Những mảnh ghép tri thức âm nhạc

Khám phá kho lưu trữ kỹ thuật số, nơi kết nối các thế hệ nghệ sĩ, câu chuyện đằng sau những bản nhạc bất hủ và mạng lưới tri thức âm nhạc sâu rộng.

Ngẫu nhiên

Những Mảnh Ghép & Giai Thoại

Xem tất cả
Thông tin Bài hát

Anh đứng đây là đâu

Tổng quan Tên bài hát: Anh đứng đây là đâu Người sáng tác nhạc: Đang cập nhật Người viết lời: Đang cập nhật Năm phát hành: Đang cập nhật Nội dung n...

Thông tin Bài hát

Bao Giờ

Tổng quan Bài hát "Bao Giờ" do nhạc sĩ Đỗ Bảo sáng tác phần nhạc. Phần lời và năm sáng tác: Đang cập nhật. Nội dung nghệ thuật "Bao Giờ" mang đặc t...

Tiểu sử Nghệ sĩ

Phượng Hằng

update_topic(strategic_intent='Creating an encyclopedia entry for Phượng Hằng based on the provided data, adhering to all specified formatting and con...

Thông tin Bài hát

Anh vẫn buồn như xưa

Tổng quan Bài hát "Anh vẫn buồn như xưa" được sáng tác và viết lời bởi nhạc sĩ Tăng Nhật Tuệ. Năm sáng tác: Đang cập nhật. Tăng Nhật Tuệ là một nhạc ...

Tiểu sử Nghệ sĩ

Phương Vy

update_topic(strategic_intent='Creating an encyclopedia entry for Phương Vy based on the provided data, following specified formatting and content rul...

Giai Thoại Cuốn Hút

Xem tất cả

Chuyện Tình Nhạc Sĩ Văn Phụng & Danh Ca Châu Hà

Nhạc sĩ Văn Phụng là một trong những nhạc sĩ thời kỳ đầu của tân nhạc Việt Nam, cũng là nhạc sĩ hòa âm nổi tiếng nhất của Sài Gòn trước năm 1975. Thời kỳ dĩa nhựa thịnh hành trong thập niên 1960, nhạc sĩ Văn Phụng cũng là người hòa âm nhiều nhất thời đó, cùng với các nhạc sĩ hòa âm nổi tiếng khác như Nghiêm Phú Phi, Lê Văn Thiện, Y Vân. Ông cũng là tác giả của những ca khúc nổi tiếng nhưTrăng Sơn Cước, Bức Họa Đồng Quê, Yêu, Tình, Ô Mê Ly, Suối Tóc,và đặc biệt làTôi Đi Giữa Hoàng Hôn. Hoàn cảnh sáng tác của ca khúc này gắn liền với chuyện tình trắc trở và nhiều sóng gió của nhạc sĩ Văn Phụng và nữ danh ca Châu Hà. Họ yêu nhau từ thuở thanh xuân, đến khi tóc gần điểm bạc mới chính thức trở thành vợ chồng. Nhạc sĩ Văn Phụng sinh năm 1930 ở Hà Nội, và ông gắn bó với vùng đất này 24 năm trước khi di cư vào Nam. Thời gian này ông có gặp gỡ và yêu người con gái đất cảng, sau này là ca sĩ nổi tiếng Châu Hà. Ca sĩ Châu Hà kể lại lần đầu gặp Văn Phụng như trên đài RFA như sau: “Ngày xưa, ở Hải Phòng, ba của anh Phụng mướn nhà của ba tôi. Một hôm, anh Phụng đến thăm ông cụ. Lúc đó, tôi ngồi ở trên lầu vừa hong tóc vừa dạo đàn. Anh ấy nghe thấy tiếng đàn Piano ở trên lầu, mới tò mò bước lên cầu thang, và đứng ở ngưỡng cửa. Tôi đang dạo đàn thì trông thấy bóng người đứng ở ngưỡng cửa, tôi quay ra thì ra là một chàng trai, không quen biết. Anh ấy cúi đầu chào và tự giới thiệu “Tôi là Văn Phụng, tôi đến thăm thày tôi ở dưới nhà mà tôi nghe thấy tiếng đàn ở trên này, tôi đánh bạo lên đây để làm quen. Thì ra cô đang đánh đàn. Anh ấy nhìn tôi kỹ hơn, khi thấy tóc tôi dài chấm đất thì anh ấy buột miệng nói: “Suối Tóc”! Rồi anh ấy quay lại hỏi tôi là cô đang dạo bài gì đó mà sao nghe hay thế. Tôi trả lời là của Eddy Duchin thì anh ấy mới bảo “Xin phép cô cho tôi dạo thử một tí được không?” Tôi bảo “Vâng, mời anh ngồi”. Anh ấy đàn thì tôi mới biết rằng tôi vừa mới múa rìu qua mắt thợ. Anh nhìn bản nhạc và đàn hay quá. Mặc dù lần đầu chơi cái bản nhạc này mà anh ấy đàn như mưa như gió, rất là hay! Thành đó là một cái kỷ niệm rất đẹp trong đời chúng tôi. Năm đó là năm 1952”. Những lời mà danh ca Châu Hà đã kể này đã được nhạc sĩ Văn Phụng ghi lại vào trong âm nhạc, với ca khúcTiếng Dương Cầmbất hủ: Đi mãi tìm ai yêu đànBước chân lạc nơi đây chốn naoTrên lầu ai kia cất caoVang tiếng dương cầm thiết tha… Click để nghe Thái Thanh hát Tiếng Dương Cầm trước 1975 Cũng trong phút giây gặp gỡ đó, khi nhạc sĩ Văn Phụng bị mất hồn bởi suối tóc tơ dài như nhung của người con gái lần đầu tiên gặp mặt, ông đã sáng tác ngay ca khúc mang tênSuối Tóc, để kỷ niệm cho lần gặp gỡ: Tôi muốn đưa em qua miền rừng núi xanhChúng ta cùng thăm con suối dịu êmNhưng thiên nhiên không êm như tóc huyềnNhưng thu qua không trong như đôi mắt em Click để nghe danh ca Châu Hà hát Suối Tóc trước 1975 Ngay từ phút đầu gặp gỡ, hai người đã bị tiếng sét ái tình, nhưng bố của Văn Phụng không chấp thuận, đồng thời gia đình Châu Hà cũng không cho phép bà lấy một nghệ sĩ. Phẫn uất và cả 2 bên đều phản đối, Châu Hà đi lấy chồng rồi vào Nam, xa hẳn kỷ niệm, và nhạc sĩ Văn Phụng cũng cưới vợ theo ý muốn của gia đình. Năm 1954, nhạc sĩ Văn Phụng vào Nam, trở thành nhạc trưởng của Đài Phát thanh Quân đội và phụ trách chương trình ca nhạc trên Đài Phát thanh Sài Gòn. Thuở ấy chưa có truyền hình, dĩa hát thì không phải ai cũng có thể sở hữu được, nên công chúng yêu nhạc thường chỉ được tiếp cận các bài hát và ca sĩ thông qua đài phát thanh trong các chương trình mà nhạc sĩ Văn Phụng phụ trách. Tại đây, Văn Phụng gặp lại Châu Hà năm 1955, khi bà đang là một trong những ca sĩ cũng đang hợp tác với đài phát thanh. Chính Văn Phụng là người đề nghị kết hợp 3 giọng hát thượng thặng thành bộ ba Châu Hà, Kim Tước, Mộc Lan, sau đó trở thành ban tam ca nổi tiếng khắp miền Nam, hợp tác với nhau một thời gian rất dài trong các chương trình phát thanh và sau đó là truyền hình. Tại Sài Gòn, Văn Phụng và Châu Hà nối lại tình xưa nghĩa cũ, bất chấp những rào cản của gia đình, dư luận để đến với nhau. Ca khúcTôi Đi Giữa Hoàng Hônđã ra đời trong hoàn cảnh đầy những bộn bề, trái ngang đó. Lời bài hát này là những tâm sự của người đàn ông khi đã có gia đình nhưng còn vương vấn tình xưa: Nhớ đêm nào, trên bến tìm saoHai đứa nhìn nhau, không nói một câuNhư thầm mơ ước, ước mơ dạt dàoNhư thầm hẹn nhau mùa sau… Ngoài những ca khúc viết cho Châu Hà đã nhắc đến làTiếng Dương Cầm, Suối Tóc, Tôi Đi Giữa Hoàng Hôn, nhạc sĩ Văn Phụng còn viết rất nhiều ca khúc khác dành tặng cho cuộc tình thắm thiết này, nhưYêu Và Mơ, Tiếng Hát Với Cung Đàn... Vì hoàn cảnh, vì những lời dị nghị, nên họ phải chờ đến 8 năm kể từ sau ngày gặp lại , cuối cùng thì nhạc sĩ Văn Phụng và ca sĩ Châu Hà trở thành đôi bạn đời vào năm 1963 và không bao giờ xa rời nhau cho đến khi Văn Phụng qua đời vào ngày 17/12/1999 tại bang Virginia. Họ kết hôn năm 1963 và sống hạnh phúc cho đến khi nhạc sĩ Văn Phụng qua đời năm 1999 ở Hoa Kỳ. Click để nghe nhạc sĩ Văn Phụng đệm đàn cho Châu Hà hát Suối Tóc Dù sống với nhau giữa đất Sài Gòn nhưng Văn Phụng và Châu Hà vẫn giữ thói quen và cách sinh hoạt của người Bắc. Hai vợ chồng luôn “tương kính như tân” khiến ai gặp một lần cũng ngưỡng mộ. Khi đã lớn tuổi, họ vẫn giữ cách nói chuyện của người Bắc xưa, hai vợ chồng trân trọng nhau như khách quý. Đây không phải cách cư xử xã giao mà là sự văn minh hiểu biết của một cặp vợ chồng nghệ sĩ luôn yêu thương và giúp đỡ nhau suốt bao năm. Cả hai luôn dành những từ ngữ trân quý khi nói về nhau. Ca sĩ Châu Hà mô tả về chồng như sau: Cao 1 thước 65, là một người suốt đời mơ mộng. Ông thích khiêu vũ, đùa vui nghịch ngợm và thích ăn ngon nhưng không thích làm bếp. Ông thích ăn những món như đậu, phở và súp với thói quen luôn xịt thêm tương ớt và “Maggie”. Và đặc biệt thích để vợ hớt tóc ở nhà mà không bao giờ hớt ở tiệm! Đối với vợ con, ông luôn luôn chiều chuộng. Vợ con muốn gì ông cũng làm liền, một cách rất chu đáo. Hoặc trong nhà có gì cần sửa chữa, ông đều tự tay làm lấy. Ca sĩ Phương Dung từng kể về mối tình của họ như sau: “Tôi có một thời gian làm việc với nhạc sĩ Văn Phụng. Lúc đó tôi còn bé lắm, đi lên đài phát thanh thì tôi thấy anh Văn Phụng và chị Châu Hà, hai bên đã có gia đình nhưng họ có ánh mắt nhìn nhau đắm đuối, là mình biết họ có tình yêu với nhau. Giữa anh chị em nghệ sĩ, người nào cũng thông cảm cho mối tình này. Sau vài năm, hai bên mới có thể đi đến cuộc sống hạnh phúc. Lúc đó, tôi làm việc với anh Văn Phụng trong một cuốn phim. Mỗi lần đi quay, tôi thấy hai anh chị dắt theo một bé gái chừng 5, 6 tuổi mà hai người cưng lắm. Đó là kết quả cuộc tình qua nhiều tháng năm gian truân, chờ đợi, yêu nhau và cuối cùng được sống với nhau. Anh Văn Phụng là người rất đẹp trai, thân thiện, lần nào đi cùng đoàn cũng pha trò rất vui để mọi người cười”. Khi nhạc sĩ Văn Phụng mất tròn 20 năm trước, ca sĩ Châu Hà đã khắc tên mình lên bia mộ chồng. Lúc đó nhiều người đã nói với bà đó là điềm gở, nhưng bà mặc kệ, nói rằng nếu thật là điềm gở thì cũng là may mắn cho bà vì được đi theo chồng. Trong vòng 10 năm sau khi chồng mất, ca sĩ Châu Hà không đi đâu, chỉ ở nhà. Trước khi qua đời, Văn Phụng biết là ông sắp ra đi nên viết ra 3 ca khúc gửi lại vợlà “Vĩnh Biệt Châu Hà”, “Em ở Lại”và“Anh Đi”… Đông Kha (nhacxua.vn) biên soạn Văn Phụng là một trong những nhạc sĩ tân nhạc được nhiều người trong làng nghệ thuật kính trọng nhất,... Tiếng Dương Cầm là một ca khúc đặc biệt của nhạc sĩ Văn Phụng. Ca khúc này có thể không... Yêu - Là nhiều khi lòng bâng khuâng tự hỏi lòng có phải ta đang yêu hay không, là đang... Trời xanh xanh bao la mây trắng trắng trắng xóa Tia nắng tưng bừng chiếu trên đồng lúa vàng Ðàn... Thời gian đầu của sự nghiệp, nhạc sĩ Văn Phụng thường được biết đến với nhưng ca khúc mang đày... Nhạc sĩ Văn Phụng là một trong những nhạc sĩ thời kỳ đầu của tân nhạc Việt Nam, cũng là... © 2020NhacXua.VN- Nhạc Xưa Thời Báo.

Ca Sĩ Ngọc Lan Qua Ký Ức Người Em

Bài viết sau đây của một người Mỹ mang 2 dòng máu Việt và Thụy Điển, từng hát và và phát hành CD nhạc Việt với nghệ danh là Thiên Phú. Anh từng thu đĩa chung với các ca sĩ nổi tiếng như Anh Tú, Thái Thảo, Julie vào năm 1997, có thể nghe lại giọng hát của Thiên Phú ở bên dưới. (Click để nghe Thiên Phú hát song ngữ Pháp – Việt những ca khúc nhạc Pháp) Theo lời kể của Thiên Phú, thì ca sĩ Ngọc Lan đã từng xem anh như người em trai bé nhỏ, khi đó anh mới 16 tuổi. Trong bài viết cảm động này, Thiên Phú kể về những kỷ niệm với ca sĩ Ngọc Lan vào năm 1989, thời gian mà Ngọc Lan đã bắt đầu được yêu thích trong làng nhạc hải ngoại. Bài viết đăng trên trang web ilovengoclan.com vào năm 2004, nhân kỷ niệm 3 năm ngày mất của cố ca sĩ bạc mệnh. Tôi muốn kể cho các bạn nghe câu chuyện về ca sĩ Ngọc Lan, người mà tôi có may mắn được quen biết, từng thân thiết, là người mà tôi thương mến và thương tiếc vô cùng. Tôi viết bằng tiếng Anh, vì tiếng Anh là sinh ngữ chính của tôi và viết tiếng Anh cũng giúp tôi tâm sự dễ hơn là viết bằng tiếng Việt. Trước hết xin phép tự giới thiệu với các bạn, tôi tên là Thiên Phú. Tôi từng tham gia những hoạt động văn nghệ của cộng đồng người Việt tại Hoa Kỳ. Những năm đầu thập niên 1990, tôi đã thử đi vào con đường ca hát, thu một vài CD và trình diễn văn nghệ trên nước Mỹ và tại một vài nước khác. Kết quả cũng tàm tạm nhưng không mấy thành công, nên sau một vài năm theo nghiệp ca hát tôi đã quyết định bỏ nghề và trở lại với việc học. Và hiện nay tôi đang học đại học. Câu chuyện về chị Ngọc Lan mà tôi kể sau đây khởi đầu khoảng năm 1989, khi tôi 16 tuổi. Lúc đó tôi đang học tại một trường trung học Hoa Kỳ, bạn bè tôi khi đó đa số là người Mỹ thành ra tôi rất ít có dịp nói tiếng Việt. Tôi học sinh ngữ Pháp và rất thích nhạc Pháp, do đó tôi bắt đầu nghe chị Ngọc Lan hát nhạc Pháp. Thoạt đầu, tôi nghe những bản nhạc Pháp mà chị Ngọc Lan hát song ngữ vừa tiếng Việt vừa tiếng Pháp, và rất thích những bài như “La Vie En Rose”, “Une Histoire D’amour”, “Quelque Chose Dans Mon Coeur”. Tôi thường nghe đĩa gốc do các ca sĩ Pháp hát rồi so sánh với lối trình bày của chị Ngọc Lan và cảm thấy mình gần gũi với lối hát của chị nhiều hơn. Lúc này, tôi cũng bắt đầu sưu tầm các băng nhạc trẻ do các ca sĩ khác trình bày song ngữ Việt – Pháp như Julie, Kiều Nga, Elvis Phương, Minh Xuân,… Rồi từ đó, tôi chú ý nhiều hơn tới nhạc Việt Nam. Tôi phải thú nhận rằng, chính nhờ chị Ngọc Lan và các ca sĩ này tôi đã hiểu hơn và cảm thấy hãnh diện hơn về văn hoá Việt Nam. Tôi gặp chị Ngọc Lan lần đầu tiên vào mùa Xuân năm 1989. Đó là một buổi tối ngày thứ hai. Tôi nhớ khi đó tôi vừa làm xong bài tập thì mẹ tôi cũng vừa đi làm về tới. Mẹ cằn nhằn về mái tóc dài của tôi và nhất quyết sẽ đưa tôi đến salon tóc để xử lý. Bà gọi điện thoại cho Perry Zeid, người thường làm tóc cho gia đình tôi, có tiệm tại Santa Ana, để hẹn giờ. Perry không chỉ là người thợ cắt tóc vui vẻ, thân thiện được cả gia đình tôi yêu mến, anh còn là người bạn rất thân thiết của tôi. Vì vậy, anh hiển nhiên biết tôi rất ái mộ ca sĩ Ngọc Lan. Dù sắp tới giờ đóng cửa tiệm, Perry vẫn nhiệt tình sắp xếp cho tôi một khung giờ hẹn cắt tóc. Anh còn cẩn thận dặn dò tôi đến đúng giờ và nói sẽ có điều bất ngờ thú vị dành cho tôi. Điều bất ngờ đó chính là chị Ngọc Lan.Bình thường, khi chị Ngọc Lan quay video ca nhạc, Perry chính là người trang điểm cho chị. Nhưng lần đó, chị Ngọc Lan dự định làm một video nhạc có cảnh nhảy múa vui tươi dựa theo bản nhạc Pháp “365 Dimanches” nên chị cần một vài vũ công. Do Perry cũng có khiếu nhảy múa nên anh được sắp xếp nhảy cùng với hai nữ vũ công khác là Diễm Thinh và Yến Trang. Hai cô vũ công này thường xuất hiện trên các bìa băng nhạc và tạp chí Việt Nam. Và tối đó, chị Ngọc Lan cùng hai nữ vũ công hẹn gặp Perry ngay tại tiệm của anh. Khi tôi tới nơi, khách trong tiệm của Perry đã về hết. Anh bắt đầu hớt tóc cho tôi sau khi đóng cửa tiệm, đồng thời bật mí chị Ngọc Lan đang trên đường tới tiệm và nếu muốn tôi có thể ở lại chờ gặp chị. Tôi vô cùng háo hức muốn gặp chị Ngọc Lan nhưng vẫn ngờ vực không biết Perry có đùa cợt tôi hay không. Bởi Perry biết rõ tôi là fan hâm mộ của chị Ngọc Lan, anh biết tôi có rất nhiều băng nhạc của chị và việc được gặp chị khiến tôi phấn khích đến chừng nào. Trong khi tôi vẫn còn bán tín bán nghi Perry chỉ đùa giỡn với tôi để giữ tôi ở lại trò chuyện với anh ta cho vui thì chỉ 15 phút sau đó, chị Ngọc Lan xuất hiện. Khi vừa thấy chị Ngọc Lan bước chân vào tiệm, tôi bất chợt rùng mình. Tôi cố gắng trấn tĩnh để nhìn thật kỹ xem người vừa tới có đúng nữ ca sĩ thần tượng mà tôi thường thấy trên tivi hay không. Sau màn giới thiệu của Perry, chị Ngọc Lan nói “hi” rồi hỏi tôi có biết nói tiếng Việt không. (Tôi là người Việt lai Thuỵ Điển nên nhìn bề ngoài tôi có nhiều nét giống người Âu hơn người Á.) Dĩ nhiên là tôi nói có và ngại ngùng bày tỏ vài câu nói rằng tôi rất ái mộ chị. Chị Ngọc Lan mỉm cười thân thiện và cảm ơn tôi. Tôi bèn mạnh dạn hỏi chị liệu có thể cho phép tôi ở lại tiệm để coi chị và các vũ công tập dượt không. Chị Ngọc Lan đồng ý ngay lập tức nhưng với điều kiện tôi phải tham gia vào cảnh nhảy múa trong video. Tôi trả lời rằng tôi chưa nhảy múa bao giờ nhưng chị Ngọc Lan nhất quyết nài ép tôi tham gia vào video của chị bởi theo chị màn nhảy khá dễ và tướng mạo bảnh bao của tôi lại rất phù hợp. Dù không biết thực tế sẽ ra sao nhưng nghe chị Ngọc Lan nói tôi rất háo hức muốn tham gia. Chỉ có điều tôi cần phải xin phép mẹ và chị Ngọc Lan hứa sẽ lo chuyện đó. Khi mẹ tôi tới đón, chị Ngọc Lan chủ động đi tới chỗ mẹ tôi để nói chuyện với bà. Sự duyên dáng và lịch thiệp của chị gần như ngay lập tức đã thuyết phục được mẹ tôi. Những tháng sau đó, cứ một tuần bốn đêm, chúng tôi miệt mài tập dượt vũ điệu cùng nhau. Chỉ những ngày cuối tuần khi chị Ngọc Lan bận đi trình diễn ở các nơi thì chúng tôi mới nghỉ tập. Công việc tập luyện rất cực nhọc. Mỗi tối, sau khi Perry đóng cửa tiệm, những chiếc ghế được dẹp gọn sang một góc, biến tiệm tóc của Pery thành sàn tập nhảy và chúng tôi ở đó tập luyện cho tới tận khuya, đến khi ai nấy đều mệt phờ mới nghỉ. Chính lúc này, tôi nhận ra chị Ngọc Lan là một người rất cầu toàn trong công việc. Ai nhảy sai nhịp là chị thấy liền. Mỗi lần phát hiện lỗi sai, chị Ngọc Lan không hề tỏ vẻ khó chịu hay cau gắt mà luôn nói năng nhỏ nhẹ, điềm tĩnh chỉ ra lỗi sai để mọi người cùng tập luyện. Thời gian đó, tôi khá thân thiết và gần gũi với chị. Chúng tôi cùng nhau đi lùng phục trang biểu diễn khắp các tiệm. Người lái xe dĩ nhiên là chị vì tôi mới chỉ 16 tuổi, chưa có bằng lái xe. Việc tìm kiếm phục trang rất khó khăn.Ban đầu, chúng tôi tìm tới các tiệm quần áo Việt Nam nhưng đa phần đều rất ít trang phục để lựa chọn. Và những người bán hàng thay vì coi chị như những khách hàng khác lại có vẻ ngại ngùng trước sự hiện diện của chị, một nữ ca sĩ nổi tiếng. Thậm chí, một vài người còn hỏi tôi có phải là em trai chị không. Nghe câu hỏi chị Ngọc Lan chỉ mỉm cười, còn tôi thì giải thích cho họ rằng, sao tôi có thể là em của chị được vì tôi lai da trắng trong khi chị Ngọc Lan là người Việt hoàn toàn. Chị Ngọc Lan sau đó vui vẻ dặn tôi rằng nếu lần sau có ai hỏi như vậy thì cứ nhận đại là em chị vì chị rất thích việc có một cậu em đẹp trai như tôi.Sau vài tuần lễ tìm kiếm, cuối cùng chúng tôi cũng tìm được phục trang vừa ý tại một tiệm quần áo nằm trong con ngõ nhỏ của thành phố Los Angeles. Việc cùng nhau chuẩn bị mọi thứ để quay video giúp tình cảm giữa tôi và chị nảy nở thân thiết hơn rất nhiều, nói đúng hơn đó là tình cảm giữa một người chị và một cậu em trai. Có lần, tôi đến nhà chị để thử quần áo, chị Ngọc Lan còn hỏi tôi có muốn nhận chị là chị nuôi không. Quả thực, trong thời gian đó chị đúng là chị gái của tôi. Tôi không thể ngờ rằng từ việc quen biết và gần gũi với chị, tôi đã học được rất nhiều điều từ chị. Tôi vô cùng thán phục sự quyết tâm và đam mê trong công việc của chị. Ngoài việc chị thường xuyên phải bay đi xa để trình diễn, chị còn vừa thâu băng, vừa làm video,.. chạy tới chạy lui khắp nơi không lúc nào ngơi nghỉ. Tôi thật sự không thể tưởng tượng nổi sức lực đâu chị có thể làm bao nhiêu việc cùng lúc như vậy. Thông thường khi công việc bận rộn, chị rất tập trung và nghiêm túc, nhưng chị cũng luôn cố gắng dành thời gian để nói chuyện, cười đùa hoặc khuyên bảo tôi điều này điều kia. Một lần khi tôi đến nhà chị, chị mở cho tôi xem cuốn album với rất nhiều hình chị chụp ở khắp những nơi chị từng đến trong các chuyến lưu diễn hoặc đi du lịch. Đối với một cậu chàng 16 tuổi như tôi khi đó, mới chỉ quanh quẩn ở miền Nam California, cuốn album tựa như lọ keo dính đầy mê hoặc trong mắt đứa trẻ. Việc được quen biết với một người nhiều tuổi hơn, già dặn hơn, khôn ngoan hơn và giàu trải nghiệm hơn quả thực là một đặc ân với tôi khi đó. Vào tháng 5 năm đó, video nhạc cuối cùng cũng bắt đầu được quay. Địa điểm quay video là một phim trường lớn của Mỹ tại Santa Monica. Cả đoàn tới phim trường từ 6h30 sáng để sửa soạn hoá trang và thay trang phục. Thời gian quay dự kiến bắt đầu vào lúc 9h sáng. Sắp tới giờ quay, tôi mới sực nhớ đã bỏ quên đôi giày diễn ở nhà. Khỏi cần nói các bạn cũng biết, ông Thức đạo diễn và ông Thăng giám đốc, đồng thời là nhà sản xuất hãng Mây đã rất thất vọng về tôi. Khi hai ông sắp sửa mắng cho tôi một trận thì chị Ngọc Lan bất ngờ kéo tôi sang một bên và bảo nhỏ rằng đừng lo để chị tính cho. Tiếp sau đó, chị dúi vào tay tôi mấy tờ tiền 2 chục, rồi nhờ một người bạn của chị lái xe đưa tôi tới tiệm giày gần đó để mua giày mới. Bây giờ tôi mới biết, người bạn đó của chị chính là nghệ sĩ saxophone Thanh Lâm nổi tiếng một thời. Qua chuyện này mới thấy chị Ngọc Lan quả thực là một người rất điềm tĩnh. Sau khi tôi có giày mang, video bắt đầu được khởi quay. Cả đoàn quay miệt mài tới tận khuya mới xong, ai cũng mệt phờ. Trước khi mọi người giải tán, chị Ngọc Lan bước đến ôm và cám ơn từng người. Khi ôm tôi, chị nói vài lời tạm biệt và dặn tôi ráng giữ liên lạc với chị vì tôi là em trai của chị. Thật không ngờ đó là lần cuối cùng tôi nói chuyện với chị. Sau đó, tôi mất liên lạc với chị nhưng tôi không trách chị bởi tôi biết chị rất bận rộn còn tôi cũng mải miết với việc học hành ở trường trung học. Trên đường tới tuổi trưởng thành, tôi đã hụt mất nhiều cơ hội được gặp lại chị. Mùa hè năm 1990, chị được mời tới trình diễn tại “Đại Hội Hoa Hậu Áo Dài Long Beach 90”, còn tôi được chọn làm một trong những người hộ tống các thí sinh ra sân khấu và tặng hoa hồng cho họ. Khi chị trình diễn trên sân khấu, từ trong hậu trường tôi nhìn thấy chị biểu diễn và nghe chị hát. Ngay sau phần biểu diễn của chị, tôi có nhiệm vụ đưa một thí sinh khác ra sân khấu. Lúc quay vào lại, tôi liền tìm gặp chị nhưng thật không may chị đã ra về. Đó là cơ hội đầu tiên trong rất nhiều cơ hội khác mà tôi đã bị hụt mất để gặp lại chị Ngọc Lan, người chị yêu quý của tôi. Năm 1992, chị Ngọc Lan làm một show nhạc tại Câu Lạc Bộ Diamond ở thành phố Fullerton. Tôi háo hức mua vé và đến thật sớm. Nhưng lần này cũng không may, do tôi chưa đủ 21 tuổi nên người giữ cửa không cho tôi vào. Năm 1994, tôi trở thành ca sĩ chuyên nghiệp có thu nhập, thường xuyên hát tại các quán cà phê và câu lạc bộ nhỏ tại quận Cam. Một vài người trên đài truyền hình văn nghệ Việt Nam để ý và mời tôi tới đài để phỏng vấn. Khi tới đài truyền hình, tôi mới biết chị Ngọc Lan vừa rời đài chưa đầy 5 phút trước. Chị được mời tới đài để phỏng vấn về việc chị sẽ hát cho một chương trình văn nghệ của Trung tâm băng nhạc Mây Bốn Phương tổ chức tại khách sạn Marriott ở Anaheim. Ba năm sau, tôi thâu CD đầu tiên với tựa là “Tiếc Nhớ” cùng Anh Tú, Julie và Thái Thảo cho Biển Tình Productions. Một trong những bản nhạc tôi dự định sẽ hát là “Magic Boulevard” có tựa đề lời Việt là “Ngày Vui Năm Ấy” do chính chị Ngọc Lan viết lời Việt. (Click để nghe Ngọc Lan hát Ngày Vui Năm Ấy) Do tôi còn giữ số điện thoại của chị nên đã chủ động gọi chị để xin phép. Tuy nhiên, tôi không gặp được chị Ngọc Lan, một người phụ nữ khác đã trả lời điện thoại. Sau khi nghe tôi trình bày lý do, người phụ nữ lấy số điện thoại của tôi và hẹn sẽ gọi lại. Ngày hôm sau, tôi nhận được điện thoại báo chị Ngọc Lan sẵn lòng cho tôi hát lời Việt mà chị đặt nhưng vẫn là người phụ nữ kia gọi đến, tôi không được nói chuyện với chị. (Click để nghe tác giả bài viết hát song ngữ ca khúc Magic Boulevard, lời Việt của Ngọc Lan) Cũng trong năm đó, tôi được mời tới hát tại một đại hội văn nghệ, tổ chức trong một sòng bài ở ngoại ô thành phố Atlanta, tiểu bang Georgia. Trên áp phích quảng cáo in hình nhiều nghệ sĩ nổi tiếng sẽ tham gia biểu diễnnhư Thanh Tuyền, Henry Chúc, Dalena và chị Ngọc Lan. Tôi háo hức vì giấc mộng được trình diễn chung trên một sân khấu với nữ ca sĩ thần tượng, đồng thời cũng là một “người chị” sắp trở thành sự thực. Nhưng rủi thay cơ hội được gặp lại chị một lần nữa lại bị hụt mất. Khi tôi tới Atlanta, tôi được thông báo chị Ngọc sẽ không thể biểu diễn vì lý do sức khoẻ. Việc này khiến tôi vô cùng buồn bã. Những năm tiếp theo, tôi phát hành CD riêng và trình diễn nhiều show cùng nhiều ca sĩ khác trên khắp nước Mỹ. Từ giới nghệ sĩ, tôi nghe được nhiều tin đồn khủng khiếp về sức khỏe của chị, có người nói chị bị bướu óc, có người nói chị liệt giường vì bệnh tiểu đường, rồi sau đó bị multiple sclerosis, parkinson. Tất cả có lẽ chỉ toàn là tin đồn thất thiệt. Và nhiều lời đồn tệ hại khác. Nhưng có một điều chắc chắn là chị đang bị bệnh. Năm 1999, tôi thâu CD thứ hai có tựa là “Ngày Em Đi”. Trước khi phát hành đĩa, có người mách tôi tìm đến nhạc sĩ Kelvin Khoa để nhờ anh rút ra và làm lại một vài bài hát từ CD của nữ ca sĩ Ngọc Huệ. Lúc này tôi mới biết anh Khoa là chồng chị Ngọc Lan. Nhiều lần tôi muốn hỏi anh Khoa về tình trạng sức khỏe của chị Ngọc Lan nhưng lại không dám vì sợ anh nghĩ tôi tọc mạch chuyện riêng của chị. Cuối cùng tôi bèn kể cho anh nghe về mối quan hệ thân thiết giữa tôi và chị Ngọc Lan lúc trước, đồng thời nói với anh rằng tôi rất nhớ chị.Sau khi giúp tôi làm lại mấy bài hát, anh Khoa nói anh có nhắc tên tôi với chị và chị nói chị vẫn nhớ tôi là ai. Anh Khoa cũng bật mí, hai anh chị đã cùng nghe CD của tôi và chị Ngọc Lan thích nhất bản “Lemon Tree”. Tiết lộ đó của anh Khoa khiến tôi vô cùng sung sướng. Giống như bao ca sĩ khác, tôi cũng có những thần tượng của riêng mình để ngước nhìn lên trước khi bước chân vào nghề. Một trong những thần tượng đó là chị Ngọc Lan. Có lẽ một phần vì vị kỷ, tôi luôn mong thần tượng của tôi nhìn tôi hát, phê bình và góp ý cho tôi. Tiếc rằng đối với thần tượng Ngọc Lan, chuyện này không bao giờ thành, nhưng tôi cũng biết ơn vì chị đã nghe tôi hát qua CD. Dẫu vậy, tôi vẫn rất buồn vì không có dịp gặp lại chị để cảm ơn chị về những điều chị đã dạy bảo và bao dung cho tôi khi tôi còn là một vũ công non nớt 16 tuổi. Chị Ngọc Lan đã luôn là nguồn cảm hứng cho tôi. Về video ca nhạc mà tôi làm vũ công 15 năm trước, tại đám tang chị Ngọc Lan vào tháng 3 năm 2001, tôi được ông Thăng, giám đốc Mây Productions, cho biết cuốn phim đã bị hư hại một số đoạn, phần còn lại không đủ dài để phát hành. Thành ra bây giờ, tôi chỉ còn những kỷ niệm về chị và giọng hát của chị. Cảm ơn chị Lan! Biết đâu chị đang lắng nghe… Thiên PhúBản dịch của nhacxua.vn Thập niên 1990, âm nhạc hải ngoại chứng kiến sự thăng hoa của tiếng hát Ngọc Lan như một hiện... Nhắc đến Ngọc Lan, những người yêu mến giọng hát của cô thường nghĩ đến những ca khúc nhạc ngoại... Ngoài việc có nhân dáng đẹp dịu hiền, khả ái và đôi mắt buồn sâu thẳm, nữ ca sĩ Ngọc... Mời các bạn xem lại một số đoạn video mà ca sĩ Ngọc Lan đã trả lời phỏng vấn năm... Trong bài viết này, xin giới thiệu với các bạn lời tự sự về cuộc đời của cố ca sĩ... Ca khúc Người Yêu Dấu được nhiều người yêu mến qua giọng hát Ngọc Lan vốn là một bài nhạc... © 2020NhacXua.VN- Nhạc Xưa Thời Báo.

Bí Ẩn Người Trinh Nữ Tên Thi

Ca khúc “Chuyện Tình Người Trinh Nữ Tên Thi” nổi tiếng của nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ là một bài hát thuộc dạng kể chuyện với nội dung là một chuyện tình buồn lâm ly và bi thương. Có nhiều người đã tưởng Hoàng Thi Thơ viết bài này để kể về câu chuyện của ông, nhưng không phải như vậy. Click để nghe Thanh Lan hát Chuyện Tình Người Trinh Nữ Tên Thi trước 1975 Thuở ấy xa xưa có một nàng một nàng thiếu nữMột đóa hoa hồng tình phơi phới tuổi mới trăng trònCuộc đời hồng nhan cay và đắng thôi thì lắm trái ngangBao nhiêu trai làng yêu nàng, đi theo xin nàng tim vàng, nàng vẫn không màng… Ca khúcChuyện Tình Người Thiếu Nữ Tên Thiđược viết cho một cô vũ nữ tên là Kim Lệ Thi, và ít người biết rằng nhạc sĩHoàng Thi Thơ đã viết tới 3 bài hát về cô trinh nữ tên Thi này. Hai bài còn lại thì một bài tên làMối Tình Bất Diệt, ít nổi tiếng hơn, được ca sĩ Thanh Lan hát trước năm 75. Bài thứ 3 làRong Chơi Cuối Trời Quên Lãngvới câu chuyện tương tự: một người con gái thất tình, đi lang thang trong rừng và cuối cùng nằm chếƭ trên nệm êm lá vàng úa. Nếu như hai bài hát kia mang tính kể chuyện, thì bài hátRong Chơi Cuối Trời Quên Lãnglà lời tự sự khi tác giả đóng vai cô gái:Ta đi lang thang quên ngày tháng, quên trần gian,quên nhân tình đã quên mình” Click để nghe Thanh Lan hát Mối Tình Bất Diệt Click để nghe Khánh Ly hát Rong Chơi Cuối Trời Quên Lãng Câu chuyện về Kim Lệ Thi được nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ kể trong cả 3 bài hát là người trinh nữ còn rất trẻ, đang tuổi trăng tròn, được nhiều người theo đuổi, nhưng nàng lại trót yêu một người nghệ sĩ đã có gia đình. Sau đó nàng đã quyết ra đi để quên đi cuộc tình ngang trái, đến một sáng mùa đông kia, nàng nằm yên vĩnh viễn ở trên nệm lá vàng nơi rừng sâu không ai biết đến. Nhân vật Kim Lệ Thi có thật, chuyện tình ngang trái cũng có thật, nhưng câu chuyện thực sự thì không được thi vị như vậy. Kim Lệ Thi vốn là vũ công trong đoàn múa Maxim’s nổi tiếng nhất thời đó do 2 vợ chồng vũ sư Lưu Hồng Mỹ Phương phụ trách, và nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ chính là trưởng đoàn ca-múa-nhạc Maxim’s, nên ông đã chứng kiến toàn bộ câu chuyện. Thời đầu thập niên 70, có nhiều trường phái về múa vũ. Nổi tiếng tại Sài Gòn có các trường dạy của vũ sư Ánh Tuyết (thân mẫu của ca sĩ Nguyễn Hưng ngày nay), hay vũ sư Nguyễn Thống, hay sư Thanh Xuân… Mỗi vũ sư như một trường phái riêng, nét hay riêng, thể điệu riêng, sắc thái riêng. Nhưng với vũ sư Lưu Hồng là vũ dân tộc trong những kịch bản của ca nhạc thời trang, nổi tiếng như là một dấu ấn của tên tuổi Lưu Hồng. Đoàn nghệ thuật của ông còn được biết với cái tên Vũ Bộ Lưu Bình Hồng. Đoàn múa Maxim’s của ông có 12 nữ vũ công chính, tất cả đều đẹp và múa giỏi. Họ đã được mời lên đài truyền hình góp mặt thường xuyên các chương trình ca nhạc do Hoàng Thi Thơ tổ chức, đi lưu diễn khắp các tỉnh thành và cả lưu diễn nước ngoài. Trong 12 nữ vũ công có 3 chị em là Kim Lệ Thu, Kim Lệ Xuân, Kim Lệ Thi. Kim Lệ Thi lúc đó mới 15 tuổi nhưng rất xinh đẹp, đem lòng yêu một nghệ sĩ đã có gia đình trong cùng một đoàn Maxim’s. Kim Lệ Thi không bị chếƭ trong rừng trên nệm lá một cách thi vị như trong các bài hát của Hoàng Thi Thơ. Cô đã mang thɑi với người tình, mẹ cô đã dẫn con đi giải quyết hậu quả, nhưng vì cô Thi còn quá trẻ nên đã không qua khỏi. Chứng kiến một cuộc tình ngang trái, một cuộc đời buồn quá ngắn ngủi, nhạc sĩ Hoàng thi Thơ cảm thương người con gái trẻ và viết thành các bài hát bất tử. Trong lời đề tựa bài hátChuyện Tình Người Trinh Nữ Tên Thi, ông viết: Người con gái lạ lùng đó tên Thi. Thi trẻ đẹp như nhiều thiếu nữ thời nay. Thi yêu sớm. Tình Thi ngang trái. Người đời thị phi. Thi buồn và bỏ đi. Thi lên rừng. Có lẽ để khóc một mình dưới gốc cây già vô tri. Rồi cuối cùng Thi chếƭ, một sáng mùa đông, trên nệm lá vàng… Tôi biết người con gái đó. Tôi ngạc nhiên về lòng chung thủy của nàng. Chuyện tình đẹp, như một phép lạ đã mê hoặc tôi. Tôi mượn âm thanh để kể lại, để bất diệt hóa tình yêu của người. Xin Thi phù hộ cho tôi, cho cả những người nghe và hát “Chuyện Tình của người trinh nữ tên Thi” Sau sự ra đi bất ngờ của Kim Lệ Thi, đoàn vũ chỉ còn 11 người, vẫn tiếp tục sinh hoạt. Có người kể rằng đã có nhiều biến cố xảy ra trong đoàn hay lúc trên sân khấu hay khi ở hậu trường, khiến mọi người trong đoàn nghĩ rằng đó là hồn ma oan uổng của cô Thi này về. Mọi người phải lập bàn thờ, vía tránh những tai nạn nghề nghiệp đã xảy ra. Bài: Đông KhaBản quyền bài viết của nhacxua.vn Nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ là tên tuổi lớn của nhạc vàng và của cả nền nghệ thuật âm nhạc... Hầu như ai trong chúng ta ta cũng đã có nhiều lần ngoái lại nhìn về thời hoa mộng của... Nếu như là một thính giả ngoại quốc, không phải người Việt hay người Nhật, khi nghe hòa tấu ca... Trước khi trở thành một nhạc sĩ nổi tiếng ở miền Nam, nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ từng trải qua... Một trong những bản nhạc mà khi nhắc đến nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ, người ta không thể không nhớ... Về nguyên bản, điệu tango không dành cho những bài hát buồn, mà đó là một giai điệu rộn vui,... © 2020NhacXua.VN- Nhạc Xưa Thời Báo.

Về đâu mái tóc người thương

Sáng tác giữa thập niên 1960, ca khúc nhạc vàng bất hủ khắc họa hình bóng người con gái có mái tóc thề thướt tha xõa dài bên thềm chiều. Lời ca trau chuốt giàu hình ảnh ẩn dụ tinh tế của nhạc sĩ Hoài Linh. Nội dung kể về câu chuyện tình thủy chung vượt qua chia ly giông bão thời cuộc, gắn liền với tiếng hát huyền thoại của Duy Khánh, Hoàng Oanh và sau này là ca sĩ Quang Lê đem lại sức sống đương đại mới mẻ.

Những Thương Hiệu Sài Gòn Xưa: Vị Hương Tố

Những ai từng sống ở Sài Gòn và miền Nam trước năm 1975 đến nay chắc là chưa thể quên được hương vị của bột ngọt và mì ăn liền Vị Hương Tố, thường được gọi là “mì cái tô”. Thập niên 1950, thị trường gia vị ở Sài Gòn được chiếm lĩnh bởi 2 thương hiệu lớn là Ajinomoto và Vedan. Nhưng qua thập niên 1960, thương hiệu bột ngọt của Việt Nam là Vị Hương Tố đã đánh bật các thương hiệu nước ngoài để chiếm toàn bộ thị trường. Ông chủ của Vị Hương Tố là một người Việt gốc Hoa tên là Trần Thành, vị tỷ phú xuất thân từ 2 bàn tay trắng trở thành người được gọi là “tỉ phú của tỉ phú”. Để đạt được những thành công tột bực và được ví như là “tỷ phú của tỷ phú Sài Gòn”, ông Trần Thành đã trải qua một quá trình dài với nhiều vất vả và khó nhọc vươn lên. Nhưng sau năm 75, gia tài của cả 1 đời phấn đấu của ông cũng tan thành bọt nước. Những năm đầu thập niên 1940, ông Trần Thành cùng gia đình lưu lạc từ Triều Châu sang Việt Nam tha phương cầu thực, gõ cửa các hãng xưởng của đồng hương ở Chợ Lớn để xin việc làm. Dịp may đến khi có một ông chủ họ Trịnh thu nhận Trần Thành làm công tại một cơ sở sản xuất dầu ăn. Cơ sở này chuyên thu mua đậu nành, đậu phộng đem về ép dầu thủ công. Công việc của Trần Thành là cọ rửa các thùng chứa, một công việc lao động phổ thông không cần trình độ với mức lương rẻ mạt. Như nhiều người Việt gốc Hoa khác, ông Trần Thành là người cần cù, chịu khó (tư sản người Hoa đóng vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế Sài Gòn trước 1975), lại còn luôn vui vẻ phụ giúp người khác mỗi khi xong việc của mình. Thái độ làm việc của ông được ông chủ đánh giá cao, chẳng bao lâu sau ông được giao phần quản lý toàn bộ khâu vệ sinh cho nhà xưởng. Giữ vai trò này, ông Trần Thành đã phân chia công việc công bằng và hợp lý, bản thân mình luôn lãnh phần nặng nề hơn những người khác. Cách hành xử này khiến ông chủ càng hài lòng hơn. Uy tín của Trần Thành với ông chủ và những công nhân khác ngày càng lên cao. Một thời gian sau, ông Trần Thành được tin tưởng giao cho phần việc đi thu mua nguyên liệu ở các tỉnh miền Tây. Vậy là từ một anh công nhân vệ sinh suốt ngày chỉ ru rú ở một góc tối tăm trong nhà xưởng, ông đã bước ra xã hội bên ngoài rộng lớn, làm quen với việc kinh doanh, mở mang đầu óc. Trong quá trình thu mua nguyên liệu, ông Trần Thành luôn đặt chữ tín lên hàng đầu, không bao giờ ép giá nông dân, không kê giá để hưởng lợi, không sai hẹn và không hứa hẹn những cái không làm được. Kiểu làm ăn này khác với những thương lái khác nên Trần Thành tạo được niềm tin với nhà nông, họ thích bán cho ông hơn các thương lái khác. Một thời gian sau, Trần Thành được ông chủ giao cho phần việc quan trong hơn: Quản lý toàn bộ việc thu mua của xưởng. Với vai trò mới này, ông được đi khắp nơi ở cả nước và sang tận xứ Cao Miên, biến nơi này thành nơi cung cấp nguyên liệu lớn nhất. Lúc này ông Trần Thành đã lập gia đình và tích luỹ được một số vốn. Ông chủ họ Trịnh nhận thấy những tố chất đặc biệt của Trần Thành trong kinh doanh, có chí tiến thân, góp nhiều công sức cho xưởng nên quyết định cho Trần Thành vay số vốn lớn để gầy dựng cơ nghiệp riêng, cho độc quyền cung cấp nguyên liệu cho xưởng. Chẳng bao lâu sau, Trần Thành trở thành nhà cung cấp các loại hạt có dầu cho hầu hết các hãng xưởng ở miền Nam. Cơ nghiệp của ông Trần Thành từ đó phát triển với tốc độ chóng mặt. Sau khi trả lại đủ tiền vay cho ông chủ cũ, Trần Thành tiến tới thâu tóm mọi nguồn hàng của ngành nghề này, rồi tiến sang đầu tư vào lĩnh vực khác. Nhận thấy thị trường bột ngọt là gia vị cần thiết cho mọi bữa ăn gia đình thời đó, nhu cầu lớn nhưng người dân vẫn phải dùng bột ngọt nhập khẩu số lượng có hạn từ Nhật và Đài Loan, lại bị thuế quan nên giá đắt đỏ. Kế hoạch của ông Trần Thành là sản xuất bột ngọt chất lượng không thua kém nhưng giá rẻ hơn nhiều nhờ sản xuất trong nước và nhờ chính sách bảo hộ hàng nội địa của chính quyền. Năm 1960, ông Trần Thành đã thành lập công ty Thiên Hương, trụ sở tại 118 Hải Thượng Lãn Ông, với nhà máy sản xuất bột ngọt mang thương hiệu Vị Hương Tố. Nhà máy có công suất lớn, với thiết bị nhập từ Nhật Bản, được đánh giá là hiện đại nhất Đông Nam Á lúc bấy giờ. Ngay bước đầu, nhờ chất lượng tốt mà giá lại rẻ nên bột ngọt Vị Hương Tố sớm được các bà nội trợ đón nhận. Thừa thắng xông lên, Nhà máy bột ngọt Vị Hương Tố còn sản xuất thêm mì gói, mì chay, tàu vị yểu, và đều rất thành công. Các nhà máy sợ nhất là nguồn nguyên liệu bất ổn, bị đầu cơ, thao túng… trong khi đó ông Trần Thành lại là nhà cung cấp nguyên liệu lớn nhất thời đó. Việc vừa thu mua cung cấp nguyên liệu lại vừa sản xuất, mua tận ngọn bán tận gốc như vậy nên sản phẩm của ông bán ra lúc nào cũng có giá rất cạnh tranh. Bột ngọt Vị Hương Tố có logo tương đối giống logo công ty Ajinomoto của Nhật Bản, đối thủ chính của ông Trần Thành mới ra mắt: đều có hình một cái tô màu đỏ. Logo Vị Hương Tố là tô mở nắp chứ không đóng kín như logo Ajinomoto. Phía trên cái tô mở nắp là ba sọc đỏ lớn chạy dọc, nhìn như khói thức ăn và hương thơm tỏa ra ngào ngạt rất sinh động. Ngoài chiến lược cạnh tranh về giá, thành công của Vị Hương Tố còn nhờ những khuyến mãi mát tay của ông Trần Thành. Nghiên cứu thói quen của các bà nội trợ, thấy rằng đồ dùng nhà bếp được mua nhiều nhất, ông khuyến mãi tặng tô, chén và muỗng khi mua bịch bột ngọt lớn, vừa và nhỏ. Bột ngọt vừa rẻ lại được tặng tô nên bán rất chạy, Vị Hương Tố tung tiếp khuyến mãi tặng tô chén theo bộ: Phúc Lộc Thọ, Mai Lan Cúc Trúc, Xuân Hạ Thu Đông… làm cho các bà nội trợ muốn mua trọn bộ, nhiều khi nhà chưa hết bột ngọt cũng ráng mua thêm cho đủ bộ khuyến mãi. Từ lợi nhuận kếch xù của Nhà máy bột ngọt Vị Hương Tố, ông tiếp tục đầu tư vào nhiều ngành nghề khác như: khách sạn, nhà hàng, bệnh viện, và trường học, mà lĩnh vực nào cũng thắng. Nhiều bệnh viện ở khu vực Chợ Lớn còn lại cho đến ngày nay đều có sự đóng góp của ông Trần Thành: Bệnh viện Nguyễn Trãi, Nguyễn Tri Phương, An Bình, Chấn Thương Chỉnh Hình… Thời đó, có nhà báo hỏi ông bí quyết để thành công trong kinh doanh. Ông Trần Thành nói  bí quyết đó đơn giản chỉ là điều mà người Á Đông đã biết từ ngàn xưa: Chữ Tín, lòng trung thực và sự kiên trì. Làm ăn mà không giữ được chữ Tín và sự trung thực thì chẳng bao giờ có thể trở thành “ông chủ lớn” nổi. Của cải mất đi còn có thể gây dựng lại được, nhưng uy tín không còn thì coi như trắng tay. Ngoài ra, khi ở tuổi xấp xỉ 40, ông Trần Thành được bầu làm bang trưởng Triều Châu, đại diện cho người Hoa để liên hệ với chính quyền. Với vai trò này, ông đã giúp đỡ nhiều người có ý chí mượn vốn, nhà ông lúc nào cũng có người tới xin ý kiến làm ăn. Tuy thành công tột đỉnh như vậy, nhưng ông Trần Thành cũng không qua khỏi ải mỹ nhân. Từ một người sống cần kiệm, tránh xa chốn ăn chơi từ lúc bắt đầu khởi nghiệp, ông đã trở thành một người vung tiền để chiếm được trái tim của người đẹp nức tiếng người Đài Loan. Đó là nữ minh tinh – ca sĩ Thang Lan Hoa (Tang Lan Hua), từng nổi tiếng khắp miền Nam với phim Đài Loan tên là Ngàn Thu Vĩnh Biệt cùng nam tải tử Dương Quần. Trong một lần sang Sài Gòn biểu diễn theo lời mời của cộng đồng người Hoa, diễn viên Thang Lan Hoa với vẻ đẹp sắc sảo đã làm “ông vua không ngai trong vương quốc Chợ Lớn” mê mẩn. Ông Trần Thành đã tìm mọi cách làm quen và gần gũi người đẹp. Để đạt được mục đích, ông đã không ngại bỏ ra hàng núi tiền dưới chân Thang Lan Hoa. Cuối cùng, những món quà tặng của nhà tỉ phú đa tình này là những viên đá quý đắt giá, quý hiếm trong thế giới kim hoàn, cũng đã làm xiêu lòng mỹ nhân xứ Đài. Từ đó, ông Trần Thành thường xuyên đi về Đài Loan như đi chợ. Ông sẵn sàng chi tiền một cách hào phóng mua lấy lạc thú cuộc đời. Nhưng chỉ được một thời gian, ông chia tay với người đẹp xứ Đài và có mối quan hệ với 1 phụ nữ khác người Tân Gia Ba, họ có với nhau một người con gái tại đây. Thời gian sau đó, khi đến chơi tại vũ trường Maxim’s của nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ, ông Trần Thành quen với một vũ nữ, là người sau đó trở thành người vợ sống với ông cho đến lúc cuối đời. Cô vũ nữ này được gọi gọi với cái tên Hoa là Phánh Dứng, tên Việt là Phan Anh, rất xinh đẹp và tính tình được lòng nhiều người. Một số người quen cho biết bà Phánh Dứng đã hy sinh tuổi xuân khi về sống với ông Trần Thành, cả lúc sau năm 1975, khi ông bị mất hết vì toàn bộ gia sản bị quốc hữu hoá, bản thân ông cũng bị tù tội. Khi đó bà làm tròn đạo tào khang, thăm nuôi cho đến ngày ông mãn hạn, chăm sóc con cái rất tốt. Sau thời điểm năm 1975, công ty Thiên Hương và thương hiệu Vị Hương Tố thuộc nhà nước quản lý, nhưng không thể hoạt động được vì các kỹ sư, công nhân kỹ thuật cao đã đi hết sang nước ngoài, nguồn men vi sinh để sản suất bột ngọt được nhập từ Hongkong cũng không còn nữa. Khi đó, bí thư thành uỷ Võ Văn Kiệt đã yêu cầu khôi phục bằng được hoạt động của nhà máy Thiên Hương. Ban khoa học và kỹ thuật thành phố (phần lớn là nhiều trí thức chế độ Sài Gòn) đã lập hai nhóm để khôi phục: Nhóm cơ khí do ông Nguyễn văn Sơn đứng đầu lo việt kiểm tra lại máy móc. Nhóm chuyên viên vi sinh do bác sĩ Trần Văn Ái (giám đốc viện Pasteur) đứng đầu để khôi phục lại men vi sinh. Nguồn men vi sinh được gửi từ Hongkong hàng tuần trước đó, nay chỉ có hai chai gửi lần cuối từ ngày 23-4-1975 vẫn được bảo quản kỹ trong tủ đá dưới 0 độ C đã được nhóm vi sinh nỗ lực khôi phục lại. Do thời gian bị đông lạnh quá lâu khiến những mẻ đầu chỉ đạt được 30% so với men tươi, nhưng các mẻ sau đã dần dần có chất lượng hơn và Nhà máy Thiên Hương đã hoạt động trở lại được cho đến ngày nay. Hiện nay các loại mì gói mang thương hiệu Vị Hương của cty Thiên Hương Food vẫn còn bày bán ở các siêu thị. Ngày 22/8/2024, khi ở tuổi 61, Trường Vũ - ca sĩ nổi tiếng với các ca khúc "Thân phận nghèo",... Giai điệu Bolero, với xuất xứ từ các thể loại nhạc như Rumba, Habanera, Valse và Tango, đã du nhập... Việc tặng bông trong các buổi đờn ca tài tử đã trở nên phổ biến trong những thập kỷ gần... Trong bài hát "Chiều Trên Phá Tam Giang" của nhạc sĩ Trần Thiện Thanh có câu: "Giờ này Thương Xá... Trong những thập niên 1950, 1960 và 1970, hình ảnh những chiếc taxi hai màu xanh - trắng (hoặc vàng... Những ai từng học ở trường Đại học Văn Khoa xưa, nay là trường Đại học Khoa học Xã hội... © 2020NhacXua.VN- Nhạc Xưa Thời Báo.

Phố biển

Lan Và Điệp là cái tên nổi tiếng trong làng nghệ thuật Việt Nam, bắt đầu từ tiểu thuyết mang tên Tắt Lửa Lòng của nhà văn Nguyễn Công Hoan sáng tác năm 1933. Câu chuyện nói về mối tình lãng mạn, đầy trắc trở của cô gái tên Lan và chàng trai tên Điệp. Do mắc mưu của ông quan Phủ ở tỉnh lẻ, Điệp – học sinh nghèo – phải phụ tình vị hôn thê là Lan để cưới Thúy Liễu, con gái ông Phủ. Lan ôm mối tình tuyệt vọng bỏ nhà đến chùa để cắt tóc đi tu. Cao trào của câu chuyện khi Điệp tìm được ngôi chùa mà Lan đang tá túc, thì cũng đúng lúc nàng trút hơi thở cuối cùng. Tác phẩm “Tắt lửa lòng” nhanh chóng thu hút được sự chú ý của công chúng và được các nghệ sĩ chuyển thể ra nhiều hình thức khác nhau. Ngay từ năm 1936, soạn giả Trần Hữu Trang biên kịch lại Tắt Lửa Lòng và chuyển thể thành vở cải lương Hoa Rơi Cửa Phật năm 1936. Sau đó soạn giả Loan Thảo cũng chuyển thể thành vở mang tên Lan Và Điệp, và đây cũng là cái tên nổi tiếng nhất của câu chuyện Tắt Lửa Lòng. Năm 1964, bộ 3 nhạc sĩ Lê Dinh, Minh Kỳ, Anh Bằng sáng loạt loạt 3 ca khúc Truyện Tình Lan Và Điệp và ăn khách chưa từng thấy, đến năm 1972 đạo diễn Lê Dân làm cuốn phim Lan Và Điệp với dàn diễn viên nổi tiếng, đều xuất phát từ sân khấu cải lương là Thanh Nga, Thanh Tú, Bạch Tuyết. Cái tên Lan Và Điệp dễ gợi nhớ và dễ gọi hơn cái tên gốc của tiểu thuyết, nên từ đó phổ biến rộng rãi trong công chúng. Tác giả Nguyễn Công Hoan kể lại trong hồi ký như sau: “Trong các truyện dài của mình, có truyện Tắt Lửa Lòng và Lá Ngọc Cành Vàng chuyển thể thành cải lương. Không biết ai chuyển thể vì không ai xin phép mình. Một lần, có gánh hát cải lương về Thái Bình. Họ quảng cáon diễn vở Tắt Lửa Lòng của Nguyễn Công Hoan. Có lẽ họ không biết mình ở đấy, hoặc biết mà cố tình lờ đi không nói với mình một tiếng, nên mình cáu lắm, mới tìm đến người chủ gánh hát và cấm diễn. Tối hôm ấy, họ không dám diễn vở Tắt Lửa Lòng. Nhưng vài tối sau thì mình thấy quảng cáo là vở Lan Và Điệp, không nói tên tác giả. Từ đó Tắt Lửa Lòng đổi thành Lan Và Điệp” Trở lại với tác phẩm chuyển thể đầu tiên của Tắt Lửa Lòng là vởcải lươngHoa Rơi Cửa Phật của soạn giả Trần Hữu Trang với sự trình diễn của nghệ sĩ Năm Phỉ, Tư Út. Tác giả Ngành Mai kể lại: Buổi trình diễn khi vở hát mới ra đời ấy, do cô đào Năm Phỉ đóng vai Lan, kép Tư Út đóng vai Điệp, đôi nghệ sĩ tiền phong thượng thặng này đã mở đầu cho hai nhân vật chính Lan-Điệp trở thành bất tử với thời gian (nữ nghệ sĩ tài danh Năm Phỉ từng được huy chương của chính phủ Pháp, của Vua Miên, Quốc Vương Lào, và Hoàng Đế Bảo Đại). Trong lịch sử nghệ thuật sân khấu chưa có vở hát nào được giới mộ điệu ưa thích, đến đỗi càng về sau câu chuyện càng mở rộng xâm lấn sang các lãnh vực văn nghệ khác. Năm 1948, hãng dĩa ASIA đã cho thu âm vở cải lương này vào 4 đĩa nhựa với tựa đề “Hoa rơi cửa Phật”, với sự tham gia của các danh ca Tư Sạng (Lan), Năm Nghĩa (Điệp), Tám Thưa (Hòa thượng), Hồng Châu (Tiểu Huệ Thông). Đĩa nhạc nhanh chóng phổ biến từ Nam chí Bắc, lan đến Cao Miên và Lào. Theo như nhà phát hành lúc ấy cho biết, kiều bào xứ Chùa Tháp tiêu thụ dĩa hát này nhiều gấp 3, 4 lần đại lý dĩa hát ở Cần Thơ. Do ở đất Miên dễ làm ăn, người ta dám mua sắm, vả lại số người sang đây lập nghiệp đại đa số là người Nam Kỳ Lục Tỉnh, mà cổ nhạc cải lương đã gắn liền với đời sống tinh thần của họ. Click để nghe lại Hoa Rơi Cửa Phật thu âm năm 1948 Dĩa “Hoa Rơi Cửa Phật” cũng được đưa sang Lào và cả ở bên trời Tây, do vậy mà kiều ở Pháp vẫn còn những người lưu giữ các dĩa hát xưa ấy. Song song đó cuốn bài ca “Hoa Rơi Cửa Phật” cũng được ra đời bán ở các chợ miền quê, chợ nhỏ, lớn nào cũng có người bán. Rồi cũng từ đó các gánh hát bầu tèo (gánh hát nhỏ) ở thôn quê đã sao chép lời ca, lời đối thoại, rồi thêm thắt vào dựng lên tuồng cải lương “Lan và Điệp” phục vụ bà con ở thôn quê và cũng được hoan nghinh. Năm 1970, khi phong trào kịch nói lớn mạnh, ban kịch Kim Cương đã trình diễnvở kịch nói “Lan và Điệp”,do chính nghệ sĩ Kim Cương thủ vai Lan (Kim Cương là cháu ruột của nghệ sĩ Năm Phỉ – người đầu tiên đóng vai Lan). Vở kịch này cũng thu hút được sự chú ý của khán giả không kém cải lương và nhanh chóng được phát trên truyền hình lúc đó. Cùng thời điểm này, kịch bản cải lương Chuyện tình Lan và Điệp của tác giả Loan Thảo với sự trợ giúp của soạn giả Thế Châu đã được thu thanh và trở thành bản ghi âm chuẩn mực nhất cho vở tuồng này tính đến hiện tại. Tham gia vở diễn là các giọng ca nổi tiếng như Chí Tâm (Điệp), Thanh Kim Huệ (Lan), Tú Trinh (Thúy Liễu), Hữu Phước (ông Tú – ba của Lan),… Nghe tuồng Lan Và Điệp thập niên 1970 Lan Và Điệp cũng đi vàotân nhạctừ năm 1964, trở thành bài hát đầu tiên mở màn thành công rực rỡ cho sự kiết hợp của bộ 3 nhạc sĩ Lê Minh Bằng. Vào khoảng năm 1964-1965, khi cái tên Lê Minh Bằng chưa được sử dụng thì 3 nhạc sĩ Lê Dinh, Minh Kỳ và Anh Bằng đã thử nghiệm sáng tác cùng nhau, và 1 trong những ca khúc đầu tiên chính làChuyện Tình Lan Và Điệp 1(tên chính xác làTruyện Tình Lan Và Điệp – ca khúc 1)– Bài hát có doanh số bán nhạc tờ được hàng triệu bản, một kỷ lục vào thời đó. BàiTruyện Tình Lan Và Điệpđược ký tên sáng tác là Mạc Phong Linh – Mai Thiết Lĩnh – một cái tên rất lạ, được nhạc sĩ Lê Dinh giải thích là một phần muốn gây sự chú ý đến công chúng, một phần là vì cả 3 không tự tin về sự thành công của một ca khúc “ăn theo” tuồng cải lương rất nổi tiếng thời ấy, nên không muốn lấy bút danh chính vì lỡ có ca khúc bị thất bại thì không bị ảnh hưởng đến danh tiếng nhiều năm của các nhạc sĩ. Trái ngược với sự lo sợ đó,Truyện Tình Lan Và Điệpcó được thành công chưa từng có, làm tiền đề để họ cùng sáng tác thêm Lan Và Điệp 2,3 – cũng đều rất ăn khách. Trong vài chục sáng tác nổi tiếng của nhóm Lê Minh Bằng, bộ 3 ca khúc Truyện Tình Lan Và Điệp vẫn là ăn khách và bán chạy nhất. Bài hát này được Nhật Trường và Hoàng Oanh thu thanh lần đầu trong dĩa nhựa và liên tục được phát trên đài phát thanh những năm giữa thập niên 1960. Khán giả yêu cầu phát thanh“Truyện Tình Lan và Điệp”hàng ngày, hàng tuần, liên tiếp trong nhiều tháng trời, tầng suất phát gấp chục lần các bài hát khác. Click để nghe Truyện Tình Lan Và Điệp (Nhật Trường – Hoàng Oanh) Các bản nhạc tờ của bài hát được in ra không đủ bán. Nhà in Tương Lai ở đường Trần Hưng Đạo có bao nhiêu máy in cũng được sử dụng để in “Truyện Tình Lan và Điệp 1″ (Sau đó là Lan và Điệp 2,3) ròng rã suốt ngày đêm, nhạc sĩ Lê Dinh phải xuống nhà in ngủ lại để giám sát việc in ấn, đề phòng nhà in cho in nhiều hơn số lượng đặt hàng để tuồn bán lậu. Tổng cộng là gần 4 triệu rưỡi bản nhạc (của 3 ca khúc) được in ra trong vòng hai năm. Mỗi bản nhạc được bán ra 5 đồng thì tổng thu về được gần 15 triệu đồng, sau khi đã trừ chi phí. Nhạc sĩ Lê Dinh kể lại: “Chúng tôi không bao giờ có thể ngờ được những bài như “Truyện Tình Lan và Điệp”, “Cô Hàng Xóm” và nhiều bài khác – cũng thuộc loại bài có lời ca hợp với đa số người bình dân – lại được phần đông mến chuộng. Bằng cớ là mỗi lần xuất bản đến 10.000 bài, chỉ trong vòng một tuần lễ là hết sạch. Các đại lý yêu cầu tái bản tới tấp, chúng tôi phải có mặt suốt đêm trong nhà in Tương Lai, đường Trần Hưng Đạo, để lo in cho kịp. Có nhiều bài có mức phát hành lên đến cả trăm ngàn bản. Chúng tôi đã đúc kết được điều quý giá, là muốn một bài nhạc được phổ thông và được chấp nhận thật sâu trong dân chúng, ngoài nét nhạc dễ thuộc, dễ nhớ… còn phải thật dễ thương. Nghĩa là âm điệu phải uyển chuyển, có hồn nhạc, thính giả dễ nhớ thoang thoáng âm điệu khi nghe qua lần đầu. Về phần lời ca, đừng quá giản dị (đại loại như “Ước gì mình đừng ngăn cách, nhà mình chung vách, hai đứa mình thức trắng đêm nay”), nhưng cũng đừng quá cầu kỳ, đừng bắt người ta nghe nhưng không hiểu gì hết…” Ngòi ra, Lan Và Điệp cũng được đưa lênmàn ảnh rộngnăm 1972, đó là cuốn phim mang tên Tình Lan Điệp của hãng Dạ Lý Hương Phim. Lời giới thiệu của phim được ghi như sau: Sau lần đầu tiên thành công vượt bực về phim Quái Đản “Con Ma Nhà Họ Hứa”, năm 1972 Dạ Lý Hương Phim long trọng trình chiếu một xuất phẩm giá trị Nghệ thuật và Kỹ thuật: Tình Lan Và Điệp. Phóng tác theo tiểu thuyết tình cảm bất hủ “Tắt Lửa Lòng” của cố văn sĩ lừng danh Nguyễn Công Hoan. Một bộ phim đen trắng 35mm “Tình Lan và Điệp”, dài 1 giờ 30 phút do đạo diễn Lê Dân thực hiện công phu và tốn kém nhất. Dàn cảnh vĩ đại với đền đài dinh thự, y trang cổ truyền thuần túy Việt Nam đúng theo nguyên tác “Tắt Lửa Lòng”. Phim có sự góp mặt của các diễn viên: Thanh Nga (vai Lan), Thanh Tú (Điệp), Bạch Tuyết (Thúy Liễu), Ba Vân (Ông Phủ), Ngọc Giàu (Bà Phủ), Năm Châu (Ông Giáo), Dũng Thanh Lâm (Cai Tư), Út Bạch Lan, Bé Bự, hai vua hề Tùng Lâm, Thanh Hoài, Phương Quang, Bảy Ngọc, Kiều Mai Lý, Tư Rợm… và trên 20 nghệ sĩ tên tuổi. Địa điểm quay nồng cốt là một ngôi chùa trên núi Bửu Long, đường cheo leo hiềm trở và chuyên viên phải dựng lên những chiếc lều cây khổng lồ để đặt máy lấy hình. Địa điểm kế là một ngôi nhà uy nghi rộng rãi và giàu sang, ngôi nhà đó là của ông Mười Công một nhân vật có tiếng vùng Nhà Bè, tại ngôi nhà này từng là nơi đoàn của Thẩm Thúy Hằng quay phim “Ngậm Ngùi”, đoàn Kim Cương quay phim “Mưa Trong Bình Minh”. Từ lĩnh vực cải lương, qua đến điện ảnh thì Thanh Nga vẫn tiếp tục được giao cho vai Lan – người sư nữ trẻ đẹp lòng còn vướng víu nợ trần ai. Ba Vân và Ngọc Giàu trong vai ông bà Phủ hóa trang theo lối xưa, đeo thật nhiều trang sức, bới tóc cổ điển, áo bà ba quần satin đen bóng loáng. Đặc biệt là cô dâu Bạch Tuyết trong vai Thúy Liễu con gái ông bà Phủ, mặc áo thụng lòe loẹt, tóc quấn với khăn vành và nón quai thao thật xưa, chân đi hài con rồng, dáng đi yểu điệu. Thanh Tú vai Điệp với áo dài khăn đóng màu đen. Đạo diễn Lê Dân đã có sáng kiến dựng lại một đám cưới xưa thật xưa và công phu nhất, một chiếc xe thổ mộ thật xưa kết đầy hoa lá xanh đỏ, một dây pháo dài 25 thước đã được đốt lên rộn rã trong ngày tân hôn. Câu chuyện nói về một thanh niên tên Điệp (Thanh Tú đóng), nhà nghèo, nhưng nhờ mẫu thân buôn tần bán tảo ngược xuôi, và nhờ một người bạn thân với cha chàng khi xưa là ông Giáo (Năm Châu) giúp đỡ nên chàng vẫn được tiếp tục theo đuổi việc học, lúc nào chàng cũng mong mình sớm thành đạt để có dịp đi làm, đền đáp lại công ơn của mẹ già. Ông Giáo có một người con gái tên Lan (Thanh Nga), đã cùng Điệp đính ước rằng sau này sẽ nên duyên vợ chồng. Chuyện tình của họ đã diễn ra thật thơ mộng êm đềm trong vòng lễ giáo và được sự chấp thuận của cha mẹ hai bên. Kỳ thi đó Điệp đậu bằng Thành chung, chàng về quê báo tin mừng cho mẹ, ông Giáo và Lan hay. Chính vì chuyện thi cử này mà cuộc đời Điệp bắt đầu đã vào một khúc quanh mới với nhiều sóng gió. Quan Phủ sở tại (Ba Vân) có cô con gái là Thúy Liễu (Bạch Tuyết), vì mê đàn hát nên thất thân với Cai Tư (Dũng Thanh Lâm). Muốn cho gia đình khỏi mang tiếng xấu vì con gái chửa hoang, Quan Phủ đã cố tìm cách gài bẫy để bắt buộc Điệp phải nhận lời lấy Thúy Liễu về làm vợ. Một hôm Quan Phủ cho mời Điệp đến dùng cơm. Trong bữa tiệc, quan cố nài Điệp uống rượu thật say. Khi chàng quá chén không còn biết trời trăng gì nữa, Quan cho khiêng chàng vào nằm trên giường của Thúy Liễu. Sáng hôm sau Quan giả vờ làm dữ khi bắt gặp quả tang Điệp trong buồng của con gái mình. Dù biết mình bị gài bẫy, nhưng Điệp không có cách gì để chống lại ý muốn của Quan Phủ, chàng đành phải nhận lời lấy Thúy Liễu với cõi lòng tan nát khi nghĩ tới Lan. Một đám cưới đã được cử hành rấp rút và thật linh đình giữa chàng thư sinh tên Điệp và con gái Quan Phủ. Cũng chính trong ngày hôm đó, Lan đã âm thầm bỏ nhà tìm đến một ngôi chùa ở một miền hẻo lánh nọ để xin cắt tóc đi tu… Câu chuyện gốc trong tiểu thuyết Tắt Lửa Lòng: Truyện kể về cuộc tình lãng mạn, bi ai giữa chàng học trò nghèo tên Điệp và cô gái cùng quê tên Lan, tại làng Văn Ngoại, khu vực chợ Gỏi thuộc vùng Hải Dương xưa, thời kỳ Nguyễn Công Hoan đang dạy học ở đó. Vũ Khắc Điệp là con ông Cử làm nghề dạy học. Ông Cử kết giao với ông Tú, bố của Nguyễn Thị Lan và hai gia đình hứa gả con và kết tình thông gia với nhau. Khi ông Cử mất, mọi công việc lo toan cho Điệp học hành đều do ông Tú đảm nhiệm. Tình cảm hai nhà gắn bó keo sơn. Trần Thúy Liễu là con gái ông Phủ Trần, tính cách xấu xa, tinh nghịch, phải lòng và có bầu với Tư Kềnh, một lính khố xanh đóng gần nhà Thúy Liễu. Điệp sau khi thi lần đầu bằng Thành Chung bị trượt, đến khi thi lần hai thì gặp ông Phủ Trần là bạn học khi xưa với ông Cử – bố của Điệp, ông Phủ có hứa giúp đỡ Điệp đỗ kỳ thi này và còn tìm việc làm cho tại Phủ. Điệp ở nhà ông Phủ Trần và bị mắc lừa nằm ngủ với Thúy Liễu trong lúc say rượu, nên ông Phủ Trần tìm mọi cách ép Điệp cưới Thúy Liễu để tránh mọi dị nghị của xã hội và kiếm cho con mình một tấm chồng hợp pháp. Đồng thời ông Phủ Trần cũng đuổi mọi người làm việc ở Phủ để không ai còn biết Thúy Liễu có quan hệ trước đó với Tư Kềnh. Sau khi nhờ một ông chánh án Phủ Trần để giúp đỡ thi đậu thì Điệp mắc ơn ông Phủ Trần đó và bị ông ta dụ uống say và bỏ vào chung phòng với cô con gái mập và không được nết na lắm của ông ta tên là Thúy Liễu. Bị vu cho ngủ chung với Thúy Liễu, thế nên ép Điệp phải cưới cô ta. Gia đình Lan và Điệp hết sức buồn rầu vì việc này. Ngày Điệp cưới Thúy Liễu cũng là ngày Lan cắt tóc đi tu. Nhưng chỉ sau vài tháng thì cãi nhau và Điệp li dị với Thúy Liễu. Rồi Điệp đi tìm đến ngôi chùa nơi Lan tu và giật chuông nhưng Lan không những không tiếp mà còn cắt dây chuông. Vậy nên Điệp thất vọng đi luôn, và muốn gầy dựng cơ nghiệp trước rồi quay lại chuyện nhân duyên sau. Sau đó Thúy Liễu lấy chồng khác là Hoàng Xuân Long – một ông quan Phủ và có 3 đứa con, có một người tên là Hoàng Trần Vũ cùng họ với Vũ Khắc Điệp. 13 năm sau, cha mẹ của Lan, Điệp và Thúy Liễu đều mất. Người con tên Vũ bị đối xử lạnh nhạt, cả gia đình không yêu thương và cả mẹ và cha nuôi cũng ghẻ lạnh. Vũ biết Điệp là chồng trước của mẹ mình và khi cha nuôi hắt hủi đưa địa chỉ thì Vũ đến tìm Điệp. Điệp kể lại sự oan trái của cả hai và đưa địa chỉ của cha đẻ cho Vũ. Vũ đi tìm cha và biết được sự thật rằng ngày ấy Thúy Liễu đã quyến rũ người canh gác tên Cách này, và khi sinh ra Vũ bị Thúy Liễu bóp cổ nhưng Vũ vẫn không chết. Vũ quay về bệnh viện nơi Điệp làm việc và định gửi hai hộp kẹo có thuốc độc cho ba và mẹ mình nhưng bị Điệp biết nên tráo lại. Cũng vào ngày đó, Điệp nhận được một bệnh nhân sắp chết là Lan. Điệp khi đó mới biết rằng, Lan vì quá buồn nên không đọc thư của Điệp và ôm hận một mình trong lòng mà gây bệnh. Đông Kha – nhacxua.vn Ngày 22/8/2024, khi ở tuổi 61, Trường Vũ - ca sĩ nổi tiếng với các ca khúc "Thân phận nghèo",... Giai điệu Bolero, với xuất xứ từ các thể loại nhạc như Rumba, Habanera, Valse và Tango, đã du nhập... Việc tặng bông trong các buổi đờn ca tài tử đã trở nên phổ biến trong những thập kỷ gần... Trong bài hát "Chiều Trên Phá Tam Giang" của nhạc sĩ Trần Thiện Thanh có câu: "Giờ này Thương Xá... Trong những thập niên 1950, 1960 và 1970, hình ảnh những chiếc taxi hai màu xanh - trắng (hoặc vàng... Những ai từng học ở trường Đại học Văn Khoa xưa, nay là trường Đại học Khoa học Xã hội... © 2020NhacXua.VN- Nhạc Xưa Thời Báo.

Tuyệt Phẩm Thơ Phổ Nhạc

Xem tất cả

Kho Tàng Lưu Trữ

Tác phẩm tiêu biểu

Xem tất cả
Featured Story

Diễm xưa

Tổng quan “Diễm xưa” là tình khúc tiền chiến diễm lệ và nổi tiếng nhất của Trịnh Công Sơn, sáng tác năm 1960 tại cố đô Huế. Tác phẩm lấy cảm hứng từ...

Bài viết nổi bật
Mới cập nhật

Bao Giờ

Tác phẩm mới được tổng hợp và đưa vào hệ thống.

Tác phẩm
Mới cập nhật

Ba Mươi Năm

Tác phẩm mới được cập nhật vào kho lưu trữ kỹ thuật số.

Tác phẩm

Góc Kiến Thức

Ngày này năm xưa

Tháng 5 năm 2014: Hiện tượng "Chắc ai đó sẽ về" làm khuynh đảo các bảng xếp hạng V-Pop, đồng thời mở ra cuộc tranh luận lớn nhất về vấn đề bản quyền trong lịch sử âm nhạc Việt Nam.

Bạn có biết?

Bức Tường là ban nhạc rock đầu tiên của Việt Nam có tour diễn xuyên Việt và từng được nhận Huân chương Lao động hạng Ba.

Kỷ lục Âm nhạc

  • 🏆 Nghệ sĩ nam có nhiều MV trăm triệu view nhất: Sơn Tùng M-TP
  • 🏆 Cống hiến nhiều nhất: Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn

Kết nối nghệ sĩ & Tác phẩm

NETWORK HIGHLIGHT

Làn Sóng Xanh Era

Khám phá mạng lưới kết nối giữa các nhạc sĩ và ca sĩ định hình âm nhạc đại chúng Việt Nam những năm 1990-2000.

Khám phá bản đồ
Bộ sưu tập

Giai Thoại & Câu Chuyện

Những câu chuyện thâm cung bí sử, hoàn cảnh sáng tác phía sau những bài hát bất hủ.

Bộ sưu tập

Thơ Phổ Nhạc

Sự giao thoa tuyệt đẹp giữa thi ca và âm nhạc. Những bài thơ được chắp cánh bởi giai điệu.

Vintage sheet music and instruments
Bộ sưu tập đặc biệt

Giai đoạn vàng trước 1975

Một góc nhìn sâu sắc về các trào lưu âm nhạc đa dạng đã nảy nở tại Sài Gòn.