Phương Vy
update_topic(strategic_intent='Creating an encyclopedia entry for Phương Vy based on the provided data, following specified formatting and content rul...
Khám phá kho lưu trữ kỹ thuật số, nơi kết nối các thế hệ nghệ sĩ, câu chuyện đằng sau những bản nhạc bất hủ và mạng lưới tri thức âm nhạc sâu rộng.
update_topic(strategic_intent='Creating an encyclopedia entry for Phương Vy based on the provided data, following specified formatting and content rul...
Tổng quan Bài hát "Bao Giờ" do nhạc sĩ Đỗ Bảo sáng tác phần nhạc. Phần lời và năm sáng tác: Đang cập nhật. Nội dung nghệ thuật "Bao Giờ" mang đặc t...
Trình duyệt của bạn không cho phép chơi nhạc. Ba mươi năm - Võ Tá Hân phổ nhạc, Khắc Dũng trình bày...
Anh ngủ thêm đi - Nhạc: Hamlet Trương, Trình bày: Tâm Đoan Đang tải...Anh ngủ thêm đi anh, em phải dậy lấy chồng - Nhạc: Hamlet Trương, Trình bày: ...
Nhạc thiếu nhi...
Tổng quan Tên bài hát: Anh đứng đây là đâu Người sáng tác nhạc: Đang cập nhật Người viết lời: Đang cập nhật Năm phát hành: Đang cập nhật Nội dung n...
Rất nhiều những nhạc sĩ tên tuổi lớn của âm nhạc Việt Nam, phần vì cảm mến tiếng hát Lệ Thu, phần có lẽ để tri ân giọng ca đã góp phần thăng hoa những sáng tác của mình đã viết nhiều nhạc phẩm cho tiếng hát của nữ danh ca. Có thể kể đến một số ca khúc nhưNước Mắt Mùa Thucủa nhạc sĩ Phạm Duy,Xin Còn Gọi Tên Nhaucủa nhạc sĩ Trường Sa,Chiếc Lá Thu Phaicủa nhạc sĩ Trịnh Công Sơn,… Dù cả 3 ca khúc trên đều từng được nữ danh ca thể hiện, được phổ biến và yêu thích rộng rãi, nhưng khi nhắc đến tên Lệ Thu, người ta lại nhớ nhiều nhất đến ca khúcNước Mắt Mùa Thumà nhạc sĩ Phạm Duy sáng tác. Bởi ngay từ tựa đề ca khúcNước Mắt Mùa Thuđã có thể thấy ngay sự liên hệ với cái tên Lệ Thu. Trong một lần trả lời phỏng vấn, nữ danh ca cho biết:“Tôi lấy tên Lệ Thu vì tôi giấu gia đình. Thật ra tên đó nó không có trong tiềm thức của tôi nhưng tự nhiên nó bật ra, tôi không hiểu từ đâu”.Không ngờ rằng, chính cái tên tự nhiên rớt ra này kết hợp với tiếng hát buồn rơi, đầy cảm xúc của nữ danh ca đã trở thành nguồn cảm hứng âm nhạc cho các nhạc sĩ. Có ý kiến cho rằng, nhạc sĩ Phạm Duy viếtNước Mắt Mùa Thunhằm mục đích tri ân nữ danh ca đã có công hồi sinh và phổ biến ca khúcNgậm Ngùicủa ông. Danh ca Lệ Thu là nữ nghệ sĩ hiếm hoi mà tên tuổi thành danh không gắn liền với riêng một nhạc sĩ hay dòng nhạc nào. Nhắc đến Lệ Thu, người ta nhớ đến “tiếng hát vàng mười” chỉn chu, rõ đẹp. Tiếng hát đó từng được xưng tụng là một trong những giọng hát tình ca hay nhất của nền tân nhạc Việt Nam, đặc biệt là những tình khúc buồn. Lệ Thu hát chậm, rõ lời bằng chất giọng khàn nhẹ, sâu lắng và trầm buồn. Tiếng hát Lệ Thu khi hát những nốt cao, không chới với mà ngân vang đầy rung cảm. Hát về nỗi buồn mà cảm giác như cái buồn lận vào trong tim gan, rạn vỡ cả khối lòng băng giá. Ca sĩ Lệ Thu có lần nói:“Người nghe cảm nhận giọng của tôi có điều gì đó như uẩn ức. Thật ra, tôi là người biết làm chủ cảm xúc và diễn tả nó một cách tỉnh táo”. Nước mắt mùa Thu khóc ai trong chiềuBằng cây trút lá nghĩa trang đìu hiuTừng chiếc từng chiếc lệ khô vàng héoBuồn thương từng kiếp nằm trong mộ réo tên người đời quênNước mắt mùa Thu khóc thương triền miên Nhạc sĩ Phạm Duy vốn mang một tâm hồn âm nhạc phong phú, một đôi tai tinh tế, một tài năng âm nhạc thuộc hàng đầu trong tân nhạc Việt. Vậy nên, không có gì quá khó hiểu khi ông yêu và trân trọng giọng hát Lệ Thu đến như vậy.“Nước mắt mùa thu khóc ai trong chiều”,và Lệ Thu cũng chính lànước mắt mùa thu.Nhạc sĩ đã sử dụng thủ pháp “chơi chữ” để xưng tụng tiếng hát của nữ danh ca một cách khéo léo. Ông không nhắc đến tên người ca sĩ mang giọng hát buồn đến rơi lệ một cách riêng tư mà xưng tụng giọng ca nhưnước mắt mùa thucủa bà. Mùa Thu đã luôn mang một hình ảnh trầm buồn, sầu dâng man mác,nước mắt mùa thulại càng buồn hơn, bi luỵ hơn. Có lẽ chỉ với hìnhnước mắt mùa thuđẹp, sầu, buồn, bay bổng mới có thể diễn tả hết được vẻ đẹp của tiếng hát Lệ Thu. Với câu hát tiếp theo ta thấy có một sự liên tưởng khá độc đáo:“Bằng cây trút lá nghĩa trang đìu hiu”.Thì ra, nhạc sĩ nhìn những chiếc lá rơi nhanh trong khung cảnh nghĩa trang đìu hiu giống như là những giọt nước mắt của mùa thu đang đổ xuống: “Từng chiếc từng chiếc lệ khô vàng héo”.Những chiếc lá vàng khô rơi xuống tựa như những giọt lệ héo hắt, sầu buồn, vô vọng, buồn thương cho những kiếp người nằm dưới mộ, réo khóc những cái tên đã bị người đời lãng quên từ bao giờ. (Câu hát này thường bị nhầm chữ Bằng thành chữ Hàng:Hàng cây trút lá nghĩa trang điều hiu.Xem lại trong tờ nhạc, và nghe lại bản thu âm đầu tiên của Lệ Thu thì nghe rõ chữ BẰNG. Tuy nhiên trong 1 bản thu âm sau 1975, chính Lệ Thu cũng hát nhầm thành HÀNG) Và đây cũng lại giọng ca như“nước mắt mùa thu”ấy đang“khóc trong đêm dài”: Nước mắt mùa Thu khóc trong đêm dàiMùa mưa chới với tiếng mưa buồn rơiNgười xây ngục tối tình yêu lừa dốiGiọt mưa tìm tới để chia lầm lỗi với người hoài trinhNước mắt mùa Thu khóc cho cuộc tình Click để nghe Lệ Thu hát Nước Mắt Mùa Thu qua phần hòa âm của Trúc Hồ Ở đây ta bắt gặp tiếng hát của người ca sĩ ngân lên trên khúc nhạc tình buồn, tựa như tiếng khóc ỉ ôi, thê thiết trong một đêm dài dằng dặc.“Mùa mưa chới với tiếng mưa buồn rơi”là một hình ảnh so sánh rất sáng tạo của nhạc sĩ. “Mùa mưa” mà cũng phải “chới với”, phải “ngỡ ngàng” với tiếng hát như “tiếng mưa buồn rơi” của người nghệ sĩ. Và trong tiếng hát như “nước mắt mùa thu” ấy, hàng loạt những hình ảnh u buồn, tăm tối, thê lương nhất của một cuộc tình tan vỡ lần lượt hiện ra cấu xé tâm hồn người nghe. Nước mắt mùa Thu khóc cho hạnh phúcMỏng manh vụt đến rồi tan tành, như trăng thanhNước mắt nào nguôi khóc cho đời mất thần linhRồi, người xa người (tôi xa tôi). Rồi khi tiếng hát ấy“khóc cho hạnh phúc”cũng rất đỗi tinh tế, trầm sâu, giằng xé giữa những dòng cảm xúc. Thứ hạnh phúc “mỏng manh vụt đến rồi tan tành, như trăng thanh”. Như trăng thanhlà một hình ảnh rất đắt, rất thơ mộng, quý hiếm và thanh thoát lạ kỳ. Nếu nhạc sĩ Trường Sa viết về tiếng hát Lệ Thu bằng những ngôn từ thật đẹp, gần gũi và giản dị:“tiếng hát bay trên hàng phố bâng khuâng”, thì nhạc sĩ Phạm Duy đã chọn một chỗ đứng thoáng rộng hơn để có thể nhìn bao quát hơn, xưng tụng tiếng hát của người ca sĩ một cách sâu sắc trong nhiều cung bậc cảm xúc. Trong âm nhạc Việt, đây có lẽ là ca khúc hiếm hoi mà người nhạc sĩ liên tục xưng tụng tiếng hát của người ca sĩ bằng những thanh âm thánh thót, những hình ảnh diễm lệ, bay bổng trong sự thấu cảm sâu sắc. Nước mắt mùa Thu khóc than một mìnhMột đời ca sĩ hát trong buồn tênhGiọng ca buồn bã vào trong đời úaThời gian còn đó còn thương còn nhớ hoàiTrời ơi nước mắt mùa Thu khóc thân phận mình Những âm giai bay bổng, tỉ mỉ, tinh tế của nốt nhạc hoà với những lời ca sâu sắc, mê đắm đã kéo người nghe đi qua rất nhiều giai tầng cảm xúc trong tiếng hát của“nước mắt mùa thu”, nhưng có những tầng bậc thanh âm trong tiếng hát ấy không phải ai cũng nghe được. Đó là tiếng“khóc than một mình”,khóc cho“một đời ca sĩ hát trong buồn tênh”. Những tiếng hát khóc cho đời, cho người thì dễ được đồng cảm, được lắng nghe, được thăng hoa, xưng tụng nhưng những tiếng hát lặn vào trong tim, khóc cho thân phận của chính những người ca sĩ thì lại lặng lẽ,“buồn bã vào trong đời úa”,và vang vọng mãi hoài. Câu hát “trời ơi, nước mắt mùa thu khóc thân phận mình”bật ra đầy chua chát, đắng cay. Những người ca sĩ, nghệ sĩ trong mắt người đời luôn là những người“thương vay khóc mướn”nhưng rất nhiều lần trong những giọt“nước mắt mùa thu”của họ lại là nước mắt, là tiếng lòng thực sự nhưng không thể sẻ chia, chỉ có thể thể ngậm ngùi chua xót“khóc thân phận mình”. Click để nghe Lệ Thu hát Nước Mắt Mùa Thu trước 1975 Danh ca Lệ Thu trong một lần về nước biểu diễn, đã từng trả lời phỏng vấn về ca khúc này như sau: “Đúng là nhạc sĩ Phạm Duy viết bài hát này để tặng cho tôi, nhưng đó là cảm nhận của riêng ông. Đôi khi dưới ánh đèn màu mình có một cuộc sống khác, nhưng như tôi đã nói, cuộc sống của tôi không “buồn tênh” lắm đâu”. Tuy nhiên, về cuối đời, nhạc sĩ Phạm Duy có lần tâm sự:“Tôi soạn Nước Mắt Mùa Thu không phải để dành tặng riêng cô Lệ Thu đâu”mà “Bài hát nói về tất cả những phận người, trong đó có cả những người ca sĩ không tên không tuổi, một đời phải hát trong buồn tênh…”. Từ lời giải thích của nhạc sĩ Phạm Duy, có thể hiểu ông viết ca khúc này tặng cho tiếng hát Lệ Thu, chứ không phải viết riêng cho cuộc đời Lệ Thu. Nhạc sĩ chỉ mượn cái tên Lệ Thu, mượn tiếng hát Lệ Thu giống như một đại diện cho thân phận những người nghệ sĩ chìm trôi trong số mệnh cuộc đời. Người nghệ sĩ dù là thành danh trên sân khấu hay vô danh với“một đời ca sĩ hát trong buồn tênh”đều cũng sẽ có lúc ngậm ngùi“khóc thân phận mình”. Nhạc phẩmNước Mắt Mùa Thukhông chỉ gắn liền với tên tuổi Lệ Thu, mà còn được danh ca thể hiện rất nhiều lần trên sân khấu ca nhạc trước và sau năm 1975. Riêng về thu thanh, Lệ Thu có ít nhất 7 bản thu cho ca khúc này (không tính bản live). Ngoài Lệ Thu, ca sĩ Khánh Ly cũng đã thể hiện rất thành công ca khúc. Bài: Niệm QuânBản quyền bài viết của nhacxua.vn Phạm Duy viết về mùa Xuân rất nhiều. Ở đây, tôi xin nêu một vài cảm nhận về mùa Xuân... Trong số những ca khúc viết thời đi kháng chiến của nhạc sĩ Phạm Duy, hầu hết là những ca... Những ca khúc tân nhạc viết về Mùa Xuân được sáng tác vào đầu những năm 1950 vốn không phải... Trong tân nhạc Việt Nam, nhạc sĩ Phạm Duy có thể không phải là người tài năng nhất, không phải... Sau đây là bài viết của cố danh ca Quỳnh Giao nói về Đường Chiều Lá Rụng, một ca khúc... Sau khi vào tới miền Nam, hát xong tại Sài Gòn, gánh hát Đức Huy khởi sự xuống Lục tỉnh.... © 2020NhacXua.VN- Nhạc Xưa Thời Báo.\n\n--- Tư liệu bổ sung từ Hợp Âm Việt ---\n\nDanh ca Lệ Thu: Sự nghiệp lẫy lừng, đời tư lận đận Lệ Thu hay nước mắt mùa Thu
Năm 21 tuổi, nhạc sĩ Vũ Thành An ra mắt ca khúc đầu tiên với khán giả yêu nhạc là bàiTình Khúc Thứ Nhất(thơ Nguyễn Đình Toàn). Từ đó về sau, Vũ Thành An luôn là một trong những nhạc sĩ tiêu biểu của dòng nhạc trữ tình Việt Nam. Một năm sau đó, ông tiếp tục ra mắt ca khúc có thể xem là bài nổi tiếng nhất trong sự nghiệp của mình:Bài Không Tên Cuối Cùng,được sáng vào tác năm 1965 để từ giã mối tình sâu đậm với 1 nữ sinh viên trường Luật. Tuy làBài Không Tên Cuối Cùngnhưng lại được sáng tác đầu tiên, với ý nghĩa đó sẽ là nỗi đau cuối cùng. Thời gian sau đó, nhạc sĩ Vũ Thành An viết thêm một loại bài không tên khác được đánh sốBài Không Têntừ số 1 đến số 9. Tất cả đều được công chúng đón nhận và yêu thích suốt 50 năm qua. Sau năm 1975, nhạc sĩ Vũ Thành An viết thêm nhiều ca khúc không tên khác nữa, trong đó nổi tiếng nhất là bài số 12 (Bên Nhau Chiều Gió Lộng), bài số 37 (Rưng Rưng Lệ), và đặc biệt là bài số 40, được mang tênĐời Đá Vàng. Ca khúc này được Vũ Thành An hoàn thành năm 1993 tại Hoa Kỳ, nhưng trong hồi ký của mình, ông kể rằng những lời hát đầu tiên củaĐời Đá Vàngđã được hình thành từ năm 1974. Khi đó ông mới 31 tuổi nhưng đã đạt được những thành tựu lớn về danh vọng mà nhiều người phải mơ ước. Năm 30 tuổi, Vũ Thành An đã là Trưởng Ty Thông Tin Gia Định. Năm 31 tuổi, ông nhậm chức Vụ trưởng Vụ văn hóa, trải qua nhiều vị trí như Giám đốc báo chí, Chánh sở Chương trình kiêm Chánh sở kế hoạch của Đài phát thanh Sài Gòn, đồng thời đã là một nhạc sĩ nổi tiếng đã gần 10 năm. Đường công danh rực rỡ như vậy, nhưng cũng chính thời điểm đó, một đôi lần ông vẫn cảm thấy đời mình chông chênh như là bị mất phương hướng. Trong hồi ký của mình, nhạc sĩ Vũ Thành An nói rằng vào một ngày của khoảng cuối năm 1974, ở một mình trong gian phòng với tâm trạng tồi tệ, ông đứng nhìn vách tường thẳng đứng trước mắt, cảm tưởng như mình là con thạch sùng đang bò trên vách dựng, rồi những câu hát vang lên trong đầu: Ta lần mò leo mãi không qua được vách sầuTa tìm một tiếng yêu thấy toàn là sầu đauƯớc vọng ngày thơ ấu chưa xin được chút nàoSuốt đời còn ước ao khát vọng còn cấu cào Vì sao một người mới 31 tuổi, đã có tất cả hào quang danh vọng như Vũ Thành An, nhưng lại tự thấy mình như một con thạch sùng nhỏ bé không leo nỗi qua vách sầu của cuộc đời, và mang suy nghĩ rằng“ước vọng ngày thơ ấu chưa xin được chút nào”? Có lẽ sẽ không ai trả lời được câu hỏi đó, cho đến khi gần đây, chính nhạc sĩ đã lên tiếng giải thích về những câu hát này. Ông nói rằng thói đời thường là con người có tham vọng rất lớn. Người có quyền thì say mê quyền lực, người có của thì luôn tham lam muốn nhiều hơn nữa, không bao giờ có giới hạn. Vì vậy, với nhiều người, những thành tựu có được không bao giờ là đủ, bao giờ cũng thấy thiếu, nên suốt đời vẫn còn ước ao, khát vọng vẫn luôn cấu cào. Trong một phút giây nào đó nghĩ về thời thế, nhạc sĩ Vũ Thành An đã buông lời thở dài: Ôi thôi, đời ta phung phí trong cơn buồn phiềnTa xin tháng ngày rồi bình yênÔ hay tại sao ta sống chốn nàyQuay cuồng mãi hoài, có gì vui? Tuy nhiên bài hát này chỉ dừng lại ở đó, với những lời than van không đoạn kết, nhạc sĩ dự định khi nào có cảm hứng sẽ viết tiếp. Không ngờ rằng bài ca bị dang dở đến gần 20 năm. Sau năm 1975, vì có chức vụ quản lý về báo chí, truyền thông trong chính quyền cũ, nhạc sĩ Vũ Thành An bị giam giữ đến 10 năm. Năm 1985, ông được tự do trở về thì gia đình đã ly tán, vợ và con đã ở bên kia bờ đại dương. Năm 1986, ông gặp một người phụ nữ khác, đã góa chồng từ năm 1972, bà ở vậy để nuôi con suốt 15 năm với sự tất cả sự vất vả, chịu thương chịu khó, xây dựng cuộc sống bằng đôi tay mềm yếu vào thời điểm mà ai cũng gặp rất nhiều khó khăn. Thương người đàn bà hiền hậu, giỏi giang, Vũ Thành An đã hỏi cưới chỉ sau 1 năm quen nhau. Năm 1991, họ sang định cư tại Hoa Kỳ. Sau 2 năm vất vả xứ người, vào một ngày mùa đông năm 1993, ở trong căn phòng nhìn ra ngoài trời mưa tuyết lạnh giá, sau khi trải qua một đoạn đời đau thương, Vũ Thành An có tâm trạng để viết tiếp và hoàn thành đoạn cuối của ca khúcĐời Đá Vàng: Có một lần mất mát, mới thương người đơn độcCó oằn mình đớn đau, mới hiểu được tình yêuQua dầm dề mưa tuyết, mới vui ngày nắng vềCó một thời khóc than, mới hiểu đời đá vàng. Ông đã viết đoạn cuối bài hát dang dở của 20 năm trước đó để nói về người vợ hiện tại của mình. Cả hai đều đã đi qua những mất mát, đau thương, nên càng trân trọng thêm cuộc sống, và biết “thương người đơn độc” cũng giống như mình. Lời hát này chính là lời cảm thông dành cho nhau. Click để nghe Tuấn Ngọc hát Đời Đá Vàng Để hoàn thành được bài hát, nhạc sĩ đã trải qua nhiều mối tình, nhiều thăng trầm nổi trôi của kiếp sống, đã cảm nhận được hết những nỗi đau của đời người, của những cuộc tình, để hiểu ra rằng chỉ có qua dầm dề mưa tuyết thì mới được vui ngày nắng về, và có oằn mình đớn đau mới có thể hiểu được tình yêu. Chỉ khi vượt qua được những gian nan trong cuộc sống, người ta mới hiểu rõ được giá trị và trân trọng cuộc sống bình yên đang có. Về ý nghĩa của tựa đề bài hát “Đời Đá Vàng”, nhạc sĩ Vũ Thành An giải thích rằng Đá nghĩa là sự buồn tủi, nỗi đau khổ, còn Vàng là niềm hân hoan hạnh phúc. Đời Đá Vàng có nghĩa là cuộc sống của bất kỳ ai cũng luôn tồn tại song song nỗi khổ đau và niềm hạnh phúc. Vì vậy ai cũng nên mở lòng để đón nhận những yêu thương hạnh phúc lúc nào cũng ở cạnh bên mà có thể chúng ta không nhận thấy, từ đó có thể vơi đi được những nỗi khổ đau của một kiếp người. Nói thêm về người vợ thứ 2 của nhạc sĩ Vũ Thành An, bà tên là Nguyễn Thị Vân, sinh năm 1946, lập gia đình lần thứ nhất năm 1967 với một sĩ quan Pháo Binh và có 2 người con. Năm 1972 chồng hy sinh, bà Vân ở vậy nuôi con. Năm 1986, nhạc sĩ Vũ Thành An được gặp bà Vân, thương tấm lòng trung trinh của bà cũng như việc quán xuyến nuôi dạy 2 con nên người, 2 người đã kết nghĩa trăm năm. Bà Vân luôn ủng hộ chồng trong mọi sinh hoạt tôn giáo và từ thiện cũng như âm nhạc từ đó cho đến nay. Bà cũng là người đầu tiên nghe những sáng tác mới của Vũ Thành An và đóng góp ý kiến. Bài: Đông KhaBản quyền bài viết của nhacxua.vn Nhạc sĩ Vũ Thành An là một trong những nhạc sĩ tiêu biểu nhất của dòng nhạc trữ tình miền... Trong sự nghiệp sáng tác âm nhạc có được nhiều thành công của nhạc sĩ Vũ Thành An, có thể... Trong số những bài nhạc không tên được nhạc sĩ Vũ Thành An sáng tác trước 1975, thì bài được... Cũng như Bài Không Tên Số 6, nhạc sĩ Vũ Thành An nói rằng Bài Không Tên Số 7 không... Trong loạt bài đã đăng về những bài không tên bất hủ của nhạc sĩ Vũ Thành An, chúng tôi... Đêm sâu mái tóc em dài Buông xuôi, xuôi theo dòng đời Mà đời dài như tiếng kinh cầu Còn... © 2020NhacXua.VN- Nhạc Xưa Thời Báo.
Mặc dù nhạc sĩ Dương Thiệu Tước theo học nhạc Tây từ thuở nhỏ, nhưng từ thời kỳ cuối thập niên 1940, nhạc của ông thấm đẫm tính dân tộc. Lúc sinh thời, ông từng nói: “Theo tôi tân nhạc Việt Nam phải thể hiện rõ cá tính Việt Nam. Để đạt được điều này, người sáng tác phải hiểu rõ nhạc Việt qua cách học nhạc cụ cổ truyền cũng như hát được các điệu hát cổ truyền”. Điều đó được thể hiện rõ qua các ca khúc nhưƠn Nghĩa Sinh Thành, Đêm Tàn Bến Ngự, đặc biệt làTiếng Xưacủa nhạc sĩ Dương Thiệu Tước. Click để nghe Thái Thanh hát Tiếng Xưa trước 1975 Ca khúcTiếng Xưalà những tâm sự bàng bạc của một người lữ khách khi đứng trước những thành quách cũ rêu phong đã thành phế tích, cảm nhận được những oai linh uy vĩ, người nhạc sĩ chợt nhớ về câu chuyện Tỳ Bà Hành của Bạch Cư Dị năm xưa, và nghe như khúc nghê thường vọng về từ ngàn năm trước: Hoàng hôn lá reo bên thềmHoàng hôn tơi bời lá thuSương mờ ngậm ngùi xuân xanhBâng khuâng phím loan vương tình Click để nghe Giao Linh hát trước 1975 Khung cảnh của bài hát được giới thiệu là một buổi hoàng hôn với lá thu rụng tả tơi bên thềm, xa xa là sương mờ giăng khuất lối. Một cảnh gợi buồn và làm lòng người bâng khuâng, vương tình lên những phím loan. “Phím loan” là một từ cổ, có nghĩa là cung đàn, mà ở phần sau đó nhạc sĩ nhắc lại trong câu hát“cung đàn nhỏ lệ Tầm Dương”. Đâu bóng trăng xưa mơ khúc nghê thườngPhai tàn một thời liệt oanhxa đưa gió may lạnh lùng… Bài hát này được nhạc sĩ Dương Thiệu Tước viết trong hoàn cảnh ông thường xuyên đi về giữa Hà Nội và Huế để tìm hiểu về những làn điệu dân nhạc và cổ nhạc xa xưa. Huế với những phế tích u buồn trầm mặc suốt trăm năm, làn gió heo may lạnh lùng như từ cõi nào xa xăm thoảng qua hồn người lữ khách, mang theo cả linh khí của những đấng quân vương đã một thời liệt oanh còn in hằn trên những rêu phong thành quách, như khúc nghê thường bàng bạc sương khói mông mênh của những ngày xưa cũ. Trước cảm giác có vẻ rất mơ hồ, nhưng trong lòng người lại cảm nhận được sự đau xót thực sự, và 2 dòng châu đã tuôn trào niềm xót xa trong tâm khảm: Chiều thu nhớ nhung vì đâu,Thắm đôi giòng châuTiếc thay tại sao đành lỡ làng Man mác khói hương bay dịu dàngNhư tóc mây vươngDáng liễu mơ màngCung đàn nhỏ lệ Tầm Dươngai đó tri âm biết cùng. Nhạc sĩ Phạm Duy từng có nhận xét về tân nhạc thời kỳ đầu, đại loại, ông nói rằng cả một dòng nhạc tiền chiến được “thoát thai từ Đường thi”. Và nhạc sĩ Dương Thiệu Tước (rồi sau này là Đoàn Chuẩn, Cung Tiến, Nguyễn Văn Đông…) đã thường xuyên đưa những điển cố, điển tích vào trong âm nhạc. Click để nghe Hoàng Oanh hát trước 1975 Với bàiTiếng Xưa,nhạc sĩ Dương Thiệu Tước đã sử dụng nhiều hình ảnh trong bài thơ Tỳ Bà Hành của thi sĩ Bạch Cư Dị, và có thể nói rằng Tầm Dương đã vượt thoát ra khỏi một địa danh cụ thể ở bên Trung Hoa để trở thành Tầm Dương chung của muôn triệu lòng người. Trước đó, những hình ảnh như “bóng trăng”, “khúc nghê thường”, “giòng châu” hay “ai đó tri âm” cùng đều liên quan đến bài thơ “Tỳ Bà Hành” nổi tiếng. Bến Tầm Dương từ thơ của Bạch Cư Di với nét phong sương lãng đãng của tài tử cùng nỗi sầu của người kỹ nữ truân chuyên vì đã quá tuổi và nhan sắc tàn tạ. Trong hơi thu quạnh quẽ vào lúc đêm tàn, người kỹ nữ dáng liễu mơ màng rung lên khúc nghê thường để mong tìm chút đồng cảm tri âm của người khách qua đường. Lần thứ nhất, tiếng tỳ bà mời khách vang lên từ xa “nghe vẳng bên sông” hòa với hơi thu, với tiếng lau lách đìu hiu. Lần thứ hai, tiếng tỳ bà réo rắt với bao thanh âm huyền diệu nhặt khoan, sầu thương giữa tiệc hoa. Lần thứ ba, tiếng tì bà ai oán rung lên cuối tiệc rượu. Tiếng đàn người kỹ nữ, chén rượu tiệc hoa, giọt lệ trên chiếc áo xanh lam của quan Tư Mã trong đêm thu tượng trưng cho những phận người gian truân và chìm nổi ở trên đời. Hơn 1000 năm sau đó, nhạc sĩ Dương Thiệu Tước đứng giữa trời đất và thành quách xưa cũ, nghe gió thu về vọng âm như khúc nghê thường năm xưa, chính là Tiếng Xưa đã làm dâng lên bao nhiêu niềm xúc cảm. Click để nghe Thanh Thúy hát trước 1975 Bài hát này còn được nhạc sĩ Dương Thiệu Tước viết lời 2 như sau: Hoàng hôn gió sương lạnh lùngHoàng hôn bao niềm nhớ nhungThiết tha đàn rung tiếng tơVấn vương trôi theo mây mờ Đâu khúc cô liêu duyên dáng tiêu điềuDư âm chìm theo giòng châutràn lan sóng vương mạch sầu. Đàn ôi thiết tha vì đâutiếng xưa trầm ngâmlắng rung đường tơ bao mơ màng Lưu luyến hương thu thêm dịu dàngAi có hay chăngSay khúc ưu tư,gió sương chiều thu buồn mơAi đó tri âm hững hờ. Bài: Đông KhaBản quyền bài viết của nhacxua.vn Nếu Dương Thiệu Tước là người viết ca khúc khêu gợi nhất từ thời “tiền chiến”, thời phôi thai của... Nhạc sĩ Dương Thiệu Tước sinh năm 1915, là một trong những người đầu tiên đặt nền móng cho tân... Trong gia tài đồ sộ những tác phẩm âm nhạc vượt thời gian của nhạc sĩ Dương Thiệu Tước, công... Nhạc sĩ Dương Thiệu Tước là nhạc sĩ thế hệ đầu của tân nhạc Việt Nam với những ca khúc... Nhạc sĩ Dương Thiệu Tước được ghi nhận là một trong những người đặt nền móng cho nền tân nhạc... Nhạc sĩ Dương Thiệu Tước - tác giả của những ca khúc nổi tiếng của thời kỳ đầu tân nhạc... © 2020NhacXua.VN- Nhạc Xưa Thời Báo.
Những ai từng sống ở Sài Gòn và miền Nam trước năm 1975 đến nay chắc là chưa thể quên được hương vị của bột ngọt và mì ăn liền Vị Hương Tố, thường được gọi là “mì cái tô”. Thập niên 1950, thị trường gia vị ở Sài Gòn được chiếm lĩnh bởi 2 thương hiệu lớn là Ajinomoto và Vedan. Nhưng qua thập niên 1960, thương hiệu bột ngọt của Việt Nam là Vị Hương Tố đã đánh bật các thương hiệu nước ngoài để chiếm toàn bộ thị trường. Ông chủ của Vị Hương Tố là một người Việt gốc Hoa tên là Trần Thành, vị tỷ phú xuất thân từ 2 bàn tay trắng trở thành người được gọi là “tỉ phú của tỉ phú”. Để đạt được những thành công tột bực và được ví như là “tỷ phú của tỷ phú Sài Gòn”, ông Trần Thành đã trải qua một quá trình dài với nhiều vất vả và khó nhọc vươn lên. Nhưng sau năm 75, gia tài của cả 1 đời phấn đấu của ông cũng tan thành bọt nước. Những năm đầu thập niên 1940, ông Trần Thành cùng gia đình lưu lạc từ Triều Châu sang Việt Nam tha phương cầu thực, gõ cửa các hãng xưởng của đồng hương ở Chợ Lớn để xin việc làm. Dịp may đến khi có một ông chủ họ Trịnh thu nhận Trần Thành làm công tại một cơ sở sản xuất dầu ăn. Cơ sở này chuyên thu mua đậu nành, đậu phộng đem về ép dầu thủ công. Công việc của Trần Thành là cọ rửa các thùng chứa, một công việc lao động phổ thông không cần trình độ với mức lương rẻ mạt. Như nhiều người Việt gốc Hoa khác, ông Trần Thành là người cần cù, chịu khó (tư sản người Hoa đóng vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế Sài Gòn trước 1975), lại còn luôn vui vẻ phụ giúp người khác mỗi khi xong việc của mình. Thái độ làm việc của ông được ông chủ đánh giá cao, chẳng bao lâu sau ông được giao phần quản lý toàn bộ khâu vệ sinh cho nhà xưởng. Giữ vai trò này, ông Trần Thành đã phân chia công việc công bằng và hợp lý, bản thân mình luôn lãnh phần nặng nề hơn những người khác. Cách hành xử này khiến ông chủ càng hài lòng hơn. Uy tín của Trần Thành với ông chủ và những công nhân khác ngày càng lên cao. Một thời gian sau, ông Trần Thành được tin tưởng giao cho phần việc đi thu mua nguyên liệu ở các tỉnh miền Tây. Vậy là từ một anh công nhân vệ sinh suốt ngày chỉ ru rú ở một góc tối tăm trong nhà xưởng, ông đã bước ra xã hội bên ngoài rộng lớn, làm quen với việc kinh doanh, mở mang đầu óc. Trong quá trình thu mua nguyên liệu, ông Trần Thành luôn đặt chữ tín lên hàng đầu, không bao giờ ép giá nông dân, không kê giá để hưởng lợi, không sai hẹn và không hứa hẹn những cái không làm được. Kiểu làm ăn này khác với những thương lái khác nên Trần Thành tạo được niềm tin với nhà nông, họ thích bán cho ông hơn các thương lái khác. Một thời gian sau, Trần Thành được ông chủ giao cho phần việc quan trong hơn: Quản lý toàn bộ việc thu mua của xưởng. Với vai trò mới này, ông được đi khắp nơi ở cả nước và sang tận xứ Cao Miên, biến nơi này thành nơi cung cấp nguyên liệu lớn nhất. Lúc này ông Trần Thành đã lập gia đình và tích luỹ được một số vốn. Ông chủ họ Trịnh nhận thấy những tố chất đặc biệt của Trần Thành trong kinh doanh, có chí tiến thân, góp nhiều công sức cho xưởng nên quyết định cho Trần Thành vay số vốn lớn để gầy dựng cơ nghiệp riêng, cho độc quyền cung cấp nguyên liệu cho xưởng. Chẳng bao lâu sau, Trần Thành trở thành nhà cung cấp các loại hạt có dầu cho hầu hết các hãng xưởng ở miền Nam. Cơ nghiệp của ông Trần Thành từ đó phát triển với tốc độ chóng mặt. Sau khi trả lại đủ tiền vay cho ông chủ cũ, Trần Thành tiến tới thâu tóm mọi nguồn hàng của ngành nghề này, rồi tiến sang đầu tư vào lĩnh vực khác. Nhận thấy thị trường bột ngọt là gia vị cần thiết cho mọi bữa ăn gia đình thời đó, nhu cầu lớn nhưng người dân vẫn phải dùng bột ngọt nhập khẩu số lượng có hạn từ Nhật và Đài Loan, lại bị thuế quan nên giá đắt đỏ. Kế hoạch của ông Trần Thành là sản xuất bột ngọt chất lượng không thua kém nhưng giá rẻ hơn nhiều nhờ sản xuất trong nước và nhờ chính sách bảo hộ hàng nội địa của chính quyền. Năm 1960, ông Trần Thành đã thành lập công ty Thiên Hương, trụ sở tại 118 Hải Thượng Lãn Ông, với nhà máy sản xuất bột ngọt mang thương hiệu Vị Hương Tố. Nhà máy có công suất lớn, với thiết bị nhập từ Nhật Bản, được đánh giá là hiện đại nhất Đông Nam Á lúc bấy giờ. Ngay bước đầu, nhờ chất lượng tốt mà giá lại rẻ nên bột ngọt Vị Hương Tố sớm được các bà nội trợ đón nhận. Thừa thắng xông lên, Nhà máy bột ngọt Vị Hương Tố còn sản xuất thêm mì gói, mì chay, tàu vị yểu, và đều rất thành công. Các nhà máy sợ nhất là nguồn nguyên liệu bất ổn, bị đầu cơ, thao túng… trong khi đó ông Trần Thành lại là nhà cung cấp nguyên liệu lớn nhất thời đó. Việc vừa thu mua cung cấp nguyên liệu lại vừa sản xuất, mua tận ngọn bán tận gốc như vậy nên sản phẩm của ông bán ra lúc nào cũng có giá rất cạnh tranh. Bột ngọt Vị Hương Tố có logo tương đối giống logo công ty Ajinomoto của Nhật Bản, đối thủ chính của ông Trần Thành mới ra mắt: đều có hình một cái tô màu đỏ. Logo Vị Hương Tố là tô mở nắp chứ không đóng kín như logo Ajinomoto. Phía trên cái tô mở nắp là ba sọc đỏ lớn chạy dọc, nhìn như khói thức ăn và hương thơm tỏa ra ngào ngạt rất sinh động. Ngoài chiến lược cạnh tranh về giá, thành công của Vị Hương Tố còn nhờ những khuyến mãi mát tay của ông Trần Thành. Nghiên cứu thói quen của các bà nội trợ, thấy rằng đồ dùng nhà bếp được mua nhiều nhất, ông khuyến mãi tặng tô, chén và muỗng khi mua bịch bột ngọt lớn, vừa và nhỏ. Bột ngọt vừa rẻ lại được tặng tô nên bán rất chạy, Vị Hương Tố tung tiếp khuyến mãi tặng tô chén theo bộ: Phúc Lộc Thọ, Mai Lan Cúc Trúc, Xuân Hạ Thu Đông… làm cho các bà nội trợ muốn mua trọn bộ, nhiều khi nhà chưa hết bột ngọt cũng ráng mua thêm cho đủ bộ khuyến mãi. Từ lợi nhuận kếch xù của Nhà máy bột ngọt Vị Hương Tố, ông tiếp tục đầu tư vào nhiều ngành nghề khác như: khách sạn, nhà hàng, bệnh viện, và trường học, mà lĩnh vực nào cũng thắng. Nhiều bệnh viện ở khu vực Chợ Lớn còn lại cho đến ngày nay đều có sự đóng góp của ông Trần Thành: Bệnh viện Nguyễn Trãi, Nguyễn Tri Phương, An Bình, Chấn Thương Chỉnh Hình… Thời đó, có nhà báo hỏi ông bí quyết để thành công trong kinh doanh. Ông Trần Thành nói bí quyết đó đơn giản chỉ là điều mà người Á Đông đã biết từ ngàn xưa: Chữ Tín, lòng trung thực và sự kiên trì. Làm ăn mà không giữ được chữ Tín và sự trung thực thì chẳng bao giờ có thể trở thành “ông chủ lớn” nổi. Của cải mất đi còn có thể gây dựng lại được, nhưng uy tín không còn thì coi như trắng tay. Ngoài ra, khi ở tuổi xấp xỉ 40, ông Trần Thành được bầu làm bang trưởng Triều Châu, đại diện cho người Hoa để liên hệ với chính quyền. Với vai trò này, ông đã giúp đỡ nhiều người có ý chí mượn vốn, nhà ông lúc nào cũng có người tới xin ý kiến làm ăn. Tuy thành công tột đỉnh như vậy, nhưng ông Trần Thành cũng không qua khỏi ải mỹ nhân. Từ một người sống cần kiệm, tránh xa chốn ăn chơi từ lúc bắt đầu khởi nghiệp, ông đã trở thành một người vung tiền để chiếm được trái tim của người đẹp nức tiếng người Đài Loan. Đó là nữ minh tinh – ca sĩ Thang Lan Hoa (Tang Lan Hua), từng nổi tiếng khắp miền Nam với phim Đài Loan tên là Ngàn Thu Vĩnh Biệt cùng nam tải tử Dương Quần. Trong một lần sang Sài Gòn biểu diễn theo lời mời của cộng đồng người Hoa, diễn viên Thang Lan Hoa với vẻ đẹp sắc sảo đã làm “ông vua không ngai trong vương quốc Chợ Lớn” mê mẩn. Ông Trần Thành đã tìm mọi cách làm quen và gần gũi người đẹp. Để đạt được mục đích, ông đã không ngại bỏ ra hàng núi tiền dưới chân Thang Lan Hoa. Cuối cùng, những món quà tặng của nhà tỉ phú đa tình này là những viên đá quý đắt giá, quý hiếm trong thế giới kim hoàn, cũng đã làm xiêu lòng mỹ nhân xứ Đài. Từ đó, ông Trần Thành thường xuyên đi về Đài Loan như đi chợ. Ông sẵn sàng chi tiền một cách hào phóng mua lấy lạc thú cuộc đời. Nhưng chỉ được một thời gian, ông chia tay với người đẹp xứ Đài và có mối quan hệ với 1 phụ nữ khác người Tân Gia Ba, họ có với nhau một người con gái tại đây. Thời gian sau đó, khi đến chơi tại vũ trường Maxim’s của nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ, ông Trần Thành quen với một vũ nữ, là người sau đó trở thành người vợ sống với ông cho đến lúc cuối đời. Cô vũ nữ này được gọi gọi với cái tên Hoa là Phánh Dứng, tên Việt là Phan Anh, rất xinh đẹp và tính tình được lòng nhiều người. Một số người quen cho biết bà Phánh Dứng đã hy sinh tuổi xuân khi về sống với ông Trần Thành, cả lúc sau năm 1975, khi ông bị mất hết vì toàn bộ gia sản bị quốc hữu hoá, bản thân ông cũng bị tù tội. Khi đó bà làm tròn đạo tào khang, thăm nuôi cho đến ngày ông mãn hạn, chăm sóc con cái rất tốt. Sau thời điểm năm 1975, công ty Thiên Hương và thương hiệu Vị Hương Tố thuộc nhà nước quản lý, nhưng không thể hoạt động được vì các kỹ sư, công nhân kỹ thuật cao đã đi hết sang nước ngoài, nguồn men vi sinh để sản suất bột ngọt được nhập từ Hongkong cũng không còn nữa. Khi đó, bí thư thành uỷ Võ Văn Kiệt đã yêu cầu khôi phục bằng được hoạt động của nhà máy Thiên Hương. Ban khoa học và kỹ thuật thành phố (phần lớn là nhiều trí thức chế độ Sài Gòn) đã lập hai nhóm để khôi phục: Nhóm cơ khí do ông Nguyễn văn Sơn đứng đầu lo việt kiểm tra lại máy móc. Nhóm chuyên viên vi sinh do bác sĩ Trần Văn Ái (giám đốc viện Pasteur) đứng đầu để khôi phục lại men vi sinh. Nguồn men vi sinh được gửi từ Hongkong hàng tuần trước đó, nay chỉ có hai chai gửi lần cuối từ ngày 23-4-1975 vẫn được bảo quản kỹ trong tủ đá dưới 0 độ C đã được nhóm vi sinh nỗ lực khôi phục lại. Do thời gian bị đông lạnh quá lâu khiến những mẻ đầu chỉ đạt được 30% so với men tươi, nhưng các mẻ sau đã dần dần có chất lượng hơn và Nhà máy Thiên Hương đã hoạt động trở lại được cho đến ngày nay. Hiện nay các loại mì gói mang thương hiệu Vị Hương của cty Thiên Hương Food vẫn còn bày bán ở các siêu thị. Ngày 22/8/2024, khi ở tuổi 61, Trường Vũ - ca sĩ nổi tiếng với các ca khúc "Thân phận nghèo",... Giai điệu Bolero, với xuất xứ từ các thể loại nhạc như Rumba, Habanera, Valse và Tango, đã du nhập... Việc tặng bông trong các buổi đờn ca tài tử đã trở nên phổ biến trong những thập kỷ gần... Trong bài hát "Chiều Trên Phá Tam Giang" của nhạc sĩ Trần Thiện Thanh có câu: "Giờ này Thương Xá... Trong những thập niên 1950, 1960 và 1970, hình ảnh những chiếc taxi hai màu xanh - trắng (hoặc vàng... Những ai từng học ở trường Đại học Văn Khoa xưa, nay là trường Đại học Khoa học Xã hội... © 2020NhacXua.VN- Nhạc Xưa Thời Báo.
Ca khúc ra đời từ câu chuyện tình có thật thời trẻ của nhạc sĩ Huỳnh Anh với một cô gái học trò Sài Gòn khuê các. Trải qua những biến động chia ly của thời cuộc, mối tình đầu tan vỡ để lại vết thương sâu sắc trong lòng người nhạc sĩ tài hoa. Từng nốt nhạc viết ra như tiếng thở dài hoài niệm, biến những kỷ niệm hẹn hò xưa cũ thành một bức tranh âm nhạc trữ tình sang trọng quý phái chốn phòng trà Sài Gòn xưa.
Ca khúcBạc Trắng Lửa Hồnglà một trong những bài nhạc vàng trước 1975 quen thuộc nhất với công chúng, được nhạc sĩ Trương Hoàng Xuân sáng tác khoảng đầu thập niên 1970 với bút danh là Thy Linh. NgoàiBạc Trắng Lửa Hồng, nhạc sĩ Trương Hoàng Xuân còn là tác giả củaHái Hoa Rừng Cho Em, Xé Thư Tình, Cung Tơ Chiều.Với bài hátCung Tơ Chiềuđã được danh ca Lệ Thu hát trước 1975, tuy không được nhiều người biết đến, nhưng bài hát này thực sự là một tuyệt phẩm, mang nhiều nét tương tự nhạc tiền chiến. Trái ngược với phong cách nhạc củaCung Tơ Chiều,bài hátBạc Trắng Lửa Hồngđơn thuần là một bài nhạc đại chúng với lời ca rất bình dân dễ hiểu, nói về một chuyện tình tan vỡ vì một người tham phú phụ bần, bước sang ngang khi đã quên tình cũ. Click để nghe Thanh Tuyền hát Bạc Trắng Lửa Hồng trước 1975 Thời trung học, nhạc sĩ Trương Hoàng Xuân theo học ngôi trường nam sinh danh tiếng nhất Sài Gòn là Petrus Ký. Khi mới 12-13 tuổi, ông đã làm thơ với cái tên Nam Lynh (phiên âm từ tên Tây của ông là Nalis). Vài năm sau đó, ông gặp và yêu một nữ sinh Gia Long tên là Thy. Tuy nhiên mối tình học trò mong manh và nhanh chóng tan vỡ. Sau này ông đã nhớ lại chuyện tình trong sáng thời trung học và sáng tácBạc Trắng Lửa Hồng, lấy tên Lynh của mình ghép với tên người bạn gái thành bút hiệu Thy Lynh. Khi phát hành tờ nhạc, mở đầu bài hát là 4 câu thơ của Tú Nhi (Chế Linh): “Em đi về với bạc tiền nhung lụaTôi âm thầm ôm nhung nhớ nào nguôiKỷ niệm ấy bây giờ không còn nữaCuộc tình xưa thôi đã dở dang rồi” Về cái tên bài hát làBạc Trắng Lửa Hồng, có nhiều người sẽ không hiểu rõ ý nghĩa của những chữ này. Trong bài hát, có 2 lần nhạc sĩ nhắc đếm cụm từ này: “Bạc trắng lửa hồng nẻo đời thêm xa”và “Khóc cho đời bạc trắng lửa hồng” Ngày xưa, để thử vàng bạc là thật hay giả, người ta thường dùng lửa hơ nóng. Vì vậy “bạc trắng” trong bài hát hàm ý là tình yêu và sự chung thủy, còn “lửa hồng” là những thử thách của cuộc đời. Những tưởng tình yêu sẽ thắm thiết và được dài lâu, nhưng khi gặp thử thách và gian truân thì người mới nhận ra được đâu là chân, là giả… Khi mới bước chân vào đường tình, ở lứa tuổi đôi mươi thì tình yêu vẫn chưa nhuốm những gió bụi cuộc đời, hầu như là ai cũng lý tưởng hóa tình yêu của mình, ví đó như là áng mây cao và ánh trăng sao, luôn nghĩ rằng sẽ không có gì tách rời được đôi lứa. Chỉ khi xa nhau rồi thì mới ngỡ ngàng: Tình nghĩa đôi mình chỉ thế thôi sao?Gặp gỡ chi rồi thoáng tựa chiêm bao.Tình anh như áng mây cao.Tình em như ánh trăng sao.Cớ sao mình chẳng được gần nhau? Cuộc sống kim tiền chia cách đôi ta.Bạc trắng lửa hồng nẻo đời thêm xa.Đường anh sương gió bao la.Đường em thêu gấm, thêu hoa,Đớn đau này muôn kiếp không nhòa. Vì cuộc sống này không phải là chỉ có duy nhất tình yêu, mà còn muôn vàn điều khác nữa có thể chi phối tình cảm của con người, làm đổi thay lòng người, và cái thường gặp nhất chính là “cuộc sống kim tiền”. Đó là cái đã chia đôi người đôi ngả, một người ra đi về miền sương gió bao la, còn một người thì sang ngang để vui cuộc sống trong nhung lụa gấm hoa, đã quên lời ước hẹn thuở hàn vi: Hẹn ước nhau chi cho một người ôm mối hậnnhìn theo một chiếc xe hoa.Trăm năm biết có duyên gì?Gian truân nếu có qua cầuthì hợp tan duyên số mà thôi. Một bước xa rời muôn kiếp ly tan.Một cánh thiệp hồng tiễn người sang ngang.Mười hai bến nước thênh thang,từ đây đôi nẻo quan san.Khóc cho đời bạc trắng lửa hồng. Sau khi sáng tác xong ca khúc này, nhạc sĩ Trương Hoàng Xuân mang đến nhờ nhạc sĩ đàn anh là Khánh Băng xem, chỉnh sửa và nhờ phổ biến giúp. Bài hát được Chế Linh thu âm lần đầu, sau đó được rất nhiều ca sĩ hát lại. Nhạc sĩ Trương Hoàng Xuân sinh năm 1939, hiện nay đang sống âm thầm và cô đơn một mình trong căn phòng chỉ có vài mét vuông ở đường Trần Huy Liệu, Phú Nhuận với nhiều căn bệnh tuổi già suốt nhiều năm qua. Trong vài năm gần đây, sức khỏe ông đã kém đi nhiều vì bị những cơn suyễn hành hạ… Bài: Đông Kha (nhacxua.vn) Kẻ Đến Sau - Phương Hồng Quế Kẻ Đến Sau - Giáng Thu Kẻ Đến Sau - Giao Linh ... Trương Hoàng Xuân sinh năm 1939 tại Sài Gòn. Năm 1960, ông tốt nghiệp Sư phạm, về dạy tại Long... © 2020NhacXua.VN- Nhạc Xưa Thời Báo.
Tổng quan “Diễm xưa” là tình khúc tiền chiến diễm lệ và nổi tiếng nhất của Trịnh Công Sơn, sáng tác năm 1960 tại cố đô Huế. Tác phẩm lấy cảm hứng từ...
Tác phẩm mới được tổng hợp và đưa vào hệ thống.
Tác phẩm mới được cập nhật vào kho lưu trữ kỹ thuật số.
Tháng 5 năm 2014: Hiện tượng "Chắc ai đó sẽ về" làm khuynh đảo các bảng xếp hạng V-Pop, đồng thời mở ra cuộc tranh luận lớn nhất về vấn đề bản quyền trong lịch sử âm nhạc Việt Nam.
Ca khúc 'Nhật ký của mẹ' của nhạc sĩ Nguyễn Văn Chung là một trong số ít bài hát Việt Nam có MV bằng tranh cát nổi tiếng khắp thế giới.
Khám phá mạng lưới kết nối giữa các nhạc sĩ và ca sĩ định hình âm nhạc đại chúng Việt Nam những năm 1990-2000.
Khám phá bản đồNhững câu chuyện thâm cung bí sử, hoàn cảnh sáng tác phía sau những bài hát bất hủ.
Sự giao thoa tuyệt đẹp giữa thi ca và âm nhạc. Những bài thơ được chắp cánh bởi giai điệu.
Một góc nhìn sâu sắc về các trào lưu âm nhạc đa dạng đã nảy nở tại Sài Gòn.