng trai si mê, đeo đuổi. Trong những người theo đuổi, si mê Hoàng Oanh thời điểm bấy giờ có cả hai người bạn âm nhạc thân thiết của Văn Cao khi đó là nhạc sĩ Hoàng Quý và ca sĩ Kim Tiêu. Vốn tính cách nhút nhát, lại bị kẹt trong thế là cố vấn tình yêu cho hai người bạn thân, vốn đã nhiều lần nhờ Văn Cao làm thơ để tặng cho Hoàng Oanh, chàng nhạc sĩ Văn Cao dù cũng đã trúng phải tình yêu sét đánh với người đẹp ngay từ lần đầu gặp gỡ đầu tiên, vẫn chưa một lần dám hé lộ lòng mình. Tuy nhiên, là một người yêu âm nhạc, Hoàng Oanh từ chỗ yêu thích, say sưa với các sáng tác của chàng nhạc sĩ trẻ đã dần trở nên cảm mến và dành cho Văn Cao một tình cảm đặc biệt. Một lần nọ, người bạn của Văn Cao ngỏ ý tính chuyện lâu dài với Hoàng Oanh. Vốn sẵn có tình cảm với Văn Cao, lại biết Văn Cao cũng thầm để ý mình nhưng nhút nhát không dám tỏ ý, Hoàng Oanh trốn gia đình, một mình tìm đến nhà Văn Cao để xác nhận tình cảm của chàng nhạc sĩ. Khi Hoàng Oanh tìm đến nhà, Văn Cao đang mặc quần đùi áo cụt ngồi múc nước. Vừa thấy bóng dáng người đẹp, chàng nhạc sĩ đã vô cùng lúng túng, cuống quít chạy vào nhà thay đồ dài tử tế rồi mới dám ra tiếp chuyện. Vào thời đó, chuyện một nàng thiếu nữ dám đường đột tìm đến nhà một người con trai là một chuyện khá “tày đình”. Cuộc gặp gỡ diễn ra trong không khí ngượng ngùng, bẽn lẽn, cô gái xấu hổ không dám đề cập gì, chỉ trông chờ chàng nhạc sĩ ngỏ ý nhưng chàng nhạc sĩ cũng chỉ dám đáp lại bằng vẻ thẹn thùng, rụt rè vốn có. Con trai trưởng nhạc sĩ Văn Cao sau này tiết lộ:“Bên cạnh sự nhút nhát. Lúc đó gia đình ông bà nội đang nghèo, bố tôi lại chưa có điều kiện kinh tế để lấy vợ, lại là đến với con gái một nhà giàu có nên có thể ông sợ”. Chắc hẳn khi đó, việc cô gái tìm đến nhà đã là một cú sốc quá lớn với chàng nhạc sĩ. Một chuyện mà dù có mơ tưởng bao nhiêu lần chắc chàng cũng chẳng dám nghĩ đến sẽ thành sự thật. Dù mối tình ấy đã chẳng thể đi đến đâu nhưng lần đến thăm duy nhất ấy của người đẹp đã để lại trong lòng chàng nhạc sĩ những cảm xúc lâng lâng, ngây ngất, khó quên. Những cảm xúc tơ vương đẹp đẽ ấy ùa vào âm nhạc, tạo nên những giai điệu tình tự, nhẹ nhàng, lãng mạn, mỹ miều bậc nhất trong âm nhạc Việt – ca khúc Bến Xuân: Nhà tôi bên chiếc cầu soi nướcEm đến tôi một lầnBao lũ chim rừng hợp đàn trên khắp bến xuânTừng đôi rung cánh trắng ríu rít ca u ú ù u úCành đào hoen nắng chan hoà! Chim ca thương nhớ,Chim ngân xa u ú ù u úHồn mùa ngây ngất trầm vương, Dìu nhau theo dốc mới nơi ven đồiCòn thấy chim ghen lời âu yếmTới đây chân bước cùng ngập ngừng Nhạc sĩ Văn Cao từng kể, vào những năm 1940, gia đình ông còn rất nghèo, sống trong một căn nhà xiêu vẹo tại một xóm lao động nghèo bên bờ sông Cấm ở Hải Phòng. Vậy đó mà, chỉ“em đến tôi một lần”nhạc sĩ đã mơ màng như thể lạc vào cõi tiên. Cũng vẫn cảnh sắc đó, ngôi nhà thân thuộc đó của nhạc sĩ nhưng được phủ lên một thứ sắc màu huyền hoặc, mơ hồ, lóng lánh, thơ mộng. Những bước chân yêu kiều của nàng thiếu nữ tựa như bước chân của nàng xuân, đi đến đâu là không gian bừng sáng đến đó, lung linh rạng rỡ với chim ca ríu rít hợp đàn, ánh nắng chan hoà, muôn hoa khoe sắc thắm,… Giữa cảnh sắc mùa xuân thắm thiết, chan hoà ấy, chàng nhạc sĩ ngây ngất trong hương thơm“trầm vương”của nàng chúa xuân, ngỡ mình được sánh bước cùng nàng như đôi giai nhân – tài tử, cùng“dìu nhau theo dốc mới nơi ven đồi”,cùng mỉm cười nhìn lũ“chim ghen lời âu yếm”,cùng ngập ngừng, thẹn thùng khi tình xuân chớm nở. Trong bức tranh xuân tình tuyệt đẹp đó, chàng len lén nhìn nàng thật kỹ: Mắt em như dáng thuyền soi nướcTà áo em rung theo gió nhẹ thẹn thùng ngoài bến xuân Câu hát“mắt em như dáng thuyền soi nước”là một sự so sánh thật tinh tế, khéo léo của nhạc sĩ Văn Cao. Đó hẳn là một đôi mắt đen láy, với bờ mi tuyệt đẹp cong như dáng thuyền và lóng lánh như sóng nước khiến chàng nhạc sĩ si mê. Hình ảnh nàng thiếu nữ với“tà áo em rung theo gió nhẹ thẹn thùng ngoài bến xuân”như là một bức tranh mùa xuân tuyệt mỹ. Và cái sự “rung” của tà áo em ấy phải chăng cũng chính là trái tim của đôi người đang rung lên những xúc cảm tình yêu thẹn thùng, non tơ vừa chớm nở trên “bến xuân” tình thơ mộng. Click để nghe Hà Thanh hát Bến Xuân Đoạn điệp khúc là những lời ca dìu dặt, dịu dàng mà da diết, nao nao buồn vắng: Sương mênh mông che lấp kín non xanhÔi cánh buồm nâu còn trên lớp sóng xuânAi tha hương nghe ríu rít oanh caCánh nhạn vào mây thiết tha lưu luyến tình vừa qua Trong câu hát“Ai tha hương nghe ríu rít oanh ca”, nhạc sĩ dường như đã có chút ẩn ý bởi “oanh ca” ở đây chắc hẳn là ám chỉ người đẹp Hoàng Oanh và tiếng hát của cô. Tiếng hát đã khiến chàng nhạc sĩ si mê. Bức tranh chia ly được khắc hoạ rõ nét bằng những nét vẽ tài hoa, buồn mà đẹp. Trong bức tranh đó, hiện lên bóng dáng một chàng trai đang đứng trên bến sông, dõi mắt nhìn về phía xa xăm, nơi có bóng dáng nàng thiếu nữ đang dần xa khuất, mờ mịt trong làn sương mênh mông, xa xôi dần theo từng lớp sóng. Chàng đứng đó nhìn mãi nhìn mãi như khắc ghi khoảnh khắc đó, bóng hình đó vào sâu trong tim chàng cho đến khi chỉ còn thấy thấp thoáng “cánh buồn nâu” đưa nàng đi. Và từ đó, trên những cung đường “tha hương”, chàng vẫn mang theo bên mình bóng dáng của nàng, tiếng hát“ríu rít oanh ca”của nàng. Nàng đến với chàng tựa như“cánh nhạn vào mây”cao xa vời vợi, ẩn mật, thoáng đến rồi đi, không ngày tái ngộ nhưng vẫn“thiết tha lưu luyến”hoài mãi. Nhà tôi sao vẫn còn ngơ ngácEm vắng tôi một chiềuBến nước tiêu điều còn hằn in nét đáng yêuTừng đôi chim trong nắng khẽ ru u ú ù u úLệ mùa rơi lá chan hoà! Chim reo thương nhớ,Chim ngân xa u ú ù u úHồn mùa ngây ngất về đâu Bến Xuâncó lẽ là bức tranh mùa xuân đẹp nhất, “tiên cảnh” nhất, dịu dàng, lãng mạn nhất trong âm nhạc Việt, dù là trong cảnh sắc reo vui, tươi thắm khi nàng xuân tới hay trong cảnh sắc tiêu điều, sầu muộn, nhớ thương thì vẫn đẹp, vẫn cuốn hút một cách lạ lùng. Người đã đi xa, chàng nhạc sĩ vẫn đứng đó, đã bớt mơ màng, nhưng vẫn không thể tin những điều vừa xảy ra là sự thực, vẫn ngơ ngác như vừa trải qua một giấc mơ:“Nhà tôi sao vẫn còn ngơ ngác”.Nhưng “bến nước tiêu điều còn hằn in nét đáng yêu”,là dấu vết của nàng vẫn còn thoảng hoặc quanh chàng. Và chàng bàng hoàng nhận ra, nàng đã đến và đã đi xa thật rồi. Căn nhà, bến nước, cây lá, đàn chim đều ngẩn ngơ, thương nhớ, nhỏ lệ sầu buồn bởi biết rằng nàng sẽ chẳng bao giờ trở lại. Click để nghe Thái Thanh hát Bến Xuân trước 1975 Người đi theo mưa gió xa muôn trùngLần bước phiêu du về bến cũTới đây mây núi đồi chập chùngLiễu dương tơ tóc vàng trong nắngGột áo phong sương du khách còn ngại ngùng nhìn bến xuân Chỉ có chàng, dù đi xa muôn trùng, dù bao phen mưa vùi gió dập, dù áo phong sương lấm lem thì trong những bước chân phiêu du của người lữ khách vẫn sẽ lại tìm“về bến cũ”,vẫn mong cầu được gặp lạingười xưa trong nỗi“ngại ngùng”của thứ tình yêu ban sơ ngọt lịm chưa bao giờ phai dấu. Nhạc sĩ Văn Cao sau này từng thổ lộ:“Tôi là một cái người luôn luôn thất bại về tình yêu, cái thất bại này là bởi vì tôi là người không giỏi về cách tôi giao lưu với những người đàn bà, mà lại đối với những người đẹp tôi lại càng bối rối, tôi không bao giờ nói được với người ta, thì tôi bèn nói trong thơ thôi”.Nhưng có một điều mà nhạc sĩ Văn Cao có lẽ đã không nghĩ tới. Bởi nếu chỉ giỏi tán tỉnh, giỏi yêu thì thế giới này đã có muôn vạn đàn ông giỏi rồi, nhưng nói được điều đó trong thơ, trong nhạc đẹp tuyệt mỹ được như Văn Cao để rồi chiếm trọn bao trái tim phụ nữ suốt 80 năm qua thì có lẽ duy nhất chỉ có Văn Cao mới làm được. Mối duyên tình giữa Văn Cao và Hoàng Oanh dù chẳng thể đi đến đâu, dù chưa từng ngỏ lời ngỏ ý vẫn luôn là một giai thoại đẹp, lấp lánh, trinh nguyên trong lòng người hâm mộ qua nhạc phẩmBến xuân, một nhạc phẩm bất hủ của tân nhạc Việt. Nhạc phẩmBến xuântừ khi ra đời được rất nhiều giọng ca nổi tiếng chọn lựa thể hiện, nổi bật nhất phải kể đến tiếng hát của nữ ca sĩ Thái Thanh, Khánh Ly, Hà Thanh,… Bài: Niệm QuânBản quyền bài viết của nhacxua.vn Văn Cao đã khóc tiếng đầu tiên để chào cửa biển Hải Phòng với ngần ấy gia tài. Văn Cao... Cuối năm Dậu (1993), tác giả bài phỏng vấn này là Trần Hữu Tá cùng 3 bằng hữu khác đến... Bài viết sau đây của nhạc sĩ Phạm Duy viết năm 1987, nhận định, phân tích về nhạc tình ca... Cuộc đời và sự nghiệp của nhạc sĩ Văn Cao vốn gắn liền và hoà trộn với dòng chảy của... Nhạc sĩ Văn Cao (1923-1995) được xem là một trong những tân tuổi lớn nhất của tân nhạc vì những... Vào năm 1993, khi được hỏi về vợ là bà Nghiêm Thuý Băng, nhạc sĩ Văn Cao đã nói đại... © 2020NhacXua.VN- Nhạc Xưa Thời Báo.

Chuyện cô Tiên

Ba tôi qua đời bất ngờ năm 1964, nhỏ em út còn trong bụng Má. Tôi phải nghỉ học, tìm việc làm ngày đêm để phụ giúp Má tôi nuôi 6 đứa em còn nhỏ dại. Đầu năm 1965, tôi được mời đến dạy kèm Toán cho cô con gái lớn một gia đình người Việt ở Nam Vang. Mỗi ngày 2 tiếng, từ 7 đến 9 giờ tối, từ thứ Hai đến thứ Sáu. Em học trường Providence, còn gọi là trường Bà Phước, lúc đó chỉ dành cho nữ sinh. Em nhỏ hơn tôi một tuổi nhưng mới ở lại Cinquième, trong khi tôi đã đậu Brevet d’Études du Premier Cycle hai năm trước. Có lẽ vì là con gái nhà khá giả nên em hơi… làm biếng học, nhất là toán, géometrie và algèbre. Lúc đầu, tôi hơi nản lòng vì… em nhìn bài vở như thấy ma, tôi thường phải làm bài giùm em, nhưng từ từ em nghe lời tôi khuyên, chịu làm bài, chịu học bài, và được lên lớp mỗi năm. Đầu năm 1968, em học Troisième, chuẩn bị thi Brevet. Tôi kèm em từng môn, giúp em làm những bài vở mà đúng ra tôi không cần giúp. Em trả ơn bằng cách mời tôi ở lại ăn cơm tối. Tôi cho em mượn những quyển sách mà tôi đã học qua, trong một lần trả sách, em kèm theo tấm giấy chỉ viết một câu“cho moi làm amie intime của toi nha”. Tôi gật đầu vì sợ em giận, em không thèm học nữa. Từ đó, em hẹn tôi đi chơi cuối tuần, tôi cũng gật đầu với điều kiện là em phải xin phép Ba Má đàng hoàng và phải ráng học. Tôi biết em thương tôi, tôi cũng thương em. Tôi gọi em là “cô Tiên” vì em có dáng dấp qua cầu gió bay, có bước đi lả lướt nhẹ nhàng như các nàng tiên nữ trong vũ khúc nghê thường, vì em đã mang đến cho tôi những cảm xúc mà người trần gian chưa từng cho tôi trước đó. Những ngày mưa, không đi chơi được thì tôi ngồi hát em nghe bên mái hiên nhà: Một chiều cuối tuần mưa bay lất phất và mây trắng giăng giăngEm đến thăm anh vì trời mưa mãi nên không kịp vềBên anh, em lặng nhìn bầu trời và ánh mắt mộng mơSợ người yêu khóc, khe khẽ bên tai anh kể chuyện ngày xưa. Chuyện xưa kể rằng trên thiên giới ấy ngày vui kết hoa đăngThiên Quốc đang vui một nàng tiên nữ làm rơi ly ngọc ngàĐang say nên trời bèn đọa đày nàng tiên xuống trần gianLàm người dương thế không biết bao lâu mới được quay về trời. Em ơi nàng tiên ấy xuống dương trần một chiều mưa bay nhiềuVà vì thương trần thế, thương kiếp sống phong sươngNên dù rằng một hôm Thiên Quốc trời saiGom mây hồng làm xe đưa tiên vềTiên nói dối tiên còn đang giận trời nên tiên chẳng về đâu. Nàng tiên giáng trần không đôi cánh trắng giờ đang ngắm mưa bayĐang đứng bên anh thầm cầu mưa mãi cho tiên đừng vềAnh ơi lỡ mà trời gọi về thì tiên chẳng về đâu (Bài hát “Huyền Thoại Một Chiều Mưa”) Nhưng tôi luôn nhớ mình là con trai nhà nghèo, chỉ có chiếc Mobylette cà tàng làm chân đi kiếm cơm mỗi ngày. Em là con gái nhà khá giả, đi học có xe đưa rước, về nhà không làm động móng tay vì đã có chị bếp, chị bồi, chị vú lo toan mọi việc. Nếu hai đứa thành vợ thành chồng, em cực thân là cái chắc. Trong một lần kề vai nhau đi quanh công viên Chùa Tháp, trời bỗng dưng mưa. Tôi bật dù che hai đứa nhưng mưa càng lúc càng nặng hột, em bỗng xoay người lại ôm hôn tôi dưới mưa. Tôi than thầm trong bụng “gặp oan gia truyền kiếp rồi”.Năm đó, em thi đậu Brevet và tôi nghỉ dạy vì vừa xin được cái job thư ký kế toán ở hãng L’UCIA, Nam Vang. Lúc trước gặp nhau 5 ngày mỗi tuần, có nhiều thì giờ để nói với nhau những gì muốn nói. Giờ phải chờ đến cuối tuần mới được gặp nhau vài tiếng, nhớ ơi là nhớ. Tôi bắt đầu làm thơ “nhớ em”… Nhớ lúc xưa kia mới biết nhauRồi thương rồi nhớ suốt đêm thâuÐêm nào cũng vái cho mau sángNhớ quá trời ơi! Nhớ phát rầu. Nhớ những chiều em qua phố vắngDáng hồng xen lẫn bóng hàng cauMân mê vạt áo, em e lệNhững lúc anh nhìn, má đỏ au. Nhớ lúc mình đan tay đếm bướcEm run run hỏi: – Sẽ ra sao ?Anh cười, anh nói như đinh đóng:– Anh sẽ yêu em đến bạc đầu! Đưa bài thơ cho em, em bỏ túi nói sẽ về nhà đọc. Tuần sau gặp nhau, em không nhắc gì về bài thơ của tôi mà hỏi tôi nghĩ gì về cuộc sống hai đứa sau này.Tôi nói là nhà tôi nghèo, em nói em biết rồi, tôi phải đi làm giúp Má nuôi các em còn nhỏ, em nói em cũng biết rồi, nếu mình cưới nhau thì em sẽ cực thân hơn là sống với Ba Má em… Em trả lời làm tôi chưng hửng“hiện nay, cái khổ nhất mà “moi” phải chịu đựng hàng ngày là nhớ “toi”, cái cực nhất mà moi phải chịu đựng hàng ngày là làm sao để gặp toi sớm hơn, nên moi không sợ gì cả. Trời sanh voi sanh cỏ”. Tôi khuyên em nên kiên nhẫn, nói cho em hiểu lúc này là thời gian đẹp nhất trong cuộc tình hai đứa, cái nhớ cái thương bây giờ sẽ làm mình gắn bó nhau hơn sau này… Em nghe lời tôi và chuyện hẹn hò của chúng tôi kéo dài cho tới đầu năm 1970.Tướng Lon Nol lật đổ vua Sihanouk, tự phong là tổng thống xứ Kampuchea (Cao Miên). Một số người Miên quá khích thừa nước đục thả câu, “cáp duồn” (nghĩa là chặt người Việt) lẻ tẻ. Đang đêm, họ đến gõ cửa nhà người Việt ở những vùng thôn quê hẻo lánh. Một số người Việt không may đã bị họ cha.t đầu, xa’c thả trôi sông về tới Tân Châu, Hồng Ngự… Nhiều người Việt có chút của ăn của để ở Cao Miên bán tháo tài sản để về Miền Nam Việt Nam lánh nạn. Ba Má em cũng không ngoại lệ. Em gặp tôi bàn chuyện này. Tôi đem việc này hỏi ý kiến ông giám đốc hãng L’UCIA. Ông giám đốc đưa hai đứa tôi về biệt thự do hãng mướn cho ổng ở trên đại lộ Norodom, ngay trung tâm thủ đô Nam Vang. Ổng nói:“nhà tao có 2 người bồi bếp, có 2 con chó berger giữ nhà. Nhà có 5 phòng, tao ở chỉ một phòng. Nếu hai đứa thấy ở nhà mầy không an toàn thì đến đây ở với tao. Tao tin tưởng và cần thằng B. giúp tao giữ gìn sổ sách của hãng nên hai đứa mầy muốn ở phòng nào, muốn ở bao lâu cũng được”. Nghe vậy, chúng tôi yên tâm và quyết định ở Nam Vang dù Ba Má em có về Sàigòn. Em về xin Ba Má cho hai đứa làm đám cưới. Má em có cảm tình với tôi nên gật đầu. Ba em im lặng vì biết tôi nghèo, sợ con gái cưng của ông sẽ cực khổ khi về làm vợ tôi. Em nói với Ba Má em“nếu Ba Má không tổ chức đám cưới cho hai đứa con, tụi con sẽ tự lo. Con muốn làm vợ anh B. danh chánh ngôn thuận”. Và hai đứa tôi tự tổ chức lễ cưới của mình. Sáng ngày 24/02/1970, Má tôi và tôi mang trầu cau và phẩm vật đến xin cưới em. Chúng tôi lạy bàn thờ tổ tiên nhà em, xin quý ngài chứng giám cho chúng tôi thành vợ thành chồng. Tôi mướn xe Mercedes để rước “cô Tiên” xuống trần. Tối đến là tiệc cưới tại nhà hàng La Lune, đối diện State Olympic, với 200 quan khách, họ hàng và bạn bè nhà trai, nhà gái. Dĩ nhiên là có nhạc sống do mấy tên bạn tôi tự mang đồ nghề đến giúp vui. Đêm đó, hai đứa tôi khiêu vũ và cụng ly với bạn bè gần tới sáng. Sau ngày chúng tôi thành hôn thì tình hình chính trị giữa hai nước Kampuchea và Miền Nam Việt Nam biến chuyển dồn dập. Ông bà nhạc tôi và gia đình bay về Sàigòn vài ngày sau đó. Vợ chồng tôi vẫn ở Nam Vang. Tôi vẫn đi làm ở L’UCIA . Khi xa’c nhiều người Việt trôi về tới Hồng Ngự, Tân Châu, ông Nguyễn Cao Kỳ – lúc đó là Phó Tổng Thống VNCH – ra lệnh cho Quân-đoàn 3 tràn qua biên giới, lấy cớ là để “bảo vệ kiều bào VN”. Trung tướng Đỗ Cao Trí nhận lệnh với lời tuyên bố làm chấn động chính phủ Cao Miên:“Cho tôi 24 tiếng, tôi sẽ chiếm Nam Vang”. Ông Lon Nol nghe muốn té đa’i. Mới làm tổng thống có mấy ngày, nếu để QLVNCH chiếm Nam Vang thì mất mặt bầu cua. Ông gọi điện năn nỉ chính phủ VNCH đừng chiếm Nam vang nên Quân-đoàn 3 dừng lại ở Neak Luong (người Việt mình gọi là Hố Lương), một bến phà chỉ cách Nam vang 60 cây số. Nghe tin QLVNCH tràn qua biên giới, cả trăm ngàn kiều bào VN ở Cao Miên, trong đó có vợ chồng tôi, bỏ tất cả tài sản, dắt díu nhau vào các trại tị nạn. Các sân trường trung học, chùa, nhà thờ bỗng trở thành những trại tị nạn khổng lồ. Vợ chồng tôi vào trường Seminaire, nơi tôi đã học năm cuối chương trình Tú tài Pháp hai năm trước. Trong trại Seminaire, người ta chia ra nhiều nhóm, mỗi nhóm 10 gia đình, trước hết là để lãnh nước uống, sau là thức ăn, lúc đó chỉ có khô cá lóc do Red Cross cung cấp. Tôi làm trưởng nhóm 31. Đầu tháng 5/1970, ông Nguyễn Cao Kỳ bay lên Nam Vang, nói là thăm xả giao tướng Lon Nol nhưng thật sự là đi thanh tra các trại tị nạn. Tối đêm trước, tôi và các trưởng nhóm được lệnh phải thu tất cả những những gì có thể coi như là vũ khí gồm dao, gậy,… và cùng nhiều người thức gần sáng đêm để dựng cái sân khấu dã chiến. Khi ông Kỳ vào trại Seminaire, ông đến từng lều, bắt tay và hỏi thăm từng người. Điều làm mọi người chú ý là 2 anh đại-úy cận vệ. Họ cao hơn ông Kỳ 1 cái đầu, mặc đồ bay, mang súng ngắn dưới nách, nhưng không cản trở khi kiều bào đến bắt tay, thậm chí ôm hôn ông Kỳ. Ông Kỳ lên sấn khấu, nói vài lời thăm hỏi xã giao rồi hứa:“Tôi sẽ đưa tất cả đồng bào về quê hương!” Ông nhận được những tràng pháo tay như sấm động của mấy ngàn người trong trại Seminaire. Nhiều bà lão bò ra khoảng trống trước sân khấu lạy ông Kỳ như tế sao. Vài ngày sau, chúng tôi được phát thịt heo lần đầu, dù không ai biết ai cho nhưng mọi người nghĩ là từ chính phủ VNCH. Tuần sau, một đoàn “tàu há mồm” của Hải quân VNCH cặp bến sông Mekong. Danh sách từng nhóm được gọi để rời trại xuống tàu về nước. Vợ chồng tôi thuộc danh sách thứ 31 nên gần cuối tháng 5/1970 mới được rời trại. Sau 1 ngày lênh đênh trên sông Tiền (hay sông Hậu?) thì về tới trại Đồng Tâm, Mỹ Tho, lúc đó là hậu cứ của Sư-đoàn 7 BB. Vợ chồng tôi chỉ ở trại Đồng Tâm 5 ngày. Làm giấy tờ nhập cảnh xong thì Ba em lái xe xuống rước về Sàigòn. Cuộc sống chúng tôi từ ngày về Sàigòn không còn… tà tà như lúc ở Nam Vang. Cũng như tất cả Việt kiều hồi hương lúc đó, tôi được hoãn dịch 18 tháng. Thời gian không nhiều nên tôi làm ngày làm đêm. Em cũng đi làm. Cuối tuần hai đứa đưa nhau đi ăn mì xào dòn, hay ăn nghiêu luộc. Mỗi tối đi đàn về, tôi chạy thẳng vô Chợ Lớn mua cho em cái bánh bao Ông Cả Cần của Bà Năm Sa-Đéc. Lúc này em không còn thơ thẩn, mà ngược lại… em ăn rất bạo. Dù không nói ra, tôi biết em đang chuẩn bị cái bụng cho đứa con đầu lòng của chúng tôi, dù không biết lúc nào nó sẽ tượng hình. Nhiều người trong gia tộc hai bên thường trề môi nói“thằng B. con nhà lính tính nhà quan, mới ở Nam Vang về tay trắng mà vợ nó muốn gì được nấy”…. Mấy người này không biết là lúc còn độc thân, tôi đã đọc một câu định nghĩa “người phụ nữ lý tưởng” của 1 người đàn ông như sau:“Người phụ nữ lý tưởng của một người đàn ông là người bạn, người tình và là người vợ của người đàn ông đó”. Hồi đọc câu đó, tôi chưa gặp cô Tiên nên tôi đã tự hỏi ngược lại là “tôi có thể vừa là người bạn, vừa là người tình, và là chồng của vợ tôi không”. Ông nào muốn biết cái vụ này nó khó cỡ nào cứ thử cua một cô bạn gái rồi cưới cổ về làm vợ thì sẽ hiểu câu… “chưa thấy quan tài chưa đổ lệ”. Nhưng khi gặp rồi thương yêu cô Tiên, cái định nghĩa xưa tự nó cho tôi lời giải đáp. Lúc mới thương nhau, tôi thường kể em nghe chuyện bồ bịch của tôi lúc trước. Em chẳng những không ghen hờn, mà còn góp ý đôi khi rất tiếu lâm, rồi hai đứa cười hí hí. Lúc hai đứa đi chơi, gặp cô nào có “ngực tấn công, mông phòng thủ” là tôi hay quay lại nhìn, em im lặng nắm tay tôi, đợi cô đó đi khỏi tầm mắt mới hỏi“bộ toi hổng thấy cổ đi hai hàng hả?”. Khi vào tiệm bán sách, tôi có cái tật (hổng biết xấu hay tốt) là đứng hơi lâu trước mấy cái đặc san người lớn như PlayBoy. Em im lặng đứng bên tôi, đến khi rời tiệm sách em mới phê bình…“nhỏ này vú đẹp, cô kia mông teo…”. Chỉ khi đến kệ bày mấy cuốn Salut les Copains, em mới thò tay lựa cuốn mới nhất và tự ra quầy trả tiền. Em chưa bao giờ bắt tôi trả tiền những gì em mua cho riêng em. Em chưa bao giờ lớn tiếng hay dùng lời lẽ không lịch sự với bất cứ ai, dù đôi khi tôi hay ai đó vô tình hoặc cố ý làm em giận. Ba em nói với em “Ba thấy nó đi nhảy đầm, tay trái một con, tay mặt một con”.Em trả lời“những gì ảnh làm lúc còn độc thân là quyền của ảnh, con không cần biết (thật ra tôi đã kể em nghe hết rồi). Chỉ cần biết hiện giờ hai đứa con thương nhau thật lòng là được rồi”. Tết đầu tiên ở Saigon, 1971 Em có cách hôn, chỉ phớt nhẹ, làm tôi hồn phi phách tán. Khi thấy tôi buồn, em cầm tay tôi, xoa nhè nhẹ lên mu bàn tay, khiến tôi quên hết mọi phiền não. Sau này thành vợ thành chồng, em vẫn là người tình tuyệt vời. Em biết cách làm tôi quên những nghiệt ngã mà tôi đã trải qua trong ngày hôm đó. Em biết tiết kiệm, vén khéo với số tiền mà chúng tôi kiếm được. Em không se sua, dù luôn ăn mặc thanh lịch. Mỗi lần hai đứa ra đường là tôi phải ngó trước nhìn sau, coi có tên nào nhìn lén em không. Khi đứa con đầu lòng của chúng tôi chào đời năm 1972, em tự nguyện bỏ bớt chuyện mua sắm cho riêng mình, để có đủ tiền cho con chúng tôi bú sữa Guigoz 3 năm liên tục. Cô Tiên đã là một người bạn, một người tình và là người vợ tuyệt vời của tôi.Được một người vợ như cô Tiên, em muốn gì được nấy không có gì quá đáng.Bán nhà cho em cũng được, huống chi là ba cái lẻ tẻ. Tháng 4/1972, tôi hết hạn hoãn dịch, phải đi lính cho tới ngày tan hàng. Sau 75, có ngày hai đứa phải ăn sáng bằng… cơm nguội, nhưng em luôn dành 1 hoặc 2 đồng cho con chúng tôi có gói xôi nóng hay tô cháo huyết. Cực nhất là lúc chúng tôi về quê tôi sống từ năm 1976 đến năm 1979.Má tôi cho 2 công ruộng và nửa công vườn, đủ cho gia đình chúng tôi sinh sống, không cần phải đi làm mướn, làm thuê. Nhưng không may là hai năm 77-78, lũ lụt tràn vào ngập ruộng trước khi lúa chín. Nông dân vùng Tân châu đói thể thảm. May mà tôi cất nhà sàn, cao khoảng 1.5m, nên nước ngập lé đé sàn nhà. Nhiều nông gia ở nhà đất, phải kê tủ giường lên cao, có người kê giường tới gần đụng nóc nhà. Mỗi ngày, cô Tiên ngồi trên sàn nước, miệt mài câu từng con cá chốt, cá sặc, cá lòng tong. Tôi không dám nhìn lâu. Đến bữa ăn chỉ có món cá kho thập cẩm vậy mà thằng con khen “má kho cá ăn ngon”. Tôi mắc nghẹn từng hồi. Rồi cũng qua. Ở quê, em không cho con đi học, nói mấy ổng dốt mà dạy cái gì! Vợ chồng tôi thay nhau dạy con nói và viết tiếng Việt, tiếng Pháp. Bài học tiếng Việt đầu tiên là bốn câu thơ của ngài Lý Thường Kiệt : Nam quốc sơn hà Nam đế cưTiệt nhiên phận định tại thiên thưNhư hà nghịch lỗ lai xâm phạmNhữ đẳng hành khan thủ bại hư. Tiếng Pháp thì chúng tôi dạy con nói và viết những câu chào hỏi thông thường, không ngờ khi qua Úc nó học tiếng Anh nhanh hơn những bạn tị nạn khác nhờ tiếng Pháp và tiếng Anh có nhiều chữ giống nhau. Qua năm 79, tôi trúng mùa. Bán mấy chục giạ lúa, thêm chút tiền dành dụm, mua được cái ghe nhỏ, tính chuyện lớn. Khoang ghe chỉ vừa đủ cho hai người lớn và một đứa nhỏ chen vai nhau ngủ. Tôi không biết chèo, tập cả tháng sau mới chèo được 2 chèo. Em không biết lội nhưng nhất quyết đòi đi đến những nơi có thể cho chúng tôi thấy được tương lai. Em nói“mình đã sống mấy năm ‘có miệng không nói lại câm, hai hàng nước mắt chan dầm như mưa’. Đủ rồi, phải đi tìm tương lai cho mình và cho con”. Vậy là đi. Chèo từ Tân châu tới Long xuyên mất hai ngày. Nghỉ xả hơi một ngày rồi chèo tiếp tới Ô Môn, Cần Thơ, Ngã 7, Sóc Trăng, Hộ Phòng, Gành Hào, và sau cùng là ngã 3 cây Tàn. Ở ngã 3 cây Tàn hơn 1 tháng vì có người mướn tôi đào ao nuôi cá. Đào ao 1 tháng được 2 giạ gạo và một mớ tiền. Chúng tôi trở ra Gành hào vì thấy nơi này là nơi lý tưởng để ra đi. Tôi giấu dưới khoang ghe cái máy đuôi tôm, thường ngày không dám sử dụng, sợ người ta dòm ngó, định khi nào đi mới xài. Ở Gành Hào đêm trước, thì đêm sau bị bão. Mưa như trút nước, sấm chớp đầy trời. Chiếc ghe tôi lắc lư như người say rượu, nửa đêm đứt dây buộc sào trôi ra giữa sông. May là lúc đó nước lớn, nước từ ngoài biển đổ vô sông, nếu ngược lại thì có thể bão đã đưa chúng tôi qua Thái Lan hay hổng chừng… vô bụng cá. Tôi cột sợi dây quanh bụng, cố gắng lội vô bờ. Hình như… lúc không còn cái gì để sợ nữa thì mình mạnh hơn bình thường nên tôi đã kéo chiếc ghe tới dưới dạ cầu chợ Gành hào. Buộc dây ghe lại đàng hoàng là tôi ngã lăn ra thở dốc, lạnh run cầm cập. Em lau mình cho tôi và đưa tôi cái bánh bía, hổng biết em mua lúc nào, đúng là cô Tiên. Ăn cái bánh bía đêm đó, hương vị thơm ngon còn phảng phất tới bây giờ. Bye bye Gành hào, tôi gắn máy đuôi tôm chạy về Long Xuyên. Chúng tôi ở Long Xuyên gần 3 năm. Tôi làm bất cứ chuyện gì, miễn là lương thiện, để có tiền nuôi vợ con. Có lúc đạp xe lôi, có lúc vác lúa gạo ở các nhà máy xây lúa, có lúc làm tạp nhạp. Đến tháng 2/1982, em tìm được đường dây ra nước ngoài vừa với khả năng của vợ chồng tôi lúc đó. Cái may là chúng tôi chỉ đi một lần là tới Mã Lai. Ở Bidong 1 tháng rưỡi là được phái đoàn Úc nhận. Qua trại chuyển tiếp Sungei Besi2, ngoại ô Kuala Lumpur để khám bệnh, bổ túc hồ sơ. 3 tháng rưỡi sau là chúng tôi có list đi Úc. Chụp với vợ chồng ông quản lý Trung tâm tạm cư Tamarind, trong lễ Giáng sinh đầu tiên tại Úc năm 1982. Vài ngày sau khi đặt chân lên đất Úc, lúc đó chúng tôi chỉ biết tiếng Pháp chưa biết tiếng Anh. Em nói với tôi“moi không thích nhờ thông dịch, nhà mình phải có một người giỏi tiếng Anh, toi phải đi học. Moi sẽ đi làm nuôi toi và con”!Nghe ghê chưa? Mà em cũng không biết tiếng Anh thì đi làm cái gì? Em quên mình từng là một tiểu thơ được cơm bưng nước rót, em quên mình từng đi học có xe đưa rước, em quên mình là… cô tiên của tôi,. nên ai mướn gì làm nấy. Quét dọn nhà cửa cho người Úc, chăm sóc con em của đồng hương, làm chả giò bán sĩ (không biết em học ở đâu mà làm chả giò và đổ bánh xèo ngon nhất Darwin). Tôi cũng đi làm ban ngày, đi học ban đêm. Bảy năm ròng rã, tôi lấy được 2 cái Certificates về kế toán và quản trị địa ốc và xin được cái job “Security Administrator” tại trường đại học Charles Darwin University ở Darwin đầu năm 1985. Tôi làm việc tại CDU liên tục hơn 27 năm, đến khi nghỉ hưu cuối năm 2012. Em không đi học tiếng Anh một ngày nào nhưng sau này… lại làm thông dịch cho bạn bè, nhiều nhất là mấy cô lấy chồng Úc, mới qua Úc chân ướt chân ráo, tìm đến em nhờ giúp đỡ. Em chở họ đi làm hồ sơ nhập cư, điền đơn xin tiền an sinh xã hội… Bà xã tôi thương đồng hương nên ai nhờ thì giúp, cứ ăn cơm nhà vác ngà voi, không đòi hỏi ai phải trả đồng bạc nào dù biết làm thông dịch cũng được trả tiền. Mấy cô vợ Úc thương em lắm, cuối tuần là ghé nhà tôi xào xào nấu nấu … thật vui. Hỏi em mới biết, em học tiếng Anh bằng cách theo dõi các chương trình Play School trên TV. Chương trình này dạy con nít Úc nói/viết tiếng Anh để chuẩn bị vô mẫu giáo. Em đọc báo tôi mang về mỗi ngày. Không hiểu chữ nào, đoạn nào thì em hỏi tôi hay tra tự điển. Tiếu lâm nhất là khi bà hàng xóm nhờ em làm thông dịch. Bà này gốc Ý (Italy), có chồng gốc Tây Ban Nha (Spain). Bà ta đến Úc theo diện vợ chồng năm 1978 và không đi học ngày nào. Khi rảnh rỗi bà ta qua nói chuyện với bà xã tôi. Bà ta nói “broken english” với giọng Ý nên tôi và mọi người không ai hiểu cả. Vậy mà bà xã tôi hiểu nên mỗi lần bà hàng xóm cần đi bác sĩ, hay bất cứ cơ quan công quyền nào ở Darwin là qua năn nỉ nhà tôi theo làm thông dịch. Một năm sau ngày đến Úc, tôi được bầu làm tổng thư ký Hội Người Việt Tự Do tại Darwin, sau đổi tên thành CĐNVTD Bắc Úc cho tới bây giờ. Tôi dính với các sinh hoạt của CĐ mình cho tới năm 2017 mới rút chân ra được. Suốt thời gian này, bất cứ tôi làm cái gì đều có sự giúp đỡ, yểm trợ khi công khai khi âm thầm của cô Tiên. Đứa con thứ hai của chúng tôi chào đời năm 1984 tại Darwin. Nhìn em cho con bú, tắm rửa cho con, nâng niu thằng nhỏ như vàng như ngọc, tôi nhớ lại những ngày hai đứa mới thương nhau, mỗi lần bên nhau là bàn chuyện mai này… tôi viết bài thơ tặng em. Một chiều lãng đãng ánh tà dươngEm kể anh nghe chuyện mộng thườngĐôi mắt em nhìn xao xuyến quáNhư sao lấp lánh một trời thương. Từ đó đời mình hết lẻ loiĐan tay qua phố bước chung đôiEm cười rạng rỡ như tiên nữTiên nữ của anh – cũng được rồi. Từ đó đời mình ươm ước mơTừng đêm anh cắn bút làm thơMỗi dòng ôm ấp ngàn thương nhớThương nhớ lớn theo nổi đợi chờ. Từ đó mình bàn chuyện lứa đôiMai này, mình có hai con thôiTrưởng nam, phần nó lo hương hỏaEm nó, cô Ba – có rượu mời. Từ đó mình bàn chuyện cưới nhauAnh giành chọn áo cưới cô dâuMàu vàng, hoàng hậu lòng anh đóEm nói : – Màu hồng, áo cô dâu! Từ lúc về làm vợ của anhÂm thầm mình kết mộng ngày xanhTrưởng nam bật khóc, cưng như ngọcĐứa kế trai luôn, quý tựa vàng. Nhiều đêm nằm gác tay lên tránAnh cám ơn Trời, cám ơn emBảy nổi ba chìm mình chẳng ngánVì em có anh, anh có em. Từ năm 2005 đến năm 2015, chúng tôi tổ chức những bữa ăn cứu trợ Thương Phế Binh còn sống khổ sở nơi quê mình bằng cách… tổ chức BBQ tại nhà tôi. Thức ăn do bà xã tôi và vài người bạn thân cùng chung sức nấu nướng, tôi bỏ tiền túi mua bia và nước giải khát. Ăn uống free. Tôi để 1 cái “Thùng Cứu trợ” trên bàn, ai cho bao nhiêu, tôi gởi về VN giúp anh em thương phế binh bấy nhiêu, theo tiêu chuẩn mỗi người 100 Úckim. Vì số người Việt ở Darwin rất khiêm nhường, chỉ có vài trăm người, nên lúc đầu chỉ được vài ngàn. Từ từ, bà con tin tưởng nên khi có dịp đi ngang nhà tôi là họ bỏ tiền vô thùng thơ, không đợi đến Bữa ăn Cứu trợ. Gõ máy tới đây, bỗng nhiên làm biếng… không muốn gõ máy nữa, vì đang nhớ cô Tiên, nhớ quá xá nhớ. Cô Tiên của tôi đã về trời sau khi đã cùng sống chung với cha con tôi 43 năm, 3 tháng, 27 ngày hạnh phúc. Em quy tiên sau một cơn bạo bệnh. Từ một người mạnh khỏe bình thường, đúng 5 tuần sau thành người thiên cổ. Trong những ngày cuối của cuộc sống nơi dương thế, khi thấy hai con đứng nhìn em, nước mắt lưng tròng, em cầm tay con lắc lắc, mỉm cười nói: “Chúa cũng chết, Phật cũng chết, thì Má cũng chết. Má đã trả xong món nợ ân tình với Ba con và các con thì Má đi. Con trai khóc… xấu lắm”. Con tôi quẹt nước mắt… miệng cười méo xẹo. Trong Hospice Hospital, nơi dành cho những bệnh nhân… “terminally ill”, mỗi ngày có y tá đến đánh răng và lau mình cho em. Có một lần em cám ơn họ“Thanks so much for keeping my body clean. I know it’s shutting down”. Cô y tá người Úc trợn mắt nhìn em, rưng rưng nước mắt. Sau này, cô nói với tôi“Tao chưa thấy ai sắp chết mà còn lịch sự và tỉnh táo như vợ mầy”. Khi biết mình sắp trả xong cái nghiệp ở dương gian, em nắm tay tôi dặn dò phải tổ chức tang lễ em như thế nào. Thỉnh vị tăng ni nào chủ trì tang lễ, xong phải hỏa thiêu và chỉ giữ tro cốt 100 ngày. Sau đó mang tro cốt em rải trên sông Parramatta, đoạn gần Opéra House ở Sydney, là nơi em thích đi dạo mỗi lần đi thăm con. Em nói nhỏ nhẹ như đang lo tang lễ của ai khác. Tôi chỉ biết im lặng gật đầu, ráng kềm cho nước mắt đừng chảy ra. Tôi đã làm đúng theo lời em dặn. Từ ngày cô Tiên về trời, cha con tôi đứt ruột đứt gan, tan nát trong lòng. Tôi đã sống những ngày như người chết chưa chôn. Câu chuyện kể của thật của Buu Nguyen Ngày 22/8/2024, khi ở tuổi 61, Trường Vũ - ca sĩ nổi tiếng với các ca khúc "Thân phận nghèo",... Giai điệu Bolero, với xuất xứ từ các thể loại nhạc như Rumba, Habanera, Valse và Tango, đã du nhập... Việc tặng bông trong các buổi đờn ca tài tử đã trở nên phổ biến trong những thập kỷ gần... Trong bài hát "Chiều Trên Phá Tam Giang" của nhạc sĩ Trần Thiện Thanh có câu: "Giờ này Thương Xá... Trong những thập niên 1950, 1960 và 1970, hình ảnh những chiếc taxi hai màu xanh - trắng (hoặc vàng... Những ai từng học ở trường Đại học Văn Khoa xưa, nay là trường Đại học Khoa học Xã hội... © 2020NhacXua.VN- Nhạc Xưa Thời Báo.

Tuyệt Phẩm Thơ Phổ Nhạc

Xem tất cả

Kho Tàng Lưu Trữ

Tác phẩm tiêu biểu

Xem tất cả
Featured Story

Diễm xưa

Tổng quan “Diễm xưa” là tình khúc tiền chiến diễm lệ và nổi tiếng nhất của Trịnh Công Sơn, sáng tác năm 1960 tại cố đô Huế. Tác phẩm lấy cảm hứng từ...

Bài viết nổi bật
Mới cập nhật

Bao Giờ

Tác phẩm mới được tổng hợp và đưa vào hệ thống.

Tác phẩm
Mới cập nhật

Ba Mươi Năm

Tác phẩm mới được cập nhật vào kho lưu trữ kỹ thuật số.

Tác phẩm

Góc Kiến Thức

Ngày này năm xưa

Tháng 5 năm 2014: Hiện tượng "Chắc ai đó sẽ về" làm khuynh đảo các bảng xếp hạng V-Pop, đồng thời mở ra cuộc tranh luận lớn nhất về vấn đề bản quyền trong lịch sử âm nhạc Việt Nam.

Bạn có biết?

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại gia tài âm nhạc đồ sộ với hơn 600 ca khúc, trong đó phần lớn là các bản tình ca buồn.

Kỷ lục Âm nhạc

  • 🏆 Nghệ sĩ nam có nhiều MV trăm triệu view nhất: Sơn Tùng M-TP
  • 🏆 Cống hiến nhiều nhất: Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn

Kết nối nghệ sĩ & Tác phẩm

NETWORK HIGHLIGHT

Làn Sóng Xanh Era

Khám phá mạng lưới kết nối giữa các nhạc sĩ và ca sĩ định hình âm nhạc đại chúng Việt Nam những năm 1990-2000.

Khám phá bản đồ
Bộ sưu tập

Giai Thoại & Câu Chuyện

Những câu chuyện thâm cung bí sử, hoàn cảnh sáng tác phía sau những bài hát bất hủ.

Bộ sưu tập

Thơ Phổ Nhạc

Sự giao thoa tuyệt đẹp giữa thi ca và âm nhạc. Những bài thơ được chắp cánh bởi giai điệu.

Vintage sheet music and instruments
Bộ sưu tập đặc biệt

Giai đoạn vàng trước 1975

Một góc nhìn sâu sắc về các trào lưu âm nhạc đa dạng đã nảy nở tại Sài Gòn.