Phượng Hằng
update_topic(strategic_intent='Creating an encyclopedia entry for Phượng Hằng based on the provided data, adhering to all specified formatting and con...
Khám phá kho lưu trữ kỹ thuật số, nơi kết nối các thế hệ nghệ sĩ, câu chuyện đằng sau những bản nhạc bất hủ và mạng lưới tri thức âm nhạc sâu rộng.
update_topic(strategic_intent='Creating an encyclopedia entry for Phượng Hằng based on the provided data, adhering to all specified formatting and con...
Tổng quan Bài hát "Bao Giờ" do nhạc sĩ Đỗ Bảo sáng tác phần nhạc. Phần lời và năm sáng tác: Đang cập nhật. Nội dung nghệ thuật "Bao Giờ" mang đặc t...
Tổng quan Tên bài hát: Anh đứng đây là đâu Người sáng tác nhạc: Đang cập nhật Người viết lời: Đang cập nhật Năm phát hành: Đang cập nhật Nội dung n...
update_topic(strategic_intent='Creating an encyclopedia entry for Phương Vy based on the provided data, following specified formatting and content rul...
Tổng quan Bài hát "Anh vẫn buồn như xưa" được sáng tác và viết lời bởi nhạc sĩ Tăng Nhật Tuệ. Năm sáng tác: Đang cập nhật. Tăng Nhật Tuệ là một nhạc ...
Trình duyệt của bạn không cho phép chơi nhạc. Ba mươi năm - Võ Tá Hân phổ nhạc, Khắc Dũng trình bày...
Khởi đi từ những năm cuối thập niên 60 cho đến năm 1975, những người yêu nhạc có lẽ ai cũng biết đến một chương trình ca nhạc truyền hình và truyền thanh lấy tên của chính người nhạc sĩ thực hiện là Phạm Mạnh Cương. Chương trình Phạm Mạnh Cương với nữ xướng ngôn viên Như Hảo được coi là một trong những chương trình ca nhạc giá trị vào thời điểm vàng son nhất của âm nhạc miền nam Việt Nam. Ngoài những chương trình lấy tên Phạm Mạnh Cương, người nhạc sĩ sinh trưởng tại Huế vào năm 1935 này còn phụ trách chương trình phát thanhChiến Sĩ và Nghệ Sĩtrên đài Quân Đội và cộng tác với nhiều chương trình khác trong vai trò xử dụng guitar với các ban Võ Đức Tuyết, Hoàng Lang, Nguyễn Đức, Tô Kiều Ngân… Nhạc sĩ Phạm Mạnh Cương đã sáng tác khoảng 100 nhạc phẩm, với bài hát đầu tiên làMái Trường Xưatừ năm 1951, được phổ biến rộng rãi tại Huế. Nhưng đến năm 1953 thì tên tuổi Phạm Mạnh Cương mới bắt đầu được biết đến với nhạc phẩmThu Ca, sáng tác tại Hà Nội. Sau khi viết xongThu Ca, nhạc sĩ Phạm Mạnh Cương gửi bài này đến đài phát thanh Hirondelle để sau đó được nữ ca sĩ Thanh Hằng phổ biến trên làn sóng điện. Một thời gian sau,Thu Cađã được rất nhiều ca sĩ trình bày cho đến sau này tại hải ngoại, được tác giả dùng làm nhạc hiệu quen thuộc cho những chương trình ca nhạc của Phạm Mạnh Cương. DùThu Cađược coi như một nhạc phẩm thành công của Phạm Mạnh Cương trong bước đầu sáng tác, nhưng phải một thời gian khá dài sau đó, tên tuổi ông mới thật sự chiếm được một chỗ đứng cao kể từ năm 1959. Nhạc sĩ Phạm Mạnh Cương tâm sự:“Trong gia tài âm nhạc khoảng 100 ca khúc của tôi, có 2 bài để đời là Thu Ca và Thương Hoài Ngàn Năm. Thu Ca viết năm 1953, điệu tango. Lúc này, tôi đang học trường Cao Đẳng Sư Phạm và Cử Nhân Văn Chương ở Hà Nội. Một chiều thu trời buồn man mác, gió heo may se lạnh, tôi thơ thẩn ngang qua trường Trưng Vương, hình ảnh những nữ sinh trong tà áo dài bay trong gió mùa thu Hà Nội đẹp ru hồn làm bật lên giai điệu: Lạnh lùng sương rơi heo mayBuồn ngơ ngác bóng chim bayMây tím giăng sầu đó đâyNgày đi chiều mang sầu tới…” Nhờ năng khiếu, Phạm Mạnh Cương tự mò mẫm học nhạc lý và đàn guitar qua sách vở và qua những khóa học hàm thụ về hòa âm từ Paris. Ông cho biết có thể một phần thừa hưởng dòng máu văn nghệ của thân phụ ông là một người yêu thích cổ nhạc và biết sử dụng đàn và sáo, nên từ khi còn nhỏ ông đã tỏ ra có một sự đam mê với âm nhạc âm hưởng Tây Phương. Với chiếc radio cũ kỹ, nhạc sĩ Phạm Mạnh Cương đã bỏ ra rất nhiều thời gian để nghe những chương trình nhạc, phát thanh trên những đài Pháp Á và Hirondelle ở Hà Nội. Từ thời trẻ ông đã nghe và thích những nhạc phẩm của Đoàn Chuẩn – Từ Linh như Dang Dở, Gửi Gió Cho Mây Ngàn Bay, Thu Quyến Rũ…, có lẽ vì vậy mà một số sáng tác của Phạm Mạnh Cương có sự phảng phất cái bàng bạc mênh mang của dòng nhạc tiền chiến và bóng hình mùa thu trong nhạc Đoàn Chuẩn. Sau khi đậu Tú Tài 2 ở Huế vào năm 1953, Phạm Mạnh Cương rời Huế để ra Hà Nội theo học Cao Đẳng Sư Phạm, lúc đó ông đã sáng tác bài hát nổi tiếngGiã Từ Cố Đô. Học xong ở Hà Nội, ông lại trở về Huế, là nơi ông đã từng hợp tác với đài phát thanh ở đây vào những năm cuối bậc trung học tại trường Khải Định, trong chương trình văn nghệ học sinh hàng tuần với một ban nhạc mà ông cũng là một thành viên. Đến năm 1954, Phạm Mạnh Cương một mình vào Nam. Từ năm 1955, người con thứ 5 trong một gia đình gồm 9 người con, khởi đầu cuộc đời dạy học. Sau 3 năm dạy các môn Việt Văn, Sử Địa và Triết Học tại trường Nguyễn Đình Chiểu, Mỹ Tho, ông về dạy tại trường Pétrus Ký – Sài Gòn từ năm 1958 cho đến năm 1975. Ngoài ra ông còn bận dạy tại nhiều trường tư khác như Hưng Đạo, Văn Học, Lê Bảo Tịnh, Bồ Đề, Nguyễn Văn Khuê, Văn Hóa… mà ông ví von như những ca sĩ hiện nay chạy show. Mặc dù nghề dạy học là nghề tay phải, nhưng Phạm Mạnh Cương cho rằng chính nghề tay trái là âm nhạc đã chiếm được một chỗ đứng quan trọng trong đời sống của ông, trong đó dĩ nhiên có phần không nhỏ về mặt kinh tế. Trong thời kỳ hoạt động mạnh nhất của ông, kéo dài gần 10 năm ở Sài Gòn kể từ năm 1966 đến 1975, Phạm Mạnh Cương có thể coi như một trong những người đã đưa việc thực hiện băng nhạc vào lĩnh vực kinh doanh dưới nhãn hiệu Tú Quỳnh, với khoảng 20 băng nhạc được phát hành, quy tụ gần như tất cả những tiếng hát lớn như Thái Thanh, Lệ Thu, Khánh Ly, Duy Trác, Sĩ Phú, Thanh Tuyền, Phương Dung. Sau đó là những Phương Hồng Hạnh, Julie Quang, Carol Kim, Thanh Lan… Sau khi từ Huế vào Sài Gòn, Phạm Mạnh Cương sáng tác nhạc phẩmThương Hoài Ngàn Nămvào năm 1956, và đó là nhạc phẩm đầu tiên ông viết tại miền Nam. Đây là một nhạc phẩm nói lên sự đa dạng về tiết tấu trong âm nhạc của Phạm Mạnh Cương, một nhạc sĩ phần lớn chỉ viết nhạc theo điệu Slow, Tango hoặc Boston. Ông cho biết đã lấy cảm hứng từ câu ca dao“Tóc mai sợi vắn sợi dài, lấy nhau chẳng được thương hoài ngàn năm”để sáng tác thành ca khúc này. Theo Phạm Mạnh Cương, phía sau mỗi nhạc phẩm của ông đều ghi dấu một kỷ niệm đã tạo nên nguồn cảm hứng. Từ đó ông liên tiếp tung ra những ca khúc khác như Thung Lũng Hồng, Mắt Lệ Cho Người Tình (sáng tác tại Đà Lạt), Tóc Em Chưa Úa Nắng Hè (hoàn tất tại Nha Trang) và một vài nhạc phẩm ông gọi là “thuộc loại thời trang” như Loài Hoa Không Vỡ, Tình Yêu Đã Mất… và tất cả đã trở thành những nhạc phẩm được nhiều người mến chuộng. Nhưng nhạc phẩm được ông ưa thích nhất vẫn làThu Ca, được coi là một trong những bài tango hay nhất của Việt Nam… Tuy nơi Phạm Mạnh Cương có hai con người khác biệt: một con người mô phạm và một con người nghệ sĩ, nhưng ông không hề để cho hai sự tương phản đó làm xáo trộn hoạt động của mình, trái lại ông đã tạo được một sự hỗ tương giữa hai lãnh vực vì“Với tôi, tôi thu xếp đâu ra đó. Dạy học vẫn làm tròn bổn phận của một nhà giáo, còn nghệ sĩ thì hoạt động hoàn toàn là một nhạc sĩ… Có lẽ tôi mang một tính chất nhà giáo để qua hoạt động bên văn nghệ”. Chính nhờ vậy, hoạt động của ông trở nên quy củ do sự áp dụng đặc tính nề nếp của một nhà mô phạm vào lãnh vực nghệ thuật. Còn riêng với môn Triết học được coi là môn dạy chính yếu của ông, Phạm Mạnh Cương cho biết không hề ảnh hưởng đến nội dung của những nhạc phẩm ông sáng tác vì ông quan niệm“lời ca phải làm sao cho người ta cảm, chứ đừng có viết một cách cao xa quá”. Ông nhấn mạnh thêm, hình ảnh trong âm nhạc phải là một hình ảnh cụ thể“nhưng không phải là cụ thể một cách tầm thường, nhưng là một một sự cụ thể có thi vị”. Cũng do sự tưởng tượng phong phú của một nghệ sĩ, Phạm Mạnh Cương cho biết không hẳn bài tình ca nào ông viết cũng đều đến từ một mối tình có thật, và thật ra đó cũng chẳng phải là lý do chính để ông viết nhạc. Vào năm 1961, trong dịp trở ra Huế chấm thi Tú Tài phần 2, Phạm Mạnh Cương gặp Như Hảo, một thí sinh từ Đà Nẵng vào Huế dự thi, trong dịp này ông đã sáng tác nhạc phẩmMơ Bến Hàn Giangđể tặng cho người yêu. Nhạc phẩm này đã được Thái Thanh trình bầy đầu tiên. Chỉ một năm sau đó, vào năm 1962, Phạm Mạnh Cương và Như Hảo trở thành vợ chồng qua lễ thành hôn tổ chức tại Đà Nẵng. Vài năm sau hai người cùng nhau sát cánh trong những sinh hoạt ca nhạc trên đài truyền hình và truyền thanh với những chương trình nhạc mang những chủ đề đặc biệt do Phạm Mạnh Cương khởi xướng qua những bài viết của các tác giả tên tuổi như Duyên Anh, Mai Thảo, Hoàng Hải Thủy… Về lĩnh vực Truyền Hình, năm 1966, Phạm Mạnh Cương được đạo diễn Lê Hoàng Hoa mời thực hiện chương trình ca nhạc đầu tiên cho đài Truyền Hình Việt Nam dưới tên “Hoa Thời Đại”, thời đó còn được phát hình từ trên máy bay trực thăng. Nhạc sĩ Phạm Mạnh Cương và vợ là phát thanh viên Như Hảo trong chương trình Hoa Thời Đại – tiền thân của Chương Trình Phạm Mạnh Cương nổi tiếng Một năm sau chương trình này chính thức đổi thành“Chương Trình Phạm Mạnh Cương”phát hình hàng tuần vào tối thứ bẩy từ 9 đến 10 giờ và kéo dài hoạt động cho đến tháng 4 – 1975. Trong thời kỳ đầu tiên, chương trình Phạm Mạnh Cương có sự tham gia của nhiều giọng ca tên tuổi như: Hoàng Oanh, Phương Hoài Tâm, Mai Hương, Lệ Thu, Khánh Ly… Nhạc sĩ Phạm Mạnh Cương còn là người sáng lập trung tâm băng nhạc Tú Quỳnh tại Sài Gòn và là người đầu tiên chủ trương thu thanh nhạc một cách quy mô để kinh doanh với đà phát hành trung bình mỗi tháng một băng nhạc mới với sự cộng tác của hầu hết các giọng ca tên tuổi như Thái Thanh, Lệ Thu, Khánh Ly, Duy Trác, Thanh Tuyền, Sĩ Phú, Phương Dung, Thanh Lan, Julie Quang, Carol Kim… Sinh sống và hoạt động âm nhạc ở hải ngoại Sau 5 năm sống trong sự xáo trộn và đổi thay của đất nước, Phạm Mạnh Cương cùng 2 con là Mạnh Quỳnh và Diễm Phúc từ Cà Mau đã rời Việt Nam vào năm 1980, để lại Như Hảo và 2 người con khác ở lại. Sau khi ở tại trại Leamsing ở Thái Lan vài tháng, ông cùng hai con được sang định cư tại Montreal – Canada vào tháng 6 năm 1980. Đến năm 1983, vợ ông và hai người con gái được đoàn tụ theo diện bảo lãnh. Nhưng vài năm sau đó, một lần nữa, định mệnh đã đưa đẩy đến sự chia tay giữa hai vợ chồng ông để hiện nay mỗi người mỗi ngả. Phát thanh viên Như Hảo ở hải ngoại Một thời gian ngắn sau khi tới Montreal, ông đã thành lập ban nhạc Phạm Mạnh Cương và hợp tác với nhà hàng Mỹ Trang. Qua năm 1981, ban nhạc ông được mời phụ trách chương trình khiêu vũ cho nhà hàng Văn Hoa, đến năm 1982 ông đứng ra trông coi một quầy bán băng nhạc, sách báo lấy tên Tú Quỳnh trong thương xá Việt Nam trên đường St Laurent, cùng lúc đó là cộng tác với vũ trường mang cùng tên Tú Quỳnh trên lầu thương xá này. Đến năm 1985, ông về khai thác vũ trường Đêm Mầu Hồng trên đường St Denis. Một thời gian sau ban nhạc của ông cộng tác với vũ trường Maxim’s và kế đó là Dallas (tức Maxim’s) cho đến khi vũ trường này ngưng hoạt động. Tuy tình trạng khách đến với vũ trường càng ngày càng thưa thớt, nhưng nhạc sĩ Phạm Đình Chương vẫn không thể từ bỏ được nguồn vui trong âm nhạc của mình, vì vậy sau đó ban nhạc của ông lại thuê được một địa điểm nhỏ khác để tổ chức chương trình ca nhạc và khiêu vũ hàng tuần trên đường St Catherine được một thời gian. Ngoài hoạt động về ca nhạc, Phạm Mạnh Cương còn chủ trương một nguyệt san lấy tên là Thẩm Mỹ. Trung tâm Thúy Nga đã thực hiện cho ông cùng với 2 nhạc sĩ khác ở Canada là Trường Sa và Lê Dinh một chương trình video đặc biệt đề cập về cuộc đời họat động ca nhạc của từng người, mang tựa đề Thu Ca. Với những người thích nghe nhạc thu âm từ trước năm 1975, chắc chắn sẽ biết đến loạt băng nhạc... Trong kho tàng văn hóa dân gian Việt Nam, có một câu ca dao nói về tình yêu thắm thiết... Trong thể loại nhạc trữ tình Việt Nam, có 2 ca khúc có tựa đề gần giống nhau của 2... Trong cuộc đời và sự nghiệp có rất nhiều đóng góp cho nền âm nhạc miền Nam của nhạc sĩ... Xứ Huế là một trong những nôi phát triển rực rỡ của tân nhạc Việt Nam thời kỳ thập niên... Phạm Mạnh Cương là một trong những nhạc sĩ tiêu biểu của làng nhạc miền Nam trước 1975. Không chỉ... © 2020NhacXua.VN- Nhạc Xưa Thời Báo.
Đường hướng hoạt động nghệ thuật của nghệ sĩ Tùng Lâm được xác lập chính thức vào năm 1958, tại đại nhạc hội có tên “Minh tinh – Quái kiệt” tổ chức trong khuôn viên Dinh Độc Lập (dinh Norodom cũ). Khi đó, lần đầu tiên ông được quảng cáo với biệt danh là “Tiểu quái kiệt” Tùng Lâm, tức là trình diễn theo phong cách của quái kiệt Trần Văn Trạch trong những tiểu phẩm hài hước. Tùng Lâm cho biết từ thuở nhỏ, lúc còn lang thang ở các gánh hát, ông có đi theo học nghề nghệ sĩ Trần Văn Trạch, “học lóm” từ ông thầy này rất nhiều ngón nghề. Đặc biệt, trong loạt chương trình Tiếu Vương Hội phát trên truyền hình và ghi âm, những kiểu gây cười bằng cách bắt chước các loại âm thanh, tiếng động cũng là học từ Trần Văn Trạch. Không chỉ vậy, nghệ sĩ Tùng Lâm còn giống với đàn anh Trần Văn Trạch trong lĩnh vực bầu sô, thậm chí còn thành công hơn. Năm 1960, Tùng Lâm thành lập ban Tạp lục, tổ chức các “đại hội tiếu lâm hài hước”, quy tụ nhiều cây hài hàng đầu của làng nghệ thuật, rất thu hút khán giả. Trong một đêm diễn như vậy có nhiều loại hình khác nhau: Ca múa, kịch, nhạc, cải lương, độc tấu nhạc cụ, ảo thuật và tiếu lâm hội. Tùng Lâm vừa là ông bầu, vừa dẫn chương trình, đồng thời cũng là nghệ sĩ biểu diễn. Đây cũng là thời kỳ ông viết ca khúc hài hước nổi tiếng mà hầu như ai từng sống ở miền Nam trước 1975 cũng vài lần được nghe qua, đó là “Xập Xám Chướng”. Nghe Tùng Lâm và Phi Thoàn trình diễn Xập Xám Chướng trước 1975 Về hoàn cảnh sáng tác, Tùng Lâm kể lại rằng lúc đó ông dẫn đoàn Kim Chung 2 đi diễn ở miền Trung. Thường sau mỗi đêm diễn, các nghệ sĩ và cả bầu sô hay tụ tập lại chơi bài xập xám. Vận xui rủi đeo bám “ông bầu” trong suốt 2 tháng trời, Tùng Lâm không biết thắng là gì, đêm nào cũng thua cháy túi. Dù lúc đó ông kiếm được rất nhiều tiền nhưng vẫn nợ nần chồng chất, phải mượn của ông chủ đoàn Kim Chung 200.000 đồng. Sau khi trả hết nợ và trả tiền thù lao cho nghệ sĩ, ông chỉ còn lại đúng 1.000 đồng, nên buồn đời mua 1 chai bia 33 và ôm cây đàn lên sân thượng ngồi nghêu ngao: “Xập xám chướng…xập xám chướng…Bà con hãy nhớ tránh xa thứ này…” Sau lần đó, ông đã thề rằng từ đó sẽ không đụng đến cờ bạc nữa. Bài “Xập Xám Chướng” cảnh báo môn “bác thẳng bần”, khuyên răn những người mê đánh bài hãy tránh xa trò nguy hiểm này, như chính bản thân ông đã trải nghiệm. Chính Tùng Lâm cũng không ngờ là sau đó không lâu Xập Xám Chướng đã đã trở nên nổi tiếng, được hãng đĩa Sóng Nhạc thu và phát hành bán rất chạy như tôm tươi, đi đâu cũng nghe “Xập xám chướng… xập xám chướng…”. Bài hát này không chỉ mỗi tác giả Tùng Lâm hát mà cả danh hài Phi Thoàn cũng thể hiện bằng giọng nhái tiếng Hoa rất ngộ nghĩnh. Nghe Tùng Lâm và Hồng Nga trình diễn Xập Xám Chướng sau 1975 Tuy đã thề, nhưng chứng mê đỏ đen không dễ bỏ, không lâu sau đó tiền bạc trong nhà lần lượt ra đi. Khi đó, Tùng Lâm là một trong những nghệ sĩ kiếm được nhiều tiền nhất trong giới văn nghệ, không chỉ là bầu sô, nghệ sĩ trình diễn tân nhạc, cổ nhạc, diễn kịch, ông còn đóng phim,, lồng tiếng phim nước ngoài, tiền kiếm được không có giờ để đếm. Lúc sinh thời ông kể là cứ nhét đại tiền đầy tủ garde manger (gạc măng rê) rồi cuối tháng mới đếm một lần. Phần gửi vô ngân hàng, phần thì đưa vợ mua vàng, kim cương cất trong các lon sữa Guigoz. Tiền kiếm được dễ dàng và quá nhiều nên ông ăn xài phung phí, đánh bài thâu đêm. Sau này ông kể lại là hễ nhìn thấy lon Guigoz là lại ngậm ngùi nhớ tới vàng kim cương từng chất đầy các lon đều đã bỏ ra đi vì máu đỏ đen của mình. Lời bài hát Xấp Xám Chướng: Xập xám chướng, là xập xám chướngMười ba cái chướng xấu nhất trên đời.Xập xám chướng, là xập xám chướngMười ba con bài rớ vô là bán nhà “Thùng phá sảnh”, là “thùng phá sảnh”Đừng ham “phá sảnh” mà phá sản bây giờ“Thùng phá sảnh”, là “thùng phá sảnh”Đừng nên ham mê mà tan hoang gia đình “Cú lủ tàng tàng” nị bán chiếc Honda“Sảnh sảnh mụ thầu” nị tháo cái Omega“Ba phé ba nơi” nị bán luốt căn nhà,Còn “thùng tàng tàng” thì vợ con cũng xẩy a… Xập xám chướng, là xập xám chướngVào tù ra khám cũng tại nơi mày.Xập xám chướng là liều thuốc đắngBà con hãy nhớ tránh xa cái thứ nàyBà con hãy nhớ tránh xa cái thứ nàyXập xám chướng Những năm tháng cuối đời, khi được hỏi về những người bạn, đồng nghiệp năm xưa, danh hề một thuở... © 2020NhacXua.VN- Nhạc Xưa Thời Báo.
Ba tôi qua đời bất ngờ năm 1964, nhỏ em út còn trong bụng Má. Tôi phải nghỉ học, tìm việc làm ngày đêm để phụ giúp Má tôi nuôi 6 đứa em còn nhỏ dại. Đầu năm 1965, tôi được mời đến dạy kèm Toán cho cô con gái lớn một gia đình người Việt ở Nam Vang. Mỗi ngày 2 tiếng, từ 7 đến 9 giờ tối, từ thứ Hai đến thứ Sáu. Em học trường Providence, còn gọi là trường Bà Phước, lúc đó chỉ dành cho nữ sinh. Em nhỏ hơn tôi một tuổi nhưng mới ở lại Cinquième, trong khi tôi đã đậu Brevet d’Études du Premier Cycle hai năm trước. Có lẽ vì là con gái nhà khá giả nên em hơi… làm biếng học, nhất là toán, géometrie và algèbre. Lúc đầu, tôi hơi nản lòng vì… em nhìn bài vở như thấy ma, tôi thường phải làm bài giùm em, nhưng từ từ em nghe lời tôi khuyên, chịu làm bài, chịu học bài, và được lên lớp mỗi năm. Đầu năm 1968, em học Troisième, chuẩn bị thi Brevet. Tôi kèm em từng môn, giúp em làm những bài vở mà đúng ra tôi không cần giúp. Em trả ơn bằng cách mời tôi ở lại ăn cơm tối. Tôi cho em mượn những quyển sách mà tôi đã học qua, trong một lần trả sách, em kèm theo tấm giấy chỉ viết một câu“cho moi làm amie intime của toi nha”. Tôi gật đầu vì sợ em giận, em không thèm học nữa. Từ đó, em hẹn tôi đi chơi cuối tuần, tôi cũng gật đầu với điều kiện là em phải xin phép Ba Má đàng hoàng và phải ráng học. Tôi biết em thương tôi, tôi cũng thương em. Tôi gọi em là “cô Tiên” vì em có dáng dấp qua cầu gió bay, có bước đi lả lướt nhẹ nhàng như các nàng tiên nữ trong vũ khúc nghê thường, vì em đã mang đến cho tôi những cảm xúc mà người trần gian chưa từng cho tôi trước đó. Những ngày mưa, không đi chơi được thì tôi ngồi hát em nghe bên mái hiên nhà: Một chiều cuối tuần mưa bay lất phất và mây trắng giăng giăngEm đến thăm anh vì trời mưa mãi nên không kịp vềBên anh, em lặng nhìn bầu trời và ánh mắt mộng mơSợ người yêu khóc, khe khẽ bên tai anh kể chuyện ngày xưa. Chuyện xưa kể rằng trên thiên giới ấy ngày vui kết hoa đăngThiên Quốc đang vui một nàng tiên nữ làm rơi ly ngọc ngàĐang say nên trời bèn đọa đày nàng tiên xuống trần gianLàm người dương thế không biết bao lâu mới được quay về trời. Em ơi nàng tiên ấy xuống dương trần một chiều mưa bay nhiềuVà vì thương trần thế, thương kiếp sống phong sươngNên dù rằng một hôm Thiên Quốc trời saiGom mây hồng làm xe đưa tiên vềTiên nói dối tiên còn đang giận trời nên tiên chẳng về đâu. Nàng tiên giáng trần không đôi cánh trắng giờ đang ngắm mưa bayĐang đứng bên anh thầm cầu mưa mãi cho tiên đừng vềAnh ơi lỡ mà trời gọi về thì tiên chẳng về đâu (Bài hát “Huyền Thoại Một Chiều Mưa”) Nhưng tôi luôn nhớ mình là con trai nhà nghèo, chỉ có chiếc Mobylette cà tàng làm chân đi kiếm cơm mỗi ngày. Em là con gái nhà khá giả, đi học có xe đưa rước, về nhà không làm động móng tay vì đã có chị bếp, chị bồi, chị vú lo toan mọi việc. Nếu hai đứa thành vợ thành chồng, em cực thân là cái chắc. Trong một lần kề vai nhau đi quanh công viên Chùa Tháp, trời bỗng dưng mưa. Tôi bật dù che hai đứa nhưng mưa càng lúc càng nặng hột, em bỗng xoay người lại ôm hôn tôi dưới mưa. Tôi than thầm trong bụng “gặp oan gia truyền kiếp rồi”.Năm đó, em thi đậu Brevet và tôi nghỉ dạy vì vừa xin được cái job thư ký kế toán ở hãng L’UCIA, Nam Vang. Lúc trước gặp nhau 5 ngày mỗi tuần, có nhiều thì giờ để nói với nhau những gì muốn nói. Giờ phải chờ đến cuối tuần mới được gặp nhau vài tiếng, nhớ ơi là nhớ. Tôi bắt đầu làm thơ “nhớ em”… Nhớ lúc xưa kia mới biết nhauRồi thương rồi nhớ suốt đêm thâuÐêm nào cũng vái cho mau sángNhớ quá trời ơi! Nhớ phát rầu. Nhớ những chiều em qua phố vắngDáng hồng xen lẫn bóng hàng cauMân mê vạt áo, em e lệNhững lúc anh nhìn, má đỏ au. Nhớ lúc mình đan tay đếm bướcEm run run hỏi: – Sẽ ra sao ?Anh cười, anh nói như đinh đóng:– Anh sẽ yêu em đến bạc đầu! Đưa bài thơ cho em, em bỏ túi nói sẽ về nhà đọc. Tuần sau gặp nhau, em không nhắc gì về bài thơ của tôi mà hỏi tôi nghĩ gì về cuộc sống hai đứa sau này.Tôi nói là nhà tôi nghèo, em nói em biết rồi, tôi phải đi làm giúp Má nuôi các em còn nhỏ, em nói em cũng biết rồi, nếu mình cưới nhau thì em sẽ cực thân hơn là sống với Ba Má em… Em trả lời làm tôi chưng hửng“hiện nay, cái khổ nhất mà “moi” phải chịu đựng hàng ngày là nhớ “toi”, cái cực nhất mà moi phải chịu đựng hàng ngày là làm sao để gặp toi sớm hơn, nên moi không sợ gì cả. Trời sanh voi sanh cỏ”. Tôi khuyên em nên kiên nhẫn, nói cho em hiểu lúc này là thời gian đẹp nhất trong cuộc tình hai đứa, cái nhớ cái thương bây giờ sẽ làm mình gắn bó nhau hơn sau này… Em nghe lời tôi và chuyện hẹn hò của chúng tôi kéo dài cho tới đầu năm 1970.Tướng Lon Nol lật đổ vua Sihanouk, tự phong là tổng thống xứ Kampuchea (Cao Miên). Một số người Miên quá khích thừa nước đục thả câu, “cáp duồn” (nghĩa là chặt người Việt) lẻ tẻ. Đang đêm, họ đến gõ cửa nhà người Việt ở những vùng thôn quê hẻo lánh. Một số người Việt không may đã bị họ cha.t đầu, xa’c thả trôi sông về tới Tân Châu, Hồng Ngự… Nhiều người Việt có chút của ăn của để ở Cao Miên bán tháo tài sản để về Miền Nam Việt Nam lánh nạn. Ba Má em cũng không ngoại lệ. Em gặp tôi bàn chuyện này. Tôi đem việc này hỏi ý kiến ông giám đốc hãng L’UCIA. Ông giám đốc đưa hai đứa tôi về biệt thự do hãng mướn cho ổng ở trên đại lộ Norodom, ngay trung tâm thủ đô Nam Vang. Ổng nói:“nhà tao có 2 người bồi bếp, có 2 con chó berger giữ nhà. Nhà có 5 phòng, tao ở chỉ một phòng. Nếu hai đứa thấy ở nhà mầy không an toàn thì đến đây ở với tao. Tao tin tưởng và cần thằng B. giúp tao giữ gìn sổ sách của hãng nên hai đứa mầy muốn ở phòng nào, muốn ở bao lâu cũng được”. Nghe vậy, chúng tôi yên tâm và quyết định ở Nam Vang dù Ba Má em có về Sàigòn. Em về xin Ba Má cho hai đứa làm đám cưới. Má em có cảm tình với tôi nên gật đầu. Ba em im lặng vì biết tôi nghèo, sợ con gái cưng của ông sẽ cực khổ khi về làm vợ tôi. Em nói với Ba Má em“nếu Ba Má không tổ chức đám cưới cho hai đứa con, tụi con sẽ tự lo. Con muốn làm vợ anh B. danh chánh ngôn thuận”. Và hai đứa tôi tự tổ chức lễ cưới của mình. Sáng ngày 24/02/1970, Má tôi và tôi mang trầu cau và phẩm vật đến xin cưới em. Chúng tôi lạy bàn thờ tổ tiên nhà em, xin quý ngài chứng giám cho chúng tôi thành vợ thành chồng. Tôi mướn xe Mercedes để rước “cô Tiên” xuống trần. Tối đến là tiệc cưới tại nhà hàng La Lune, đối diện State Olympic, với 200 quan khách, họ hàng và bạn bè nhà trai, nhà gái. Dĩ nhiên là có nhạc sống do mấy tên bạn tôi tự mang đồ nghề đến giúp vui. Đêm đó, hai đứa tôi khiêu vũ và cụng ly với bạn bè gần tới sáng. Sau ngày chúng tôi thành hôn thì tình hình chính trị giữa hai nước Kampuchea và Miền Nam Việt Nam biến chuyển dồn dập. Ông bà nhạc tôi và gia đình bay về Sàigòn vài ngày sau đó. Vợ chồng tôi vẫn ở Nam Vang. Tôi vẫn đi làm ở L’UCIA . Khi xa’c nhiều người Việt trôi về tới Hồng Ngự, Tân Châu, ông Nguyễn Cao Kỳ – lúc đó là Phó Tổng Thống VNCH – ra lệnh cho Quân-đoàn 3 tràn qua biên giới, lấy cớ là để “bảo vệ kiều bào VN”. Trung tướng Đỗ Cao Trí nhận lệnh với lời tuyên bố làm chấn động chính phủ Cao Miên:“Cho tôi 24 tiếng, tôi sẽ chiếm Nam Vang”. Ông Lon Nol nghe muốn té đa’i. Mới làm tổng thống có mấy ngày, nếu để QLVNCH chiếm Nam Vang thì mất mặt bầu cua. Ông gọi điện năn nỉ chính phủ VNCH đừng chiếm Nam vang nên Quân-đoàn 3 dừng lại ở Neak Luong (người Việt mình gọi là Hố Lương), một bến phà chỉ cách Nam vang 60 cây số. Nghe tin QLVNCH tràn qua biên giới, cả trăm ngàn kiều bào VN ở Cao Miên, trong đó có vợ chồng tôi, bỏ tất cả tài sản, dắt díu nhau vào các trại tị nạn. Các sân trường trung học, chùa, nhà thờ bỗng trở thành những trại tị nạn khổng lồ. Vợ chồng tôi vào trường Seminaire, nơi tôi đã học năm cuối chương trình Tú tài Pháp hai năm trước. Trong trại Seminaire, người ta chia ra nhiều nhóm, mỗi nhóm 10 gia đình, trước hết là để lãnh nước uống, sau là thức ăn, lúc đó chỉ có khô cá lóc do Red Cross cung cấp. Tôi làm trưởng nhóm 31. Đầu tháng 5/1970, ông Nguyễn Cao Kỳ bay lên Nam Vang, nói là thăm xả giao tướng Lon Nol nhưng thật sự là đi thanh tra các trại tị nạn. Tối đêm trước, tôi và các trưởng nhóm được lệnh phải thu tất cả những những gì có thể coi như là vũ khí gồm dao, gậy,… và cùng nhiều người thức gần sáng đêm để dựng cái sân khấu dã chiến. Khi ông Kỳ vào trại Seminaire, ông đến từng lều, bắt tay và hỏi thăm từng người. Điều làm mọi người chú ý là 2 anh đại-úy cận vệ. Họ cao hơn ông Kỳ 1 cái đầu, mặc đồ bay, mang súng ngắn dưới nách, nhưng không cản trở khi kiều bào đến bắt tay, thậm chí ôm hôn ông Kỳ. Ông Kỳ lên sấn khấu, nói vài lời thăm hỏi xã giao rồi hứa:“Tôi sẽ đưa tất cả đồng bào về quê hương!” Ông nhận được những tràng pháo tay như sấm động của mấy ngàn người trong trại Seminaire. Nhiều bà lão bò ra khoảng trống trước sân khấu lạy ông Kỳ như tế sao. Vài ngày sau, chúng tôi được phát thịt heo lần đầu, dù không ai biết ai cho nhưng mọi người nghĩ là từ chính phủ VNCH. Tuần sau, một đoàn “tàu há mồm” của Hải quân VNCH cặp bến sông Mekong. Danh sách từng nhóm được gọi để rời trại xuống tàu về nước. Vợ chồng tôi thuộc danh sách thứ 31 nên gần cuối tháng 5/1970 mới được rời trại. Sau 1 ngày lênh đênh trên sông Tiền (hay sông Hậu?) thì về tới trại Đồng Tâm, Mỹ Tho, lúc đó là hậu cứ của Sư-đoàn 7 BB. Vợ chồng tôi chỉ ở trại Đồng Tâm 5 ngày. Làm giấy tờ nhập cảnh xong thì Ba em lái xe xuống rước về Sàigòn. Cuộc sống chúng tôi từ ngày về Sàigòn không còn… tà tà như lúc ở Nam Vang. Cũng như tất cả Việt kiều hồi hương lúc đó, tôi được hoãn dịch 18 tháng. Thời gian không nhiều nên tôi làm ngày làm đêm. Em cũng đi làm. Cuối tuần hai đứa đưa nhau đi ăn mì xào dòn, hay ăn nghiêu luộc. Mỗi tối đi đàn về, tôi chạy thẳng vô Chợ Lớn mua cho em cái bánh bao Ông Cả Cần của Bà Năm Sa-Đéc. Lúc này em không còn thơ thẩn, mà ngược lại… em ăn rất bạo. Dù không nói ra, tôi biết em đang chuẩn bị cái bụng cho đứa con đầu lòng của chúng tôi, dù không biết lúc nào nó sẽ tượng hình. Nhiều người trong gia tộc hai bên thường trề môi nói“thằng B. con nhà lính tính nhà quan, mới ở Nam Vang về tay trắng mà vợ nó muốn gì được nấy”…. Mấy người này không biết là lúc còn độc thân, tôi đã đọc một câu định nghĩa “người phụ nữ lý tưởng” của 1 người đàn ông như sau:“Người phụ nữ lý tưởng của một người đàn ông là người bạn, người tình và là người vợ của người đàn ông đó”. Hồi đọc câu đó, tôi chưa gặp cô Tiên nên tôi đã tự hỏi ngược lại là “tôi có thể vừa là người bạn, vừa là người tình, và là chồng của vợ tôi không”. Ông nào muốn biết cái vụ này nó khó cỡ nào cứ thử cua một cô bạn gái rồi cưới cổ về làm vợ thì sẽ hiểu câu… “chưa thấy quan tài chưa đổ lệ”. Nhưng khi gặp rồi thương yêu cô Tiên, cái định nghĩa xưa tự nó cho tôi lời giải đáp. Lúc mới thương nhau, tôi thường kể em nghe chuyện bồ bịch của tôi lúc trước. Em chẳng những không ghen hờn, mà còn góp ý đôi khi rất tiếu lâm, rồi hai đứa cười hí hí. Lúc hai đứa đi chơi, gặp cô nào có “ngực tấn công, mông phòng thủ” là tôi hay quay lại nhìn, em im lặng nắm tay tôi, đợi cô đó đi khỏi tầm mắt mới hỏi“bộ toi hổng thấy cổ đi hai hàng hả?”. Khi vào tiệm bán sách, tôi có cái tật (hổng biết xấu hay tốt) là đứng hơi lâu trước mấy cái đặc san người lớn như PlayBoy. Em im lặng đứng bên tôi, đến khi rời tiệm sách em mới phê bình…“nhỏ này vú đẹp, cô kia mông teo…”. Chỉ khi đến kệ bày mấy cuốn Salut les Copains, em mới thò tay lựa cuốn mới nhất và tự ra quầy trả tiền. Em chưa bao giờ bắt tôi trả tiền những gì em mua cho riêng em. Em chưa bao giờ lớn tiếng hay dùng lời lẽ không lịch sự với bất cứ ai, dù đôi khi tôi hay ai đó vô tình hoặc cố ý làm em giận. Ba em nói với em “Ba thấy nó đi nhảy đầm, tay trái một con, tay mặt một con”.Em trả lời“những gì ảnh làm lúc còn độc thân là quyền của ảnh, con không cần biết (thật ra tôi đã kể em nghe hết rồi). Chỉ cần biết hiện giờ hai đứa con thương nhau thật lòng là được rồi”. Tết đầu tiên ở Saigon, 1971 Em có cách hôn, chỉ phớt nhẹ, làm tôi hồn phi phách tán. Khi thấy tôi buồn, em cầm tay tôi, xoa nhè nhẹ lên mu bàn tay, khiến tôi quên hết mọi phiền não. Sau này thành vợ thành chồng, em vẫn là người tình tuyệt vời. Em biết cách làm tôi quên những nghiệt ngã mà tôi đã trải qua trong ngày hôm đó. Em biết tiết kiệm, vén khéo với số tiền mà chúng tôi kiếm được. Em không se sua, dù luôn ăn mặc thanh lịch. Mỗi lần hai đứa ra đường là tôi phải ngó trước nhìn sau, coi có tên nào nhìn lén em không. Khi đứa con đầu lòng của chúng tôi chào đời năm 1972, em tự nguyện bỏ bớt chuyện mua sắm cho riêng mình, để có đủ tiền cho con chúng tôi bú sữa Guigoz 3 năm liên tục. Cô Tiên đã là một người bạn, một người tình và là người vợ tuyệt vời của tôi.Được một người vợ như cô Tiên, em muốn gì được nấy không có gì quá đáng.Bán nhà cho em cũng được, huống chi là ba cái lẻ tẻ. Tháng 4/1972, tôi hết hạn hoãn dịch, phải đi lính cho tới ngày tan hàng. Sau 75, có ngày hai đứa phải ăn sáng bằng… cơm nguội, nhưng em luôn dành 1 hoặc 2 đồng cho con chúng tôi có gói xôi nóng hay tô cháo huyết. Cực nhất là lúc chúng tôi về quê tôi sống từ năm 1976 đến năm 1979.Má tôi cho 2 công ruộng và nửa công vườn, đủ cho gia đình chúng tôi sinh sống, không cần phải đi làm mướn, làm thuê. Nhưng không may là hai năm 77-78, lũ lụt tràn vào ngập ruộng trước khi lúa chín. Nông dân vùng Tân châu đói thể thảm. May mà tôi cất nhà sàn, cao khoảng 1.5m, nên nước ngập lé đé sàn nhà. Nhiều nông gia ở nhà đất, phải kê tủ giường lên cao, có người kê giường tới gần đụng nóc nhà. Mỗi ngày, cô Tiên ngồi trên sàn nước, miệt mài câu từng con cá chốt, cá sặc, cá lòng tong. Tôi không dám nhìn lâu. Đến bữa ăn chỉ có món cá kho thập cẩm vậy mà thằng con khen “má kho cá ăn ngon”. Tôi mắc nghẹn từng hồi. Rồi cũng qua. Ở quê, em không cho con đi học, nói mấy ổng dốt mà dạy cái gì! Vợ chồng tôi thay nhau dạy con nói và viết tiếng Việt, tiếng Pháp. Bài học tiếng Việt đầu tiên là bốn câu thơ của ngài Lý Thường Kiệt : Nam quốc sơn hà Nam đế cưTiệt nhiên phận định tại thiên thưNhư hà nghịch lỗ lai xâm phạmNhữ đẳng hành khan thủ bại hư. Tiếng Pháp thì chúng tôi dạy con nói và viết những câu chào hỏi thông thường, không ngờ khi qua Úc nó học tiếng Anh nhanh hơn những bạn tị nạn khác nhờ tiếng Pháp và tiếng Anh có nhiều chữ giống nhau. Qua năm 79, tôi trúng mùa. Bán mấy chục giạ lúa, thêm chút tiền dành dụm, mua được cái ghe nhỏ, tính chuyện lớn. Khoang ghe chỉ vừa đủ cho hai người lớn và một đứa nhỏ chen vai nhau ngủ. Tôi không biết chèo, tập cả tháng sau mới chèo được 2 chèo. Em không biết lội nhưng nhất quyết đòi đi đến những nơi có thể cho chúng tôi thấy được tương lai. Em nói“mình đã sống mấy năm ‘có miệng không nói lại câm, hai hàng nước mắt chan dầm như mưa’. Đủ rồi, phải đi tìm tương lai cho mình và cho con”. Vậy là đi. Chèo từ Tân châu tới Long xuyên mất hai ngày. Nghỉ xả hơi một ngày rồi chèo tiếp tới Ô Môn, Cần Thơ, Ngã 7, Sóc Trăng, Hộ Phòng, Gành Hào, và sau cùng là ngã 3 cây Tàn. Ở ngã 3 cây Tàn hơn 1 tháng vì có người mướn tôi đào ao nuôi cá. Đào ao 1 tháng được 2 giạ gạo và một mớ tiền. Chúng tôi trở ra Gành hào vì thấy nơi này là nơi lý tưởng để ra đi. Tôi giấu dưới khoang ghe cái máy đuôi tôm, thường ngày không dám sử dụng, sợ người ta dòm ngó, định khi nào đi mới xài. Ở Gành Hào đêm trước, thì đêm sau bị bão. Mưa như trút nước, sấm chớp đầy trời. Chiếc ghe tôi lắc lư như người say rượu, nửa đêm đứt dây buộc sào trôi ra giữa sông. May là lúc đó nước lớn, nước từ ngoài biển đổ vô sông, nếu ngược lại thì có thể bão đã đưa chúng tôi qua Thái Lan hay hổng chừng… vô bụng cá. Tôi cột sợi dây quanh bụng, cố gắng lội vô bờ. Hình như… lúc không còn cái gì để sợ nữa thì mình mạnh hơn bình thường nên tôi đã kéo chiếc ghe tới dưới dạ cầu chợ Gành hào. Buộc dây ghe lại đàng hoàng là tôi ngã lăn ra thở dốc, lạnh run cầm cập. Em lau mình cho tôi và đưa tôi cái bánh bía, hổng biết em mua lúc nào, đúng là cô Tiên. Ăn cái bánh bía đêm đó, hương vị thơm ngon còn phảng phất tới bây giờ. Bye bye Gành hào, tôi gắn máy đuôi tôm chạy về Long Xuyên. Chúng tôi ở Long Xuyên gần 3 năm. Tôi làm bất cứ chuyện gì, miễn là lương thiện, để có tiền nuôi vợ con. Có lúc đạp xe lôi, có lúc vác lúa gạo ở các nhà máy xây lúa, có lúc làm tạp nhạp. Đến tháng 2/1982, em tìm được đường dây ra nước ngoài vừa với khả năng của vợ chồng tôi lúc đó. Cái may là chúng tôi chỉ đi một lần là tới Mã Lai. Ở Bidong 1 tháng rưỡi là được phái đoàn Úc nhận. Qua trại chuyển tiếp Sungei Besi2, ngoại ô Kuala Lumpur để khám bệnh, bổ túc hồ sơ. 3 tháng rưỡi sau là chúng tôi có list đi Úc. Chụp với vợ chồng ông quản lý Trung tâm tạm cư Tamarind, trong lễ Giáng sinh đầu tiên tại Úc năm 1982. Vài ngày sau khi đặt chân lên đất Úc, lúc đó chúng tôi chỉ biết tiếng Pháp chưa biết tiếng Anh. Em nói với tôi“moi không thích nhờ thông dịch, nhà mình phải có một người giỏi tiếng Anh, toi phải đi học. Moi sẽ đi làm nuôi toi và con”!Nghe ghê chưa? Mà em cũng không biết tiếng Anh thì đi làm cái gì? Em quên mình từng là một tiểu thơ được cơm bưng nước rót, em quên mình từng đi học có xe đưa rước, em quên mình là… cô tiên của tôi,. nên ai mướn gì làm nấy. Quét dọn nhà cửa cho người Úc, chăm sóc con em của đồng hương, làm chả giò bán sĩ (không biết em học ở đâu mà làm chả giò và đổ bánh xèo ngon nhất Darwin). Tôi cũng đi làm ban ngày, đi học ban đêm. Bảy năm ròng rã, tôi lấy được 2 cái Certificates về kế toán và quản trị địa ốc và xin được cái job “Security Administrator” tại trường đại học Charles Darwin University ở Darwin đầu năm 1985. Tôi làm việc tại CDU liên tục hơn 27 năm, đến khi nghỉ hưu cuối năm 2012. Em không đi học tiếng Anh một ngày nào nhưng sau này… lại làm thông dịch cho bạn bè, nhiều nhất là mấy cô lấy chồng Úc, mới qua Úc chân ướt chân ráo, tìm đến em nhờ giúp đỡ. Em chở họ đi làm hồ sơ nhập cư, điền đơn xin tiền an sinh xã hội… Bà xã tôi thương đồng hương nên ai nhờ thì giúp, cứ ăn cơm nhà vác ngà voi, không đòi hỏi ai phải trả đồng bạc nào dù biết làm thông dịch cũng được trả tiền. Mấy cô vợ Úc thương em lắm, cuối tuần là ghé nhà tôi xào xào nấu nấu … thật vui. Hỏi em mới biết, em học tiếng Anh bằng cách theo dõi các chương trình Play School trên TV. Chương trình này dạy con nít Úc nói/viết tiếng Anh để chuẩn bị vô mẫu giáo. Em đọc báo tôi mang về mỗi ngày. Không hiểu chữ nào, đoạn nào thì em hỏi tôi hay tra tự điển. Tiếu lâm nhất là khi bà hàng xóm nhờ em làm thông dịch. Bà này gốc Ý (Italy), có chồng gốc Tây Ban Nha (Spain). Bà ta đến Úc theo diện vợ chồng năm 1978 và không đi học ngày nào. Khi rảnh rỗi bà ta qua nói chuyện với bà xã tôi. Bà ta nói “broken english” với giọng Ý nên tôi và mọi người không ai hiểu cả. Vậy mà bà xã tôi hiểu nên mỗi lần bà hàng xóm cần đi bác sĩ, hay bất cứ cơ quan công quyền nào ở Darwin là qua năn nỉ nhà tôi theo làm thông dịch. Một năm sau ngày đến Úc, tôi được bầu làm tổng thư ký Hội Người Việt Tự Do tại Darwin, sau đổi tên thành CĐNVTD Bắc Úc cho tới bây giờ. Tôi dính với các sinh hoạt của CĐ mình cho tới năm 2017 mới rút chân ra được. Suốt thời gian này, bất cứ tôi làm cái gì đều có sự giúp đỡ, yểm trợ khi công khai khi âm thầm của cô Tiên. Đứa con thứ hai của chúng tôi chào đời năm 1984 tại Darwin. Nhìn em cho con bú, tắm rửa cho con, nâng niu thằng nhỏ như vàng như ngọc, tôi nhớ lại những ngày hai đứa mới thương nhau, mỗi lần bên nhau là bàn chuyện mai này… tôi viết bài thơ tặng em. Một chiều lãng đãng ánh tà dươngEm kể anh nghe chuyện mộng thườngĐôi mắt em nhìn xao xuyến quáNhư sao lấp lánh một trời thương. Từ đó đời mình hết lẻ loiĐan tay qua phố bước chung đôiEm cười rạng rỡ như tiên nữTiên nữ của anh – cũng được rồi. Từ đó đời mình ươm ước mơTừng đêm anh cắn bút làm thơMỗi dòng ôm ấp ngàn thương nhớThương nhớ lớn theo nổi đợi chờ. Từ đó mình bàn chuyện lứa đôiMai này, mình có hai con thôiTrưởng nam, phần nó lo hương hỏaEm nó, cô Ba – có rượu mời. Từ đó mình bàn chuyện cưới nhauAnh giành chọn áo cưới cô dâuMàu vàng, hoàng hậu lòng anh đóEm nói : – Màu hồng, áo cô dâu! Từ lúc về làm vợ của anhÂm thầm mình kết mộng ngày xanhTrưởng nam bật khóc, cưng như ngọcĐứa kế trai luôn, quý tựa vàng. Nhiều đêm nằm gác tay lên tránAnh cám ơn Trời, cám ơn emBảy nổi ba chìm mình chẳng ngánVì em có anh, anh có em. Từ năm 2005 đến năm 2015, chúng tôi tổ chức những bữa ăn cứu trợ Thương Phế Binh còn sống khổ sở nơi quê mình bằng cách… tổ chức BBQ tại nhà tôi. Thức ăn do bà xã tôi và vài người bạn thân cùng chung sức nấu nướng, tôi bỏ tiền túi mua bia và nước giải khát. Ăn uống free. Tôi để 1 cái “Thùng Cứu trợ” trên bàn, ai cho bao nhiêu, tôi gởi về VN giúp anh em thương phế binh bấy nhiêu, theo tiêu chuẩn mỗi người 100 Úckim. Vì số người Việt ở Darwin rất khiêm nhường, chỉ có vài trăm người, nên lúc đầu chỉ được vài ngàn. Từ từ, bà con tin tưởng nên khi có dịp đi ngang nhà tôi là họ bỏ tiền vô thùng thơ, không đợi đến Bữa ăn Cứu trợ. Gõ máy tới đây, bỗng nhiên làm biếng… không muốn gõ máy nữa, vì đang nhớ cô Tiên, nhớ quá xá nhớ. Cô Tiên của tôi đã về trời sau khi đã cùng sống chung với cha con tôi 43 năm, 3 tháng, 27 ngày hạnh phúc. Em quy tiên sau một cơn bạo bệnh. Từ một người mạnh khỏe bình thường, đúng 5 tuần sau thành người thiên cổ. Trong những ngày cuối của cuộc sống nơi dương thế, khi thấy hai con đứng nhìn em, nước mắt lưng tròng, em cầm tay con lắc lắc, mỉm cười nói: “Chúa cũng chết, Phật cũng chết, thì Má cũng chết. Má đã trả xong món nợ ân tình với Ba con và các con thì Má đi. Con trai khóc… xấu lắm”. Con tôi quẹt nước mắt… miệng cười méo xẹo. Trong Hospice Hospital, nơi dành cho những bệnh nhân… “terminally ill”, mỗi ngày có y tá đến đánh răng và lau mình cho em. Có một lần em cám ơn họ“Thanks so much for keeping my body clean. I know it’s shutting down”. Cô y tá người Úc trợn mắt nhìn em, rưng rưng nước mắt. Sau này, cô nói với tôi“Tao chưa thấy ai sắp chết mà còn lịch sự và tỉnh táo như vợ mầy”. Khi biết mình sắp trả xong cái nghiệp ở dương gian, em nắm tay tôi dặn dò phải tổ chức tang lễ em như thế nào. Thỉnh vị tăng ni nào chủ trì tang lễ, xong phải hỏa thiêu và chỉ giữ tro cốt 100 ngày. Sau đó mang tro cốt em rải trên sông Parramatta, đoạn gần Opéra House ở Sydney, là nơi em thích đi dạo mỗi lần đi thăm con. Em nói nhỏ nhẹ như đang lo tang lễ của ai khác. Tôi chỉ biết im lặng gật đầu, ráng kềm cho nước mắt đừng chảy ra. Tôi đã làm đúng theo lời em dặn. Từ ngày cô Tiên về trời, cha con tôi đứt ruột đứt gan, tan nát trong lòng. Tôi đã sống những ngày như người chết chưa chôn. Câu chuyện kể của thật của Buu Nguyen Ngày 22/8/2024, khi ở tuổi 61, Trường Vũ - ca sĩ nổi tiếng với các ca khúc "Thân phận nghèo",... Giai điệu Bolero, với xuất xứ từ các thể loại nhạc như Rumba, Habanera, Valse và Tango, đã du nhập... Việc tặng bông trong các buổi đờn ca tài tử đã trở nên phổ biến trong những thập kỷ gần... Trong bài hát "Chiều Trên Phá Tam Giang" của nhạc sĩ Trần Thiện Thanh có câu: "Giờ này Thương Xá... Trong những thập niên 1950, 1960 và 1970, hình ảnh những chiếc taxi hai màu xanh - trắng (hoặc vàng... Những ai từng học ở trường Đại học Văn Khoa xưa, nay là trường Đại học Khoa học Xã hội... © 2020NhacXua.VN- Nhạc Xưa Thời Báo.
Trước năm 1975, tỉnh Gia Định độc lập với đô thành Sài Gòn, mỗi nơi có hệ thống tên đường riêng. Bởi vì vậy mà ở Sài Gòn có đại lộ Lê Lợi, ở Gò Vấp thuộc tỉnh Gia Đinh xưa cũng có đường Lê Lợi. Tương tự là các tên đường Võ Tánh, Võ Di Nguy, Nguyễn Bỉnh Khiêm… đều có ở cả Sài Gòn lẫn Gia Định. Trong số các tên đường đó, không thể không nhắc tới đường Lê Văn Duyệt. Đường Lê Văn Duyệt ở Gia Định đi ngang qua Lăng của Tả quân Lê Văn Duyệt, người dân quen gọi là Lăng Ông ở Bà Chiểu, và ở Sài Gòn cũng có một tên đường Lê Văn Duyệt khác, từ 1975 tới nay mang tên đường Cách Mạng Tháng 8. Đường Lê Văn Duyệt ở Gia Định cũng bị ghép chung vào đường Đinh Tiên Hoàng sau khi Gia Định sáp nhập với Sài Gòn năm 1976, nhưng tới năm 2020 thì được tách ra lại như cũ. Trong một bài viết trước, chuyenxua.net đã có bài viết riêng về đường Lê Văn Duyệt ở Sài Gòn (xem ở đây), trong bài này xin dành riêng nói về đường Lê Văn Duyệt ở vị trí trung tâm của tỉnh Gia Định xưa. Đường Lê Văn Duyệt từ đầu cầu Bông (thuộc phường Dakao của Quận Nhứt – Sài Gòn) đến ngã ba Chi Lăng (nay là Phan Đăng Lưu) dài khoảng 1.975m, lộ giới thuộc loại “khủng” thời xưa là 30m. Thời Pháp, khoảng năm 1874 được gọi là Avenue de l’Inspection (đường Thanh tra), nhưng dân cư khu vực này quen gọi là đường Hàng Thị. Trong đợt đổi tên đường ở Sài Gòn – Gia Định đầu thập niên 1950 dưới thời chính thể Quốc Gia Việt Nam của quốc trưởng Bảo Đại, đường l’Inspection được đổi tên là Lê Văn Duyệt. Trong bản đồ năm 1952 có ghi rõ tên đường như sau: Con đường Lê Văn Duyệt này chạy ngang qua một cụm đường được đặt tên các công thần nhà Nguyễn như Châu Văn Tiếp, Trịnh Hoài Đức, Ngô Nhân Tịnh. Ngày xưa, người Sài Gòn đi qua tỉnh Gia Định thường phải qua đường Lê Văn Duyệt, từ hướng Sài Gòn xuống cầu Bông qua đường Lê Văn Duyệt một đoạn sẽ gặp một nơi được gọi là khu Khăn Đen Suối Đờn, là một khu chuyên bán khăn xếp đội đầu cho đàn ông nổi tiếng vùng Sài Gòn – Gia Định. Đường Lê Văn Duyệt tỉnh Gia Định không chỉ có “khu thương mại” phân phối khăn đen, mà còn là con đường để hằng ngày những họa sĩ tương lai đến Trường cao đẳng Mỹ thuật Sài Gòn (đường Chi Lăng – nay là Phan Đăng Lưu) vẽ vời, nặn tượng. Rất nhiều bác sĩ tương lai hằng ngày cũng phải qua con đường này đến thực tập hay nội trú tại Bệnh viện Nguyễn Văn Học (nay là Bệnh viện Nhân Dân Gia Định). Ngoài ra, trên con đường này còn có trường nữ sinh Lê Văn Duyệt (nay là trường Võ Thị Sáu), nên buổi chiều tan trường luôn có thấp thoáng tà áo dài trắng tung bay. Ngay góc đường Lê Văn Duyệt – Chi Lăng có một công trình vẫn còn cho tới nay, như trong hình bên trên. Rất nhiều người nhầm tưởng đây là 1 trong những cổng thành Gia Định xưa. Điều này hoàn toàn vô lý, vì thành Gia Định (thành Phụng) do vua Minh Mạng xây sau loạn Lê Văn Khôi chỉ nằm gói gọn khu vực quận 1 và quận 3 của Sài Gòn, không ra tới khu vực Dakao, nên không thể vươn qua bên kia cầu Bông được. Vùng Dakao ngày xưa là khu vực đất hộ thành Gia Định, được người dân gọi là Đất Hộ. Người Pháp không đọc được đúng nguyên gốc tên này, nên phiên âm thành Dak-Au, dần dần thành Dakau, rồi thành Dakao như ngày nay. Nói như vậy để thấy rằng cái cổng và tường thành màu vàng như trong hình không thể liên quan gì tới thành Gia Định xưa. Chưa kể thời điểm ấy ký tự latin của chữ Quốc Ngữ chưa được sử dụng phổ biến để ghi trên cổng thành như vậy. Thực ra đây có thể chỉ là một lô cốt của trại lính Pháp ở tỉnh Gia Định hơn 100 năm trước. Ngày 14/8/1975, khi sáp nhập tỉnh Gia Định với đô thành Sài Gòn, Ủy ban Quân quản thành phố cũng nhập luôn đường Lê Văn Duyệt của Gia Định chung với đường Đinh Tiên Hoàng của Sài Gòn chung thành con đường mang tên Đinh Tiên Hoàng. Tả quân Lê Văn Duyệt là một trong những người có công xây dựng phát triển phương Nam, đặc biệt là biến vùng Sài Gòn – Gia Định trở thành trung tâm kinh tế văn hóa của đất nước. Khi ông mất đi, được xây dựng lăng và được người dân cung kính thờ phụng suốt gần 200 năm qua. Tả quân từ trần năm 1832, thọ 69 tuổi. Thеo một số thông tin nghiên cứu cho rằng vua Minh Mạng từ lâu có thù riêng với tả quân Lê Văn Duyệt, nhưng lúc sinh thời, công lao và uy quyền của tả quân quá lớn nên vua vẫn để cho ông làm vua một cõi Nam Kỳ. Đến khi tả quân không còn, vua Minh Mạng bãi chức tổng trấn Gia Định thành, đồng thời truy xét trị tội những thuộc hạ của Lê Văn Duyệt. Vì bị bức, con nuôi tả quân là Lê Văn Khôi khởi binh chống lại triều đình, thường được gọi là loạn Lê Văn Khôi (1833-1835) Sau khi vất vả dẹp được vụ nổi dậy này, vua Minh Mạng truy xét tội của tả quân Lê Văn Duyệt, mộ của ông ở Gia Định bị san phẳng, núm mộ bị xiềng sắt. Đến 13 năm sau (1848), vua Tự Đức truy xét và rửa tội cho tả quân Lê Văn Duyệt, cho xây lại lăng và lập một ngôi miếu thờ gồm 3 gian nhà nhỏ, thấp, vách ván, mái ngói và giao cho con cháu Tả quân lo việc thờ cúng. Năm 1868, Tả quân Lê Văn Duyệt được truy phục chức Vọng các công thần, chưởng tả quân Bình Tây Tướng quân Quận Công và được thờ vào Miếu Trung Hưng Công Thần. Từ năm 1914 đến 1974, toàn khu vực lăng mộ được xây dựng hoàn chỉnh, dân thường gọi là Lăng Ông. Trong đó, đợt xây dựng và trùng tu lăng lớn nhất diễn ra năm 1937, tạo nên dung mạo công trình như ngày nay. Lăng Ông được người dân đến cúng tế hàng năm rất cung kính. Khi Ông Lê Văn Duyệt mất, dân gian xеm ông như một vị thần chứ không còn là một vị tướng quân thông thường, vì vậy việc thờ cúng và tế lễ ông tại lăng mang nghi thức thờ thần và tế thần. Hàng năm, tại lăng đều có tổ chức lễ giỗ Đức Thượng Công Lê Văn Duyệt rất long trọng, số người dự hội có đến hàng chục vạn, không chỉ người địa phương mà cả khách tỉnh xa cũng về dự hội. Trong số khách đi lễ số lượng người Hoa chiếm khoảng phân nửa, bởi họ đến dâng hương để tạ ơn một vị “phúc thần”, vì lúc sinh thời khi làm Tổng trấn Gia Ðịnh, ông đã có những chính sách, chủ trương nâng đỡ, tạo điều kiện cho cộng đồng người Hoa phát triển ngành nghề, an cư lạc nghiệp trên quê hương thứ hai của họ. Khi nói đến Sài Gòn, Gia Định, người ta thường nghĩ ngay tới những kiến trúc thời Pháp, như Bưu điện thành phố, Nhà thờ đức Bà, Nhà hát thành phố, các bảo tàng… Nhưng thật ra, đó đều là kiến trúc Pháp hiện đại. Những di tích lịch sử của vùng Gia Định từ trước khi Pháp xâm lược như thành Phụng (thành Gia Định), các chùa chiền đình miếu, một phần đã bị phá hủy, phần khác cũng bị xem nhẹ, ít người biết. Trước năm 1975, hình ảnh tả quân Lê Văn Duyệt và lăng mộ của ông được in trên đồng tiền của VNCH. Lăng Ông – tức lăng Thượng Công Lê Văn Duyệt đã gắn liền với con đường mang tên Lê Văn Duyệt. Hình ảnh này được ví như biểu tượng của Sài Gòn – Gia Định, như hình ảnh Văn Miếu của Hà Nội hay Ngọ Môn của Huế vậy. Ngoài ra, hình ảnh Tả quân Lê Văn Duyệt và Lăng Ông còn xuất hiện trên tiền giấy thời VNCH: Sau năm 1975, đường Lê Văn Duyệt bị đổi tên, di tích bị xuống cấp rất nhiều, thậm chí bị lấn chiếm, là nơi nhiều phần tử nghiện ngập lai vãng. Theo ghi nhận của các nhà nghiên cứu lịch sử, quan điểm của chính quyền mới sau 1975 là cho rằng nhà Nguyễn “cõng rắn cắn gà nhà”, nên không chỉ đường Lê Văn Duyệt mà nhiều con đường mang tên các vua quan triều Nguyễn, trong đó có cả các danh tướng một đời oanh liệt như Lê Văn Duyệt, Võ Tánh, Trương Tấn Bửu, Nguyễn Huỳnh Đức, Võ Di Nguy… ở cả Sài Gòn lẫn Gia Định đều bị đổi tên. Cho tới năm 1989, xét lại về công lao của Tả quân Lê Văn Duyệt đối với vùng đất phía Nam xưa, Bộ Văn Hoa để công nhận lăng Ông – Lê Văn Duyệt là Di tích cấp quốc gia theo Quyết định số 1288-VH/QĐ ngày 16/11/1989. Cũng từ ngày đó việc bảo tồn Lăng Ông được quan tâm hơn, nhưng tên đường Lê Văn Duyệt vẫn không được phụ hồi, và công cuộc đó vẫn còn rất nhiều khó khăn. Báo Tiền Phong cho biết Ông Trần Văn Sung (Phó ban quản lý, Trưởng ban quý tế Lăng đức Tả quân Lê Văn Duyệt) có đơn kiến nghị xin thành phố đặt lại tên đường Lê Văn Duyệt vì lý do ít nhất 12 tỉnh thành có đường mang tên ông, như Vĩnh Long, Bà Rịa – Vũng Tàu, Đà Nẵng, Bạc Liêu, Bình Phước, An Giang, Bình Thuận, Đồng Nai, Tiền Giang, Bình Dương… Riêng Sài Gòn, nơi ông Lê Văn Duyệt từng đóng dinh tổng trấn Gia Đình thành – nơi thờ phụng ông lại không còn có tên đường. Thời còn đương chức, thủ tướng Võ Văn Kiệt đã nhiều lần chỉ đạo tổ chức hội thảo về Lê Văn Duyệt, nhưng rút cuộc vẫn không đặt lại được tên đường, với lý do là “chưa tìm được sự đồng thuận”. Cho đến tận mấy năm gần đây, chính quyền thành phó đã tổ chức lấy ý kiến các phường khu vực gần lăng thì đều nhận được ý kiến “nên khôi phục tên đường Lê Văn Duyệt trước lăng tả quân Lê Văn Duyệt”. Các nhà nghiên cứu khoa học cũng ủng bộ việc thành phố nên có tên đường đức tả quân. Cuối cùng, trong kỳ họp Hội đồng nhân dân thành phố vào năm 2020 đã thông qua việc lại tên đường Lê Văn Duyệt, với số ý kiến đồng tình là trên 60%”. Đúng ngày giỗ giỗ 188 Tả quân Lê Văn Duyệt (1832 – 2020), diễn ra trong các ngày 16, 17 và 18/9 (nhằm ngày 29/7, 1 và 2/8 âm lịch), vào ngày 16/9/2020, chính quyền thành phố đã tổ chức lễ công bố đổi tên đường Đinh Tiên Hoàng đoạn từ Cầu Bông đến đường Phan Đăng Lưu (có chiều dài 947m) thành đường Lê Văn Duyệt như tên cũ của đoạn đường này trước năm 1975. Cũng trên báo Tiền Phong, bài viết đã nhận xét rằng Tả quân Lê Văn Duyệt là người có công xây dựng phát triển miền Nam, bởi vậy rất nhiều tỉnh phía Nam có lăng thờ Tả quân Lê Văn Duyệt. Nhà nghiên cứu Huỳnh Ngọc Trảng nói: “Lê Văn Duyệt có tài kinh bang tế thế, đã xây dựng kênh Vĩnh Tế làm thay đổi Nam Bộ. Ông cũng rất mê tuồng và hát bội, phát triển nghệ thuật truyền thống”. Theo Tiến sĩ khảo cổ học Nguyễn Thị Hậu:“Tên đường phố phản ánh lịch sử – văn hóa của quốc gia nói chung và của thành phố ấy nói riêng, bao gồm các yếu tố đặc trưng của địa lý tự nhiên, tên nhân vật, sự kiện lịch sử, văn hóa… Tên đường phố ở đô thị còn cho biết những đặc trưng riêng của nơi đó vì phản ánh lịch sử, sự nhận thức và ứng xử với quá khứ”. Ngày 22/8/2024, khi ở tuổi 61, Trường Vũ - ca sĩ nổi tiếng với các ca khúc "Thân phận nghèo",... Giai điệu Bolero, với xuất xứ từ các thể loại nhạc như Rumba, Habanera, Valse và Tango, đã du nhập... Việc tặng bông trong các buổi đờn ca tài tử đã trở nên phổ biến trong những thập kỷ gần... Trong bài hát "Chiều Trên Phá Tam Giang" của nhạc sĩ Trần Thiện Thanh có câu: "Giờ này Thương Xá... Trong những thập niên 1950, 1960 và 1970, hình ảnh những chiếc taxi hai màu xanh - trắng (hoặc vàng... Những ai từng học ở trường Đại học Văn Khoa xưa, nay là trường Đại học Khoa học Xã hội... © 2020NhacXua.VN- Nhạc Xưa Thời Báo.
Sáng tác giữa thập niên 1960, ca khúc nhạc vàng bất hủ khắc họa hình bóng người con gái có mái tóc thề thướt tha xõa dài bên thềm chiều. Lời ca trau chuốt giàu hình ảnh ẩn dụ tinh tế của nhạc sĩ Hoài Linh. Nội dung kể về câu chuyện tình thủy chung vượt qua chia ly giông bão thời cuộc, gắn liền với tiếng hát huyền thoại của Duy Khánh, Hoàng Oanh và sau này là ca sĩ Quang Lê đem lại sức sống đương đại mới mẻ.
Nhắc đến nhạc sĩ Song Ngọc, người ta thường nhớ đến nhiều ca khúc nhạc vàng đại chúng, hoặc là những bài nói về tâm sự của người lính. Trong sự nghiệp sáng tác đa dạng và phong phú về giai điệu lẫn thể loại của mình, nhạc sĩ Song Ngọc còn có những bài tình ca rất êm đềm và lãng mạn, từ bài hát đầu tay làMưa Chiều, sau đó làTiễn Đưa, Tình Yêu Như Bóng Mây… Rồi mai tôi sẽ xa Đà LạtThành phố này xin trả lại cho anhNgàn thông buồn chiều nay im tiếngNgôi giáo đường lặng đứng suy tư Rồi mai tôi sẽ xa Đà LạtĐồi núi buồn xin gởi lại cho anhVà con đường mù sương giăng mắcHai đứa hôm nào lạnh buốt trong tình yêu… Click để nghe Khánh Ly hát Tình Yêu Như Bóng Mây Đà Lạt được người ta nhớ đến với những đồi thông chập chùng mờ khuất trong sương bay, có cái se lạnh làm chùng lòng người du khách, dễ làm cho những đôi tình nhân sà vào lòng nhau để tìm chút hơi ấm và hương yêu. Trong âm nhạc, đã có nhiều ca khúc viết về xứ sở này, đều rất được yêu thích, trong đó có bàiTình Yêu Như Bóng Mâycủa nhạc sĩ Song Ngọc. Bài hát là những cảm xúc thật sự của nhạc sĩ khi ông đang thụ huấn khóa CTCT vào năm 1971. Đó là thời gian sắp mãn khóa, quân trường tổ chức cho các môn sinh một chuyến đi thực tế kết hợp nghỉ ngơi ở Đà Lạt. Nhạc sĩ Song Ngọc nói rằng những hình ảnh như là “ngàn thông”, “giáo đường” và “con đường mù sương” làm cho đôi lứa lạnh buốt trong tình yêu… được nhắc đến trong bài hát đều hiện hữu thật sự trong một cuộc tình buồn ở xứ sở sương mù của chính ông, trong khoảng thời gian ngắn ngủi tại đây. Rồi mai tôi sẽ xaTình yêu như bóng mâyTình yêu cơn gió bay hương thời gian phai Rồi mai tôi cố quênNgười đi như bóng chimNgười đi đâu dễ quên kỷ niệm đau thương Sau một thoáng gặp gỡ, tình yêu chỉ vừa chớm đã thành như bóng mây tan nhanh trong trời chiều sương phủ, khi bước chân người sắp phải rời xa phố núi, bóng người rồi sẽ như cánh chim mịt mù xa thẳm, và những ngọt ngào ngày hôm qua sẽ nhanh chóng trở thành kỷ niệm đau thương không dễ mà quên được. Rồi mai tôi sẽ xa Đà LạtThành phố chiều sương khói buồn riêng emCòn bao điều sao anh không nóiTôi cúi đầu từ giã Đà Lạt ơi… Đôi tình nhân bước bên nhau trên con đường mù sương khói, chưa kịp quen với từng lối quanh co này thì đã phải nói lời từ giã nhau. Bụi sương đậu thành hạt trên khóe mắt người thiếu nữ đang ngước nhìn, hòa lẫn với những giọt lệ nghẹn ngào không nói thành câu trong phút từ ly, chỉ có thể ngậm ngùi ôm nỗi buồn riêng. Nhạc sĩ Song Ngọc nói rằng ca khúc này thật sự có những giọt nước mắt của chính mình, khi ông phải cúi đầu từ giã Đà Lạt, từ giã cuộc tình mong manh như bóng mây dần tan thành bụi sương giăng lối che khuất nẻo đường. Bài hát sau đó rất được yêu thích qua giọng hát Khánh Ly, một người gắn bó với Đà Lạt trong thời gian nhiều năm, và hình như chỉ có giọng hát của Khánh Ly mới có thể làm cho bài hát mang đậm chất của Đà Lạt, của những mong manh hư ảo khói sương. Mời các bạn nghe lại sau đây: Click để nghe Khánh Ly hát trước 1975 Bài: Đông KhaBản quyền bài viết của nhacxua.vn Bài phỏng vấn nhạc sĩ Song Ngọc sau đây được nhà báo Nguiễn Ngu Í thực hiện trong những ngày... Trong âm nhạc, đã có nhiều ca khúc viết về Hà Nội mà người viết lời, viết nhạc chưa từng... Xin Gọi Nhau Là Cố Nhân là một trong những ca khúc nổi tiếng nhất của nhạc sĩ Song Ngọc... Cuối năm ngồi tính lại sổ đời Ba trăm ngày hơn đã qua mất rồi Đời mình lại tay trắng... Nhạc sĩ Song Ngọc là một trong những nhạc sĩ nổi tiếng nhất của dòng nhạc vàng với một số... Tuổi học trò ở cái thời cấp 2, cấp 3 là cái tuổi mà người ta có thể phải nhớ... © 2020NhacXua.VN- Nhạc Xưa Thời Báo.
Tổng quan “Diễm xưa” là tình khúc tiền chiến diễm lệ và nổi tiếng nhất của Trịnh Công Sơn, sáng tác năm 1960 tại cố đô Huế. Tác phẩm lấy cảm hứng từ...
Tác phẩm mới được tổng hợp và đưa vào hệ thống.
Tác phẩm mới được cập nhật vào kho lưu trữ kỹ thuật số.
Tháng 5 năm 2014: Hiện tượng "Chắc ai đó sẽ về" làm khuynh đảo các bảng xếp hạng V-Pop, đồng thời mở ra cuộc tranh luận lớn nhất về vấn đề bản quyền trong lịch sử âm nhạc Việt Nam.
Bài hát 'Tiến Quân Ca' của nhạc sĩ Văn Cao từng bị đề nghị thay đổi lời nhiều lần trước khi được chọn làm Quốc ca chính thức.
Khám phá mạng lưới kết nối giữa các nhạc sĩ và ca sĩ định hình âm nhạc đại chúng Việt Nam những năm 1990-2000.
Khám phá bản đồNhững câu chuyện thâm cung bí sử, hoàn cảnh sáng tác phía sau những bài hát bất hủ.
Sự giao thoa tuyệt đẹp giữa thi ca và âm nhạc. Những bài thơ được chắp cánh bởi giai điệu.
Một góc nhìn sâu sắc về các trào lưu âm nhạc đa dạng đã nảy nở tại Sài Gòn.