Ba Bà Đi Bán Lợn Con
Nhạc thiếu nhi...
Khám phá kho lưu trữ kỹ thuật số, nơi kết nối các thế hệ nghệ sĩ, câu chuyện đằng sau những bản nhạc bất hủ và mạng lưới tri thức âm nhạc sâu rộng.
Nhạc thiếu nhi...
Tổng quan Tên bài hát: Anh đứng đây là đâu Người sáng tác nhạc: Đang cập nhật Người viết lời: Đang cập nhật Năm phát hành: Đang cập nhật Nội dung n...
Anh ngủ thêm đi - Nhạc: Hamlet Trương, Trình bày: Tâm Đoan Đang tải...Anh ngủ thêm đi anh, em phải dậy lấy chồng - Nhạc: Hamlet Trương, Trình bày: ...
update_topic(strategic_intent='Creating an encyclopedia entry for Phượng Hằng based on the provided data, adhering to all specified formatting and con...
Tổng quan Bài hát "Bao Giờ" do nhạc sĩ Đỗ Bảo sáng tác phần nhạc. Phần lời và năm sáng tác: Đang cập nhật. Nội dung nghệ thuật "Bao Giờ" mang đặc t...
update_topic(strategic_intent='Creating an encyclopedia entry for Phương Vy based on the provided data, following specified formatting and content rul...
Tôi học năm Đệ Nhất tại trường Trần Hưng Đạo Đà Lạt, năm đó có một học sinh người Chăm ở Ninh Thuận cũng lên Đà Lạt học cùng lớp, nhưng khác ban. Có lẽ là người thiểu số nên đi học muộn… dù anh lớn hơn tôi đến 4 tuổi nhưng vẫn học cùng lớp. Là người Chàm nên anh rất kín đáo và dè dặt trong giao tiếp nhưng cũng nhờ ở trong ban văn nghệ trường nên chúng tôi tương đối cởi mở với nhau. Anh nói giọng Bắc đặc sệt, thỉnh thoảng còn kể chuyện tiếu lâm nhưng đối với những người lạ anh luôn giữ một khoảng cách, kín tiếng và rất kiệm lời. Trong ban nhạc của trường, tôi chơi đàn guitar điện “fender” còn anh thì hát những bản nhạc nghe rất lạ. Sau mới biết đó là những bản anh tự sáng tác từ năm học Đệ Nhị, nổi bật nhất là bản “Bây giờ tháng mấy”. Khi nói đến bản nhạc này, các bạn biết ngay đó là Từ Công Phụng, một nhạc sĩ mà sau này rất nhiều bạn trẻ hồi thập niên 60-70 hâm mộ. Trước đó, Từ Công Phụng đã xuất hiện trên sân khấu trường Trung Học Duy Tân, Phan Rang, nhưng phải nói, lần đứng hát trên sân khấu Hội trường Hòa Bình ở Đà Lạt trong buổi văn nghệ liên trường mới là nấc thang đầu tiên đưa anh vào thế giới âm nhạc. Từ Công Phụng trên sân khấu trường Duy Tân, Phan Rang Từ xứ sở sương mù, tiếng hát họ Từ bay xa đến tận Sài Gòn nhờ làn sóng điện của Đài phát thanh Đà Lạt. Những bài hát như“Bây giờ tháng mấy”, “Mùa thu mây ngàn”do anh sáng tác đã được đài Đà Lạt ghi âm và phát đi phát lại nhiều lần. Dĩ nhiên, nhiều thính giả đài Sài Gòn cũng đã được nghe. Cũng vào thời điểm đó, Từ Công Phụng còn hợp tác với cặp song ca Lê Uyên Phương trong ban nhạc Ngàn Thông hàng tuần được trình diễn trên đài phát thanh và đã chiếm được cảm tình của thính giả Đà Lạt. Đó cũng là nấc thang thứ hai để anh “leo” vào thế giới âm nhạc. Học hết năm cuối trung học, Từ Công Phụng về Sài Gòn, nghe nói anh vào trường Quốc gia Hành chánh vì được hưởng quy chế ưu tiên dành cho người “dân tộc thiểu số”. Chúng tôi không liên lạc với nhau kể từ đó vì mỗi người có con đường riêng để theo đuổi. Khi về Sài Gòn, năm 1967, Từ Công Phụng bắt đầu tham gia làng ca nhạc, anh xuất hiện lần đầu tiên ở Quán Văn trong khuôn viên Đại học Văn khoa. Cũng tại đây, anh quen với Từ Dung và hai người bắt đầu hát chung. Bản nhạc đầu tiên họ hát là “Bây giờ tháng mấy”, bài “tủ” của Từ Công Phụng. Thế là làng ca nhạc Sài Gòn có một hiện tượng “mổi đình, nổi đám” với 3 cặp đôi: Khánh Ly – Trịnh Công Sơn, Lê Uyên – Phương và Từ Dung – Từ Công Phụng. Điều đáng nói là tất cả đều có liên quan đến Đà Lạt. Hình như xứ sở sương mù là nơi hun đúc những giọng ca có đủ sức khuấy động những dòng nhạc mang nhiều “màu sắc”: triết lý như Trịnh Công Sơn, khắc khoải như Lê Uyên Phương và lãng mạn như Từ Công Phụng. Cả ba cặp “uyên ương” đều thành công với những phong cách riêng của mình và người nghe có toàn quyền quyết định cái “gout” mình đã chọn cho một dòng nhạc. Đó cũng là điều làm phong phú thẩm âm của người Sài Gòn trước 1975. Nhạc sĩ & Ca sĩ Từ Công Phụng Trở lại với Từ Dung, người hát chung với Từ Công Phụng. Từ Dung xuất thân từ một gia đình nghệ thuật. Bố cô là nhà văn Hoàng Đạo – Nguyễn Tường Long trong nhóm Tự lực Văn đoàn của nhà văn Nhất Linh – Nguyễn Tường Tam. Hoàng Đạo là em của Nhất Linh và cũng là anh của Thạch Lam. Từ Dung được ca tụng là người đẹp “sắc nước hương trời”, đã có lần được bầu làm Á hậu trong một cuộc thi hoa hậu ở Sài Gòn vào thập niên 60. Hình như là “hồng nhan bạc phận” như người xưa đã từng nói, cuộc đời cô gặp nhiều trắc trở. Từ Dung mồ côi cha khi mới ba tuổi, ông Hoàng Đạo mất bên Tàu, trên chuyến xe lửa từ Hương Cảng về Quảng Châu. Bác của cô, Nhà văn Nhất Linh, qua đời ngày 7/7/1963, năm cô 18 tuổi. Năm 1965 cô đậu Tú tài 2 và năm 1969 cô tốt nghiệp Cử nhân Văn khoa. Về âm nhạc, cô là “đệ tử thanh nhạc” của ca sĩ Châu Hà, phu nhân của nhạc sĩ Văn Phụng. Từ Dung gặp Từ Công Phụng năm 1969, hai người hát chung với nhau và thấy “tâm đầu ý hợp” nên cuộc hôn nhân đã diễn ra ngay trong năm đó. Đám cưới được tổ chức theo truyền thống mẫu hệ “rước rể về nhà vợ” của người Chăm. Năm 1971, Từ Dung bắt đầu xuất hiện trên TV Sài Gòn và cô cũng góp tiếng hát trong cuốn băng“Tơ Vàng 3 – Tình khúc Từ Công Phụng”. Từ Dung song ca với Từ Công Phụng hai bài:“Vùng trời kỷ niệm”và“Mùa thu mây ngàn”. Riêng phần mình, cô có 3 bài đơn ca:“Đêm không cùng”, “Lời cuối”và“Đêm độc thoại”. Sau năm 1975, hai người vẫn còn ở Sài Gòn. Nghe nói họ mở một quán cà phê nhỏ trên đường Trần Quang Khải mang tên “Cà phê Từ Dung”. Quán có một chiếc piano để chơi nhạc thính phòng và thỉnh thoảng cũng có ca hát giúp vui mỗi khi thấy không bị… “dòm ngó”. Họ vẫn còn là vợ chồng, hình như đến năm 1976 thì… chia tay. Bản tính của họ Từ là người ít nói nên hầu như không ai biết lý do chính xác của việc ly dị. Năm 1980, Từ Công Phụng định cư tại Portland, tiểu bang Oregon, Hoa Kỳ. Nhạc sĩ Từ Công Phụng không phải đi lính vì thuộc thành phần “dân tộc thiểu số” , nhạc của ông cũng toàn bộ là tình ca, nhưng lại bị cấm lưu hành từ 1975 đến tận năm 2003. Phần tôi, sau khi đi “cải tạo” về gặp rất nhiều khó khăn nên phải ra trông hàng cho bà chị họ ở chợ Bình Tây rồi lại đi bỏ mối lò dầu hôi cho các chợ ở Sài Gòn. Mãi đến thời kỳ “Đổi Mới” mới được dễ thở phần nào. Năm 1979 thành phố hình thành Trung tâm Nghiên cứu Dịch thuật nhằm mục đích quy tụ những người đã được đào tạo từ “thế giới tư bản” để dậy Anh ngữ “lớp đêm” được tổ chức tại các trường ở Sài Gòn. Tôi có dịp được gặp Từ Dung vài lần khi về Trung tâm vì cô cũng là “giáo viên tiếng Anh”. Chỉ là quen mặt chứ chưa bao giờ nói chuyện, hơn nữa, cả hai dạy các lớp đêm khác trường nên cũng chẳng thân thiết gì. Từ Dung cũng xuất hiện trên sân khấu khi Trung tâm tổ chức những buổi liên hoan văn nghệ. Quả thật, hồi đó chỉ lo “cơm, áo, gạo, tiền” chứ đâu bận tâm đến “văn nghệ – văn gừng”. Những ngày ở lại Việt Nam Từ Dung có dấu hiệu trầm cảm, ít giao tiếp và cũng rất ít nói. Người ta bảo, đêm đêm cô ngồi một mình trong bóng tối như một pho tượng tại một căn phòng trong Cư xá Ngân hàng ở quận 3. Lại cũng nghe nói sau này cô đã định cư tại Hawaii và lập gia đình với một người đàn ông Mỹ. Từ Công Phụng và nhạc sĩ Phạm Duy tại Việt Nam, 2008 Như đã nói, bản tính của Phụng là thâm trầm, dè đặt trong lời ăn tiếng nói. Trong một cuộc phỏng vấn trên báo Thanh Niên năm 2008 tại Việt Nam, khi được hỏi về Từ Dung thì Từ Công Phụng trả lời một cách… hồn nhiên: “Tôi đã quên rồi [cười]. Cũng lâu quá còn gì. Chúng tôi chia tay vì một lỗi rất nặng của cô ấy, mà tôi bây giờ không muốn nhắc đến chuyện đó nữa…” Bí mật chỉ được hé lộ đến mức đó vì có thể Từ Công Phụng ngoài việc “kín tiếng” còn là “người chồng có trách nhiệm” đối với gia đình mà anh đã xây dựng lần thứ hai tại Hoa Kỳ. Anh hiện sống với chị Kim Ái, một nhân vật cũng kín tiếng như chồng. Từ Công Phụng & Kim Ái Trên đây là những gì tôi biết về “cặp uyên ương” nhiều bí ẩn trong làng ca nhạc Sài Gòn. Từ Dung & Từ Công Phụng là đôi song ca rất ít người biết được chuyện phía sau sân khấu. Sự chia tay lặng lẽ của hai người rồi cũng sẽ đi vào quên lãng của khán thính giả… nhưng có điều, dù muốn dù không, kỷ niệm vẫn là kỷ niệm đối với chính họ. Nhiều người cứ nghĩ ca sĩ Từ Dung lấy họ Từ để đặt tên cho mình khi hát cùng nhạc sĩ Từ Công Phụng hồi thập niên 60-70. Theo tiết lộ của Từ Dung trong bài viết nhan đề “Mẹ tôi” đăng trên Diễn đàn Thế kỷ, cô khẳng định:“Ba tôi gởi thư về dặn mẹ nếu là con gái thì đặt tên Từ Dung, con trai thì Duy hoặc Giản. Như vậy Từ Dung là tên cúng cơm của tôi chứ không phải tên hát xướng đặt theo một nhân vật khác! Từ Dung có nghĩa là hình Dung giống mẹ, vì ba tôi lúc nào cũng tưởng nhớ mẹ tôi”. Nguồn: Nguyễn Ngọc Chính Được biết đến như một nhạc sĩ trọn đời chỉ sáng tác tình ca, nhạc sĩ Từ Công Phụng đã... Nhạc sĩ Từ Công Phụng từng tâm sự: "Với tôi, tình ca vẫn là con đường đẹp nhất dẫn mọi... Như nhạc sĩ Từ Công Phụng từng nhận xét, người trình bày thành công nhất nhạc của ông là nam... Cùng với Ngô Thuỵ Miên, nhạc sĩ Từ Công Phụng là 1 trong 2 nhạc sĩ hiếm hoi cả đời... Nếu có điều gì vĩnh cửu được Thì em ơi đó là tình yêu chúng ta Đó là 2 câu... Từ Công Phụng là một trong những nhạc sĩ sáng tác tình ca nổi tiếng nhất và được yêu thích... © 2020NhacXua.VN- Nhạc Xưa Thời Báo.
Sài Gòn vốn là một thành phố nhập cư, không phải chỉ hiện nay hay gần đây mới như vậy, mà từ trăm năm trước, người dân ở tứ xứ đã di chuyển về đây để làm ăn, sinh sống và lập nghiệp, đặc biệt là thập niên 1950 Sài Gòn đã đón hàng triệu người di cư. Xuyên suốt cả thế kỷ qua và cho đến tận ngày nay, mỗi năm Sài Gòn đều đón nhận thêm rất nhiều học sinh – sinh viên từ các tỉnh đổ về học tập ở các trường trung học – đại học danh tiếng. Từ trước 1975 ở Sài Gòn đã có khái niệm quen thuộc là “trọ học”, vì đã có rất nhiều gia đình gửi con em mình lên Sài Gòn ở trọ nhà bà con hoặc người quen để có điều kiện học hành tốt hơn. Đến ngày nghỉ hè, các bến xe đò liên tỉnh và ga xe lửa lại tấp nập đưa học trò về quê nghỉ 3 tháng hè. Một lần nhạc sĩ Lê Dinh được chứng kiến cảnh những người trẻ đưa tiễn nhau trên sân ga vào một buổi chiều tàn của mùa hè năm 1962, nỗi buồn chia ly đó được ông đưa vào trong ca khúc mang tênGa Chiều,với lời đề tựa:“Mến trao các bạn học sinh trên đường về hè”: Lòng sao xuyến buồn khi chia lyBạn ơi nhớ cầm tay nhau điRồi mai đây tình sẽ cách đôi, phương trời xa xôi. Nếu như sau này, học trò xa nhau 2-3 tháng hè rồi thì cũng sẽ được gặp lại nhau ở niên học mới, còn ở thời điểm 60 năm trước, học trò chia tay sang hè rất có thể cũng sẽ là lần cuối gặp nhau. Vì đó là thời của ly loạn vì khói binh, cuộc sống thường bị xáo trộn, nhiều gia đình cứ di chuyển từ nơi này qua nơi khác để lánh nạn, nơi ở không cố định, nên lứa tuổi học trò cũng vì vậy mà phải đi qua nhiều trường, nhiều lớp, và những buổi chia tay khi sang hè càng bùi ngùi và lưu luyến hơn. Đặc biệt là với những học trò quê ở tỉnh lẻ học chung ở Sài Gòn, rồi đến hè chia tay mỗi người về mỗi ngả, chưa biết bao giờ mới được trở lại những ngày vui bên nhau: Tìm đâu thấy ngày vui bên nhauCòn đâu những chiều trong mưa ngâuNhìn hoa lá mà ước hái cho nhau cánh hoa muôn màu. Nhớ phút chia ly nhìn nhau chẳng biết nói nhau câu gìĐể rồi người đi ngàn phương xa lưu luyến lúc phân kỳThôi cầm tay nhau để mong ước đến phút này mai sauDù xa nhau nguyện ghi nhớ đến thuở mình bạc đầu. Trong giờ phút hai người bạn tiễn đưa, và có thể cũng là lần sau cùng được gặp nhau, họ muốn khắc ghi giây phút đó thật lâu, để rồi khi xa nhau rồi vẫn có thể nhớ nhau thật nhiều, ghi nhớ lại những kỷ niệm của một thời tươi đẹp nhất của cuộc đời. Rồi anh bước lần vô toa trongLòng vương vấn niềm thương mênh môngNgười em gái tà áo trắng tung bayGa chiều im bóng. Và khi tiếng còi vang nơi xaMình quay bước về trên sân gaChiều nay thiếu một bóng dáng thân yêuNhớ thương chan hòa… Click để nghe Thanh Thúy hát Ga Chiều trước 1975 Tay cầm tay bịn rịn, nghẹn ngào chưa kịp nói lời tâm tư thì tiếng còi tàu báo hiệu giờ xa cách đã đến. Bóng người khuất dần vào toa trong, để lại sau lưng là một khoảng mênh mông của những nỗi niềm, những vương vấn và nhớ thương… Ga chiều tấp nập người đón người đưa, người đi người ở, nhưng người con gái đứng lặng lẽ dưới sân ga kia thấy mình thật lẻ loi, đơn độc. Trên sân ga, vào bất kể thời nào, và với bất cứ ai từng đến đó, đều luôn là nơi ghi dấu ấn những cuộc tiễn đưa. Một nụ hôn, một ánh mắt trao nhau giờ ly biệt, hay có thể chỉ là một cái nắm tay vội vã, cũng làm cho người ra đi lưu luyến, người ở lại thẫn thờ ngơ ngác. Khi bóng đoàn tàu đã khuất dạng, chỉ còn tiếng rền rĩ nào nùng vọng lại từ nơi xa, người con gái quay bước trở về. Xung quanh đây có biết bao người, nhưng với nàng thì ga chiều hôm nay hoàn toàn quạnh vắng, im bóng, vì từ giờ đã không còn người bóng dáng người thân yêu bên cạnh nữa. Nàng đang chìm đắm vào một dòng suy tưởng còn ngổn ngang, trong một thế giới riêng chỉ có sự thinh lặng đến lạnh người. Bài: Đông KhaBản quyền bài viết của nhacxua.vn Bài phỏng vấn nhạc sĩ Lê Dinh trên tạp chí Bách Khoa sau đây sẽ hé lộ sáng tỏ những... Những cơn mưa thường gợi nhớ kỷ niệm để cho lòng nhớ nhung những ngày đã xa. Một người đã... Gác Nhỏ Đêm Xuân là một sáng tác chung của 2 nhạc sĩ Lê Dinh và Minh Kỳ, là một... Thuở học trò của nhiều năm về trước, khi một nữ sinh phải lòng một cậu bạn nào đó, "tín... Lỡ yêu rồi làm sao quên được anh ơi Những đêm buồn nhìn về dĩ vãng xa xôi Đó là... Đối với một người nhạc sĩ, nếu sáng tác được vài bài hát (hoặc thậm chí là chỉ có 1... © 2020NhacXua.VN- Nhạc Xưa Thời Báo.
Ra đời từ một buổi chiều hè tà dương nhạc sĩ đứng bên cổng trường cũ hoang vắng rợp tiếng ve kêu se sắt lòng người. Cánh cổng khép hờ cùng bóng đa già đứng lặng yên gợi nhắc về bóng hình ông giáo già và tà áo tím ngày xưa xưa đã thúc giục ông viết nên bản hạ buồn mang nỗi nhớ thương ngàn sau.
Trong nhạc vàng, đã từng có một số bài hát nhắc đến tên người nữ ca sĩ, xuất phất từ tình cảm yêu mến của chàng nhạc sĩ dành cho nàng, nhưng rất hiếm bài hát nhắc đến đích danh ca sĩ ngay trong tựa đề. Tuy nhiên, có một người ca sĩ được nhắc tên trong 4 bài hát, đó làĐiệu Buồn Của Thúy(Mặc Thế Nhân),Tôi Yêu ThúyvàNiềm Đau Của Thúy(cùng của nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ), và nổi tiếng nhất làThúy Đã Đi Rồicủa nhạc sĩ Y Vân. “Thúy” ở trong 4 bài hát trên chính là danh ca Thanh Thúy, một trong những nữ ca sĩ nổi tiếng nhất nhạc vàng, toàn vẹn cả thanh và sắc, là thần tượng của cả một thế hệ. Nhạc sĩ Y Vân sáng tácThúy Đã Đi Rồikhông phải là tâm sự của ông, mà là viết thay cho nỗi lòng của người bạn thân là đạo diễn – tài tử Nguyễn Long, người luôn ngưỡng mộ Thanh Thúy với một tình yêu đơn phương dài lâu gần như trọn cả một đời. Nguyễn Long là một người đa tài trong làng nghệ thuật miền Nam. Ông sinh năm 1934, khởi sự viết kịch và truyện phim từ năm 1957, đã đóng vai chính trong gần 70 vở kịch ngắn, dài trên sân khấu và truyền hình. Từ năm 1960, tài tử Nguyễn Long đã yêu say đắm ca sĩ Thanh Thúy khi đó mới 17 tuổi, nhưng vì không được đáp lại tình cảm nên ông đã rất đau khổ. Thấu hiểu tâm trạng thất tình của bạn mình, nhạc sĩ Y Vân đã sáng tácThúy Đã Đi Rồi: “Thúy ơiThúy quá vô tìnhVí dù em có hay dỗi hờnCũng vẫn hơn là bến tình anh lê gót cô đơn…” Click để nghe Hùng Cường hát Thúy Đã Đi Rồi trước 1975 Bài hát được ca sĩ Hùng Cường hát lần đầu, sau đó được nhiều ca sĩ khác hát lại và được công chúng yêu thích. Tuy nhiên tấm chân tình đó được thể hiện qua bài hát vẫn không thể làm trái tim nàng Thanh Thúy mảy may lay động. Trong nỗ lực chinh phục người đẹp, tài tử Nguyễn Long đã làm rất nhiều điều mà không phải ai cũng có khả năng làm được, đó là đích thân thực hiện 3 vở kịch mà nhân vật chính đều phảng phất hình ảnh Thanh Thúy. Đầu tiên là vở kịch “Ghen” vào đầu năm 1960 được diễn tại rạp Cathay và sân khấu Anh Vũ, với Xuân Dung đóng vai Thanh Thúy, cùng với các nghệ sĩ Ba Bé, Linh Sơn… và chính Nguyễn Long thủ diễn. Vở kịch thứ hai là “Khi Người Ta Yêu Nhau” diễn tại rạp Hưng Đạo, cũng trong năm 1960,với Kim Cương vào vai Thanh Thúy, cùng với các nghệ sĩ Túy Hoa, Bảy Xê, Ngọc Phu, Ba Bé… và cũng có Nguyễn Long tham gia. Vở kịch thứ ba, có tên “Tan Tác”, cũng vẫn Kim Cương vai Thanh Thúy, cùng với Vũ Đức Duy, Vân Hùng, Túy Hoa, và dĩ nhiên, cũng vẫn có tác giả Nguyễn Long… Ba vở kịch với dàn nghệ sĩ thoại kịch danh tiếng nhất thủ đô, được công diễn nhiều ngày liền, có lẽ là vẫn chưa đủ để thể hiện tình yêu cuồng nhiệt của Nguyễn Long dành cho cô cả sĩ khả ái, nên đến tháng 11 năm 1961, ông viết kịch bản, đồng thời là đạo diễn cho cuốn phim nhựa mang tên Thúy Đã Đi Rồi, dựa theo tên bài hát của nhạc sĩ Y Vân. Trong phim, nữ ca sĩ nổi tiếng và xinh đẹp Minh Hiếu vào vai Thanh Thúy, ca sĩ Yến Vĩ đóng vai Thanh Mỹ (em ruột Thanh Thúy), cùng dàn diễn viên thượng thặng là Mai Trường, Trần Văn Trạch, Ánh Hoa, Hùng Cường, Hề Minh… Dù đã làm mọi cách mà vẫn không thể chinh phục được người đẹp, vì quá nặng tình nên ông mang tâm trạng u uất và trải lòng qua bài thơ ông tự sáng tác mang tựa đề có một chữ là “Thôi”, sau đó được nhạc sĩ Y Vân phổ thành ca khúc nổi tiếng và ghi dấu ấn trong lòng người yêu nhạc cho đến nay. Một bài rất buồn và nức nở: Thôi em đừng khóc nữa làm gìKỷ niệm sầu ân tình cũ xa xưaThôi em đừng khóc,Em đừng khóc, đừng khóc nữa giọt lệ sầuLàm sao xóa hết tâm tư. Thôi em đừng tới nữa làm gìÐừng để lòng se lại khúc yêu đươngThôi em đừng tiếcEm đừng tiếc, đừng tiếc nữaÐừng để lòng anh trở lại kiếp u buồn. Ôi, cuộc đời đầy phong ba giữa lòng ngườiLệ sầu chia ly buồn tê táiLy rượu này đầy thương đau tấm hình hàiThu man mác buồn mùa thu ơi. Thôi em đừng nhắc nữa làm gìTừng nẻo đường in hình bóng chung đôiThôi em đừng nhớ, em đừng nhớĐừng nhớ nữa chuyện của mìnhKiếp nay đành lỡ duyên rồi. Thôi đôi bờ vai đừng rung độngÐã hết rồi còn khóc nữa chi em… Bài thơ – bài hát mang tên là Thôi, như là lời tác giả tự nhắn nhủ mình rằng hãy thôi nhớ, thôi khóc lóc khối u tình không thể nào được như ước nguyện. Ngoài ra vì 2 người chưa từng chung đôi, và những kỷ niệm nếu có thì cũng chỉ là những đồng nghiệp với nhau, nên nội dung bài hát đa số là được tưởng tượng nên bởi một người đang đau đớn vì trái tim yêu không được đáp lại: Thôi em đừng khóc nữa làm gìKỷ niệm sầu ân tình cũ xa xưa Thôi em đừng nhắc nữa làm gìTừng nẻo đường in hình bóng chung đôi… Đã từng có rất nhiều ca sĩ hát bài này, nhưng hình như Thanh Thúy chưa từng hát. Trước 1975, các ca sĩ nổi tiếng Chế Linh, Khánh Ly đều từng hátThôi, nhưng ấn tượng nhất vẫn là danh ca Thái Thanh. Giọng hát của bà nức nở và thổn thức, thể hiện được cung bậc tột cùng của nỗi lòng“lệ sầu chia ly buồn tê tái…” Click để nghe Thái Thanh hát “Thôi” trước 1975 Đông Kha (nhacxua.vn) Ngày 22/8/2024, khi ở tuổi 61, Trường Vũ - ca sĩ nổi tiếng với các ca khúc "Thân phận nghèo",... Giai điệu Bolero, với xuất xứ từ các thể loại nhạc như Rumba, Habanera, Valse và Tango, đã du nhập... Việc tặng bông trong các buổi đờn ca tài tử đã trở nên phổ biến trong những thập kỷ gần... Trong bài hát "Chiều Trên Phá Tam Giang" của nhạc sĩ Trần Thiện Thanh có câu: "Giờ này Thương Xá... Trong những thập niên 1950, 1960 và 1970, hình ảnh những chiếc taxi hai màu xanh - trắng (hoặc vàng... Những ai từng học ở trường Đại học Văn Khoa xưa, nay là trường Đại học Khoa học Xã hội... © 2020NhacXua.VN- Nhạc Xưa Thời Báo.
Được viết khi nhạc sĩ Huỳnh Anh làm trưởng ban nhạc phòng trà tại Sài Gòn và nhận lời viết nhạc cho vở cải lương cùng tên của đoàn Thanh Minh - Thanh Nga. Tác phẩm lấy cảm hứng từ hình ảnh tiếng mưa rừng Trường Sơn lạnh buốt dội vào tâm hồn người lính chiến và người con gái chốn quê nhà chờ mong. Bài hát thành công vang dội, đưa tên tuổi của nghệ sĩ Thanh Nga thăng hoa rực rỡ và trở thành bản Bolero bất hủ trong trái tim hàng triệu người Việt.
Nhạc sĩ Phạm Trọng (Sau này lấy tên đầy đủ là Phạm Trọng Cầu) sinh đúng vào ngày Noel năm 1935 tại Phnom Penh (Campuchia). Cha của ông là trắc địa sư Phạm Văn Lạng, vốn gốc Hà Nội, nhưng đang làm việc tại đây (thời Pháp thuộc, những công chức có thể được điều chuyển khắp Đông Dương: Việt Nam, Campuchia, Lào), sang năm 1943, đã đưa gia đình về Sài Gòn và mẹ của ông (bà Đào Thị Ngọc Thư) mở một nhà hàng ca nhạc mang tên Aristo. Tại đây, nhạc sĩ Phạm Trọng Cầu được tiếp xúc với những ban nhạc Philippines và một số nhạc sĩ, ca sĩ nổi tiếng trong nước. Phạm Trọng Cầu cũng bắt đầu học chơi đàn mandoline, tuy nhiên, thời gian này khá ngắn ngủi – chưa tới 2 năm thì chiến cuộc lan tràn, gia đình ông phải tản cư lên Biên Hòa. Sau khi Nhật đầu hàng quân đồng minh, gia đình ông trở về Sài Gòn, rồi chuyển dần xuống miền Tây Nam Bộ. Ở Vĩnh Long, Phạm Trọng Cầu theo học trường Tiểu học Vũng Liêm và tham gia vào Đội tuyên truyền xung phong huyện. Năm 1948, Phạm Trọng Cầu trở lại Sài Gòn, tham gia phong trào xuống đường đấu tranh của sinh viên, học sinh. Một thời gian sau, ông thoát ly và vào bộ đội Tiểu đoàn 308, rồi Trung đoàn Cửu Long. Sau đó, ông bị thương phải cưa chân, mẹ ông đã tìm cách đưa ông vào Sài Gòn cứu chữa. Năm 1953, Phạm Trọng Cầu thi vào trường Quốc gia âm nhạc và kịch nghệ Sài Gòn, và chàng trai 18 tuổi, nhớ về thời thơ ấu cắp sách đã sáng tác ca khúc Trường làng tôi… Tốt nghiệp xong, đến năm 1962 Phạm Trọng Cầu lại thi vào Nhạc viện Paris (Pháp). Tại Paris, Phạm Trọng Cầu đã viết 12 bài ca quen thuộc trên đất Pháp, trong đó có bài hát bất hủMùa Thu Không Trở Lại, được ký tên là Phạm Trọng. Với ca khúc này, ông tâm sự:“Dạo ở Paris, mình gặp và yêu một cô gái Việt Nam có mái tóc đen dài, đôi mắt buồn vời vợi. Tình yêu đang độ trăng rằm thì nàng phải về nước và không bao giờ trở lại Paris nữa. Chúng tôi chia tay vào mùa thu – khung cảnh mùa thu ở châu u rất đẹp, nhưng nếu phải chia ly trong một cái nền như vậy thì nó lại trở nên thật tê tái: Em ra đi mùa thu, mùa thu không trở lại.Em ra đi mùa thu, sương mờ giăng âm u.Ngày em đi, nghe chơi vơi não nề.Qua vườn Luxembourg. Sương rơi che phố mờ, buồn này ai có mua?Từ chia ly, nghe rơi bao lá vàng, ngập dòng nước sông Seine.Mưa rơi trên phím đàn, chừng nào cho tôi quên?Em ra đi mùa thu, mùa thu không còn nữa.Đếm lá úa mùa thu, đo sầu ngập tim tôi… Đối với tôi, đó là một mối tình xa xưa thời còn trai trẻ. Gặp nàng vào mùa xuân, mùa hạ tình nồng cháy và mùa thu nàng ra đi. Hôm tiễn nàng ra sân bay, tôi trở về nhà phải đi ngang qua khu vườn Luxembourg. Khu vườn đó, khi đi ngang, tôi chợt nhận ra mùa thu, vì chân mình đá rất nhiều lá vàng, trong tôi tự nhiên vang một giai điệu ‘Em ra đi mùa thu, mùa thu không trở lại…’ Dù là mùa thu ở Paris rất đẹp, nhưng mà từ mùa thu đó, với tôi, mùa thu không bao giờ trở lại nữa, chỉ có thế thôi”. Mùa thu trong vườn Luxembourg Nói về Phạm Trọng Cầu và bài hátMùa Thu Không Trở Lại, nhà thơ, nhạc sĩ Nguyễn Đình Toàn đã viết như sau trong tập Bông Hồng Tạ Ơn: “Sinh viên Việt Nam cùng thời với Phạm Trọng nói rằng họ đều biết hoặc thuộc Mùa Thu Không Trở Lại. Ca khúc này của Phạm Trọng, cùng với thơ Nguyên Sa, thơ Cung Trầm Tưởng, đã làm cho những ngọn đèn của ga Lyon, sương mù sông Seine, công viên Luxembourg trở thành gần gụi hơn đối với các thính giả Việt Nam, nhất là các thính giả trẻ, vào cái thời còn ít người được đi xa: Ngày em điNghe chơi vơi não nềQua vườn LuxembourgSương rơi che phố mờBuồn này ai có mua Từ chia lyNghe rơi bao lá vàngNgập dòng nước sông SeineMưa rơi trên phím đànChừng nào cho tôi quên Hôm… em ra đi mùa thuMùa thu không trở lại… Sự gần gụi, cái chất thơ mộng, lãng mạn, người ta cảm nhận được khi đọc thơ, nghe nhạc, sự thật cũng chỉ có trong tưởng tượng”. Bài hát này được nhạc sĩ Phạm Trọng Cầu sáng tác vào thập niên 1960, nhưng mang đầy đủ những đặc điểm của dòng nhạc tiền chiến với lời nhạc rất thơ, rất lãng mạn. Bài hát “mùa thu” này của ông có thể xếp cùng loại với những sáng tác mùa thu khác của các bậc tiên phong tân nhạc như Đặng Thế Phong, Đoàn Chuẩn, Văn Cao… Trước năm 1975, ca sĩ Thái Thanh đã trình bày bài hát này rất thành công. Sau này, rất nhiều ca sĩ trẻ đã hát lại Mùa Thu Không Trở Lại và xếp vào các album nhạc tiền chiến. nhacxua.vn biên soạnNguồn: Hà Đình Nguyên, Nguyễn Đình Toàn Thế hệ người trẻ sinh sau năm 1975 hẳn sẽ không xa lạ với những ca khúc có giai điệu... © 2020NhacXua.VN- Nhạc Xưa Thời Báo.
Tổng quan “Diễm xưa” là tình khúc tiền chiến diễm lệ và nổi tiếng nhất của Trịnh Công Sơn, sáng tác năm 1960 tại cố đô Huế. Tác phẩm lấy cảm hứng từ...
Tác phẩm mới được tổng hợp và đưa vào hệ thống.
Tác phẩm mới được cập nhật vào kho lưu trữ kỹ thuật số.
Tháng 5 năm 2014: Hiện tượng "Chắc ai đó sẽ về" làm khuynh đảo các bảng xếp hạng V-Pop, đồng thời mở ra cuộc tranh luận lớn nhất về vấn đề bản quyền trong lịch sử âm nhạc Việt Nam.
Bài hát 'Tiến Quân Ca' của nhạc sĩ Văn Cao từng bị đề nghị thay đổi lời nhiều lần trước khi được chọn làm Quốc ca chính thức.
Khám phá mạng lưới kết nối giữa các nhạc sĩ và ca sĩ định hình âm nhạc đại chúng Việt Nam những năm 1990-2000.
Khám phá bản đồNhững câu chuyện thâm cung bí sử, hoàn cảnh sáng tác phía sau những bài hát bất hủ.
Sự giao thoa tuyệt đẹp giữa thi ca và âm nhạc. Những bài thơ được chắp cánh bởi giai điệu.
Một góc nhìn sâu sắc về các trào lưu âm nhạc đa dạng đã nảy nở tại Sài Gòn.