Anh đứng đây là đâu
Tổng quan Tên bài hát: Anh đứng đây là đâu Người sáng tác nhạc: Đang cập nhật Người viết lời: Đang cập nhật Năm phát hành: Đang cập nhật Nội dung n...
Khám phá kho lưu trữ kỹ thuật số, nơi kết nối các thế hệ nghệ sĩ, câu chuyện đằng sau những bản nhạc bất hủ và mạng lưới tri thức âm nhạc sâu rộng.
Tổng quan Tên bài hát: Anh đứng đây là đâu Người sáng tác nhạc: Đang cập nhật Người viết lời: Đang cập nhật Năm phát hành: Đang cập nhật Nội dung n...
update_topic(strategic_intent='Creating an encyclopedia entry for Phương Vy based on the provided data, following specified formatting and content rul...
Nhạc thiếu nhi...
update_topic(strategic_intent='Creating an encyclopedia entry for Phượng Hằng based on the provided data, adhering to all specified formatting and con...
Tổng quan Bài hát "Anh vẫn buồn như xưa" được sáng tác và viết lời bởi nhạc sĩ Tăng Nhật Tuệ. Năm sáng tác: Đang cập nhật. Tăng Nhật Tuệ là một nhạc ...
Trình duyệt của bạn không cho phép chơi nhạc. Ba mươi năm - Võ Tá Hân phổ nhạc, Khắc Dũng trình bày...
Ca khúc ra đời từ kỷ niệm những chiều mưa tầm tã Sài Gòn khi nhạc sĩ Nguyễn Trung Cang đón đưa người yêu đi học về. Thay vì viết những bản tình ca u sầu đẫm nước mắt theo lối mòn thời bấy giờ, ông chọn tạo ra những nốt nhạc rộn rã, rộn ràng để xua tan cái lạnh buốt của hạt mưa, sưởi ấm trái tim người yêu bằng sự lạc quan vui vẻ. Tác phẩm nhanh chóng trở thành bài hát tủ của ban nhạc Phượng Hoàng, mang làn gió mới Pop-Rock Âu Mỹ trẻ trung thổi hồn vào phong trào nhạc trẻ Sài Gòn đầu thập kỷ 1970.
Mẹ Việt Nam là tên một bản trường ca của Phạm Duy, khởi soạn tháng 11, năm 1963 và hoàn tất vào tháng 5 năm 1964. Đây là trường ca thứ hai của Phạm Duy sau Con đường cái quan và cùng với Con đường cái quan là 2 trường ca nổi tiếng nhất của ông. Về hoàn cảnh sáng tác của trường ca này, nhạc sĩ Phạm Duy có kể lại trong hồi ký: “Tình hình ở Việt Nam thời điểm 1963-1965 là những sự chia rẽ lớn lao (…) Vào lúc này, tôi còn nhận thấy tình hình âm nhạc nói chung có vẻ suy đồi với loại nhạc chỉ có tính cách biểu diễn cho mọi người ngồi nghe, dùng những ca sĩ mặt hoa da phấn với lời ca ngon ngọt để xoa dịu lòng người. Tôi bèn vác máy tape recorder có sẵn ampli, speaker hiệu AKAI và băng nhạc CON ÐƯỜNG CÁI QUAN tới sinh hoạt với sinh viên và thanh niên. Ðây là lần đầu tiên giới trẻ được tham gia mạnh mẽ vào các cuộc ca hát. Khi chế độ cũ (đệ nhất cộng hòa) ra đi thì bắt đầu tương đối có tự do, sinh viên cũng như tất cả mọi người bắt đầu có sự tự do sinh hoạt. Trước hết tuổi trẻ họp nhau lại, cùng hát chung những bản hùng ca cũ của ngày xưa.Bây giờ tôi đem tới cho họ bản trường ca CON ÐƯỜNG CÁI QUAN và cho in ronéo lời ca để phát cho các bạn trẻ, mời mọi người hát theo với ca sĩ trong băng nhạc. Dù sao thì những anh hùng ca hay bản trường ca này là những bài hát mà thanh niên đã biết tới rồi. Muốn lôi cuốn tuổi trẻ, tôi cần phải có cái gì mới để cung cấp cho họ. Như đã nói ở trên, trong tình trạng xáo động và chia rẽ của thời này, ai cũng muốn đi tìm mẫu số chung. Không cần tìm ở đâu xa xôi, tôi thấy ngay rằng: Mẫu số chung là Mẹ Việt Nam vậy! Muốn tìm lại tổ quốc, đồng bào, con người, nhân đạo, phải tìm đến Mẹ Việt Nam. Tôi bèn soạn trường ca MẸ VIỆT NAM” Nhận xét về tác phẩm này của mình, nhạc sĩ Phạm Duy nói: Nếu như Con Đường Cái Quan là một hành ca, ghi lại bước tiến của dân tộc ta trên một sinh lộ nhất quyết không chịu chia cắt, thì Mẹ Việt Nam là một âu ca, ca tụng Mẹ Tổ Quốc và những Mẹ điển hình trong truyền kỳ lịch sử nước nhà, đề tài và cảm hứng nhắm dựa vào tình thương yêu và tính hiếu hoà, tính tình này đã sinh tồn mạnh mẽ trên đất ta và phải được truyền đi trong thế giới tàn nhẫn hiện tại. Bài trường ca mang hình ảnh mẹ Việt Nam, một khái niệm trừu tượng trong dân gian, qua đó đã đồng hóa thành lịch sử Việt Nam và gửi gắm thông điệp tình thương dân tộc. Trường ca gồm có 4 phần Phần 1 – Đất mẹ: Lúc trẻ tuổi, mẹ Việt Nam được biểu tượng bằng đất màu tươi tốt, đa tình, nền tảng của gia đình, ruộng nương, làng nước… Phần 2 – Núi mẹ: Khi đứng tuổi, mẹ hiện thân là núi non sắt đá, trong sự hi sinh ròng rã, vẫn bền bỉ đợi chờ và che chở người chinh phu chưa hết nợ đao binh. Phần 3 – Sông Mẹ: Mẹ còn âm thầm xót thương lũ con sông ngòi, có những đứa dại dột, hiếu thắng, phản bội mẹ vì sự tranh giành lẫn nhau, gây oán hận phân chia, làm nát tan lòng mẹ… Phần 4 – Biển mẹ: Vào lúc tuổi già, mẹ trở thành biển cả đại lượng bao dung, kêu gọi và ôm đón đàn con giang hồ dù có thành công hay thất bại. Nước mắt vui mừng của mẹ lúc gặp con bốc lên trời cao làm mây đầy đặn và ấm áp, bay đi rửa sạch địa cầu bằng ơn mưa móc, cho các lớp phù sa được Mẹ gửi vào Đất Cũ nối chặt chu kỳ “Mẹ Việt Nam”. Bản Trường ca này tràn ngập giai điệu dân gian mà lại chuyên chở bằng những tiếng hát đầy tình tự dân tộc của Ban Hoa Xuân, là những danh ca như Thái Thanh, Duy Khánh, Trần Ngọc và sự trợ lực của nhóm hòa ca Thái Hằng, Kim Tước, và Nhật Trường. Phần hòa âm và trình tấu dàn nhạc do các nhạc sĩ Nghiêm Phú Phi (dương cầm), Y Vân, Đan Thọ (vĩ cầm) và các nhạc sĩ khác đảm trách. Đầu tiên, mời bạn nghe Phần đầu của bài hát: Click để nghe Ban Hoa Xuân hát Đất Mẹ trong bản thu âm đầu tiên năm 1975 Trường ca mở đầu bằng hình ảnh một người phụ nữ nông thôn không son không phấn: Mẹ Việt Nam, không son không phấnMẹ Việt Nam, chân lấm tay bùnMẹ Việt Nam, không mang nhung gấmMẹ Việt Nam, mang tấm nâu sòng. Bốn câu này được Xuân Vũ, trong cuốn Nửa thế kỷ Phạm Duy nhận xét: “Tôi xin chịu. Không có ai mô tả Mẹ Việt Nam nổi đến thế. Mà chỉ trong có 16 chữ! Như thế là quá tài tình vì tả thể chất mà người đọc nhận thấy cả tâm hồn. Tấm áo nâu, rướn mình đi từ núi rừng cao ở bản Tình Ca càng nổi bật ở đây, vì là tấm nâu sồng của Mẹ Việt Nam là tấm áo nâu mang hồn sông núi. Những ý tưởng cao đẹp tuôn trào ra ngón đàn.” Nhạc sĩ miêu tả hình ảnh người người phụ nữ nông phu vất vả từ hàng nghìn năm về trước, hình ảnh này đã từng thấy trong ca khúc Tình Ca của 10 năm trước đó. Nhưng lần này Phạm Duy đã đi xa hơn rất nhiều, nếu như Tình Ca chỉ có 3 điệp khúc mô tả về đất nước, thì Mẹ Việt Nam đi rất sâu vào hình tượng Mẹ, dù vất vả nhưng cũng rất yêu đời bằng những câu hát tình tứ và duyên dáng khi người còn chưa là mẹ. Mở ra đoạn 2: Đôi má tươi hồng, má tươi hồng, với bàn tay trắngNhỏ người vai lẳn, vú căng tròn, tròn lưng ongMẹ nằm phơi gió trăngÔi Mẹ Việt NamNghiêng mắt xanh chải tóc mây ngàn Mẹ Việt NamBên bờ đại dươngMẹ duỗi chân dài chờ mưa tuôn Mẹ Việt NamMẹ mong, mong chồngCũng như là ruộng sâu nôngRuộng cứng hay mềmCũng êm đềm đón lưỡi cầy tìm da thơm Mẹ cười trong gió sươngÔi Mẹ Việt NamDâng tấm thân nhuộm nắng nâu rònMẹ Việt Nam Đây ruộng đồng trinhMẹ khát khao mầm, mầm tươi ngonMẹ Việt Nam Trời Đông ánh dương hồngCũng như chiều vàng mênh môngCó đàn chim én lượn trên đất xinhChứa chan tình, là tình mong chờMẹ Việt Nam. Để nói về người mẹ xinh đẹp thời thiếu nữ, nhạc sĩ dùng hàng loạt những ngôn từ mô tả sự căng tràn sức sống tuổi thanh xuân, đang mong đợi một người tình lang đến như là ruộng sâu nông chờ đón “lưỡi cầy tìm da thơm”, để gieo nên những nụ mầm mới cho một tương lai có ánh dương hồng soi chiếu trên cánh đồng vàng phì nhiêu lúa tốt. Cách so sánh ý nhị nhưng cũng khéo nhắc tới những hình ảnh quen thuộc của đời sống người nông phu. Mẹ chờ mongNgày trông tháng đợiĐợi Thần Trai đội đá vá trời với hồn Nữ Oa Mẹ giơ tay đónVới tình nước nonMẹ còn chờ mong… Ngày trông và tháng đợi, Mẹ khát khao mong chờ tình lang đến, hình tượng đó thiêng liêng được tác giả liên hệ tới truyền thuyết về mẹ Nữ Oa xưa. Trong thần thoại Việt Nam, Thần Nam (nhạc sĩ Phạm Duy gọi là Trần Trai) và Thần Nữ là hai vị thần đầu tiên sinh ra con người. Thần Nam tên là ông khổng lồ Tứ Tượng và Thần Nữ là bà Nữ Oa. Từ đây trở về sau, chúng ta sẽ thấy nhạc sĩ so sánh hình tượng Mẹ Việt Nam với rất nhiều người mẹ khác trong thần thoại, trong truyền thuyết, là kết tinh của những người mẹ, người phụ nữ có đầy đủ đức tính cao quý nhất, như là Châu Long, Kính Tâm, thiếu phụ Nam Xương, Nữ Oa, người vọng phu… và cả Hai Bà Trưng. Yêu nhau khi lúa chưa mòngThương nhau khi nắng khô đồngÔm nhau nghe nước mưa ròngChẩy vào lòng cặp tình nhân Bên nhau khi lúa xanh rờnChia nhau bông trĩu thơm vàngĐem nhau ra giữa sân làngNhìn đèn trăng kể truyện xưa Xinh xinh bãi lúa xanh rìNgoan như cơn gió đêm hèNghe hơi dưới đất vỗ vềMột lời thề nặng tình quê. Vươn vai lúa nhớn dậy thìMưa thu cưới lúa đem vềNâng niu lúa chín tới kỳKỳ nở hoa, đẹp lòng ta. Rồi Mẹ gặp được tình yêu thăng hoa như đồng thơm hương lúa trổ vàng. Ở đoạn này, chúng ta thấy đôi người đã trải qua tất cả những giai đoạn của một mùa lúa vụ, như là sự thử thách khi phải chống chọi với những hoàn cảnh khó khăn nhất để đến ngày được nhìn thấy thành quả. Họ đã bên nhau từ khi nắng vẫn còn khô đồng, rồi chờ cơn mưa xuống làm mềm đất cày bừa, cho đến khi lúa xanh rờn với bông trĩu thơm vàng, cuối cùng là tới ngày lúa chín và “cưới lúa đem về”. Đó chính là ngày mà “mẹ đón cha về”. Mẹ đón cha về, đón cha vềDuyên thề chắp nốiCuộc đời trôi nổivẫn tươi cười vì lòng vuiĐời nghèo nhưng có đôi. Ôi Mẹ Việt NamNăm tháng lo gạo gánh nuôi chồng,Mẹ Việt Nam đêm ngày thầm mongLửa bếp thơm nồng tình uyên ương, Mẹ Việt NamMẹ yêu, yêu chồng có khi Mẹ là Châu LongNợ trả thay chồng vẫn giữ lòngTrắng như ngần và sạch trong. Mẹ là tiểu Kính TâmLên chùa giải oanÔi sót thương trẻ khóc trong vườn, trẻ con hoangÔi! Mẹ từ bi. Giọt máu rơi này, Mẹ nhận là con, mẹ Việt Nam.Việt Nam có anh hùng, mắt nhung và môi sonGiữa mùa Xuân giết giặcYêu nước non, hé môi cườiNụ cười thanh bình. Mẹ Việt Nam. Mẹ đón cha về, duyên thề được tròn vẹn nên sá gì cuộc đời nổi trôi, vợ chồng sống đời nghèo nhưng vẫn luôn hạnh phúc tươi cười. Mẹ được ví như là Châu Long trong tích truyện Lưu Bình – Dương Lễ, với tấm lòng và tâm hồn trắng ngần sạch trong, Mẹ cũng được nhạc sĩ ví là từ bi như Tiểu Kính Tâm, tức Quan Âm Thị Kính khi xưa đã nhận nuôi đứa trẻ bị bỏ hoang và chăm sóc tận tình đến nỗi bị lao lực. Những tưởng là cuộc sống sẽ được mãi trôi qua trong êm đềm như vậy, nhưng rồi dòng đời còn gieo lên những cảnh can qua, mẹ lại phải gồng gánh việc nhà nuôi chồng đánh giặc. Click để nghe Ban Hoa Xuân hát Núi Mẹ trong bản thu âm đầu tiên năm 1965 Trong phần giới thiệu phần này, nhạc sĩ Phạm Duy đã viết: Khi đứng tuổi, mẹ hiện thân là núi non sắt đá, trong sự hy sinh ròng rã, vẫn bền bỉ đợi chờ và che chở người chinh phu chưa hết nợ đao binh. Nếu như ở phần 1, nhạc sĩ nói về biểu tượng Đất Mẹ từ lúc người còn là người trinh nữ cho đến lúc gặp được lang quân và bắt đâu xây lập được cuộc sống mới, thì ở phần 2, khói lửa khói bắt đầu ngập tràn, ca khúc nhắc đến sự hy sinh lớn lao của mẹ, bền bỉ đợi chờ người chinh phu muôn thuở chưa hết nợ đao binh. Hình tượng Núi là biểu trưng cho sự chờ đợi đó của mẹ, trông chồng về, chờ những điều tốt đẹp nhất quay trở lại sau cơn lửa binh đằng đẵng. Trong phần này nhạc sĩ cũng nhắc nhiều đến những huyền sử và giả sử, như là Thiếu Phụ Nam Xương, Hòn Vọng Phu, những bà mẹ của thần thoại và dân gian có những đức tính cao quý nhất. Lính vua! Lính chúa! Lính làng!Trời ơi! Giết bao nhiêu giặcCho chàng, chàng phải đi? Nước Việt Nam từ mấy ngàn năm ít khi nào mà không có lửa binh, người phụ nữ thời nào cũng lâm vào cảnh chia ly với chồng đi ra biên ải, bỏ hết những niềm vui riêng để vàng võ ngóng trông. Phần Núi mẹ mang nhiều hình ảnh nói lên cảm xúc và tâm trạng người chinh phụ, lấy 4 mùa của năm ra để lột tả dòng tâm trạng biến đổi của mẹ: Gió mùa Xuân, Mẹ bâng khuâng hỏi:Hoa trên đồi, hoa trên đồi sớm tối còn tươiGiữa ngày xuân mới, giữa hội mùa vuiSao vắng bóng người?Sao vắng tiếng cười? Tiếng trống, trống năm xưatrống đổ, đổ đêm khuyaTrên trường thành trăng ngả Cho tàn cuộc vui nhỏCho ai tiễn đưa ngườiRa đi chốn xa vời, hỡi ai. Gió hè qua, Mẹ ra con hỏiKhi trên đồi, khi trên đồi nắng quái chiều hômCó phải chàng Trương gốc miền Nam XươngXa vắng xóm làng vì cha ở chiến trường Nắng sẽ sẽ không đi, bóng Mẹ ngả trên đêIn hình người chiến sĩ, cho Mẹ nhìn con trẻCon ơi hỡi cha kìaMau ra đón cha về với con. Đoạn khúc này được nhạc sĩ viết trên nền làn điệu Ru Con phổ biến ở Việt Nam. Mùa xuân đến, mùa của những cuộc vui chơi giờ đây chỉ còn là những hoang vắng, mẹ bâng khuâng nhìn những khóm hoa trên đồi, nơi có những ngày hội, có những tiếng cười vui vẻ, có những tiếng trống hội giờ đây đã điêu tàn thời ly loạn, giờ đây chỉ có những tiếng tiễn đưa người ra trận chưa biết khi nào được gặp lại. Đoạn mùa hè sang, nhạc sĩ nhắc lại về tích người Thiếu Phụ Nam Xương, nhưng khác với phiên bản nguyên thủy, ông đã soi bóng người Mẹ trên bờ đê giữa trưa nằng hè thay vì trên vách nhà vào mỗi tối. MẸ TRONG LÒNG NGƯỜI ĐI Đồi cao, cao núi caoRừng sâu, sâu rú sâuCũng có, có lối leo đường trèoĐường treo, treo giữa đèoĐường dẫu, dẫu hiểm nghèo Đường ta, ta vẫn có lối theoĐường lên, lên núi LamĐường sang, sang Thất SơnĐường tới những chiến công ngọn nguồnHoành Sơn nghiêng dãy nằm Vạn Kiếp chốn dung thânĐường đưa ta đến với người thương.Ra đi còn nhớ ngày naoNuôi con Mẹ vẫn nguyện cầu Người sinh ra có nhauPhải thương nhau mến nhauNhưng đã có biết bao phen khổ đauGiặc xâm lăng nước nhà Phải cứu lấy dân taThì ta lên núi với Mẹ già Anh ơi! Phải lính thì điNơi quê em gìn giữ lời thềVườn dâu em đốn sâuTrẻ thơ khôn lớn mau Cho chiến sĩ bước theo tiếng Mẹ kêuMẹ giơ tay đón chàoGìn giữ lũ con yêuVì yêu, con chiến đấu dài lâu. Trong đoạn này, nhạc sĩ Phạm Duy nói rằng ông muốn gửi một thông điệp, đó là “Chiēn tranh không dạy chúng ta điều phải trái, lẽ thắng lẽ thua, mà dạy chúng ta một điều: người sinh ra có nhau phải yêu thương mến nhau…” Đây là đoạn hành khúc nói lên tấm lòng người ra đi, những lời dặn dò và nguyện ước của họ với người ở lại, những khó khăn trên đường đi, từ đồi núi cao cho đến rừng sâu, đồng thời cũng nhắc về những những chiến công oanh liệt trong sử xanh nơi Vạn Kiếp, những ngọn núi nổi tiếng của Việt Nam như Thất Sơn, núi Lam hay là Hoành Sơn. 8 câu cuối của đoạn này như là lời động viên tinh thần người chinh phu về sự chung thủy của người ở lại quê nhà, và những đứa con hãy còn thơ dại của chàng đang một ngày khôn lớn, rồi sẽ theo tiếng gọi đất nước và sẵn sàng nối bước theo đường của núi sông. Giữ dân! Giữ nước! Giữ làng!Chàng ơi, giữ thân cho Mẹ!Cho nàng dạy con. Ở đoạn này, người mẹ mạnh mẽ hơn bao giờ hết, người nói với chinh phu rằng hay giữ dân, giữ nước, và cũng phải giữ thân. Ở đoạn sau đó, lời dìu dặt khi nhạc sĩ sử dụng trở lại làn điệu bài dân nhạc Ru Con để nhắc về mùa thu sang, và nhắc về hình tượng người mẹ hóa đá như trong tích Hòn Vọng Phu. Gió mùa Thu, Mẹ ru con ngủCon vẫn chờ bóng cũ người xưaBốn nghìn năm qua, bóng về rồi điBóng ngã chiēn trường làm phân bón cánh đồng Tóc núi đã phơi xương, máu nhuộm cả vai nonAi làm dòng sữa cạn?Xin mời Mẹ lên ngọnNghe tin nước vui mừngCho nên Mẹ ứa đôi dòng sữa ngon. Gió mùa Đông, Mẹ không thấy mỏiĐứng trông về, đứng trông về bốn cõi trời xaXót người nông phu chắp từng manh áoThương gái gánh về thùng bánh ế cuối ngày Biết mấy nỗi thương vay, thấy trẻ nhỏ giơ tayCon ngựa người vất vả, xe nặng nề qua ngõThương thi sĩ hay buồnCho nên Mẹ hóa ra hòn núi cao. Mẹ ru con giấc ngủ mùa thu như là để vơi đi nỗi nhớ cha, người con đã chờ cha suốt từ thế hệ này đến thế hệ khác qua 4000 năm nước Việt. Nhưng thân xác đã đã hòa lẫn vào với non nước, sự ngã xuống của người cũng là để đất mẹ được vươn mình. Rồi màu Đông khép lại vòng tuần hoàn, bóng mẹ đứng chờ vẫn in bên vách núi ngày đêm không thấy mỏi, trông về bốn cõi trời xa mà xót xa do dân mình. Thấy người nông phu manh áo không lành lặn, thương người quang gánh thùng bánh ế mỗi ngày. Trong đoạn trường ca này, nhạc sĩ Phạm Duy nói rằng vì Mẹ thấy được tường tận nỗi đau của thời ly loạn, sự chia cắt sâu xé lẫn nhau, nên thành Vọng Phu hóa đá, không phải hóa đá vì mong chờ người chồng như truyền thuyết xưa, mà là vì Mẹ quá mong chờ ngày hòa bình của dân tộc. Click để nghe Ban Hoa Xuân hát Sông Mẹ trong bản thu âm đầu tiên năm 1965 Ở phần 2 của trường ca nói về sự mong chờ ngày hòa bình của người mẹ Việt Nam để rồi hóa đá như người vọng phu xưa, sang đến phần 3 này, tác giả nói rõ hơn về sự rẽ chia của non sông: “Mẹ còn âm thầm xót thương lũ con sông ngòi, có những đứa dại dột, hiếu thắng, phản bội mẹ vì sự tranh giành lẫn nhau, gây oán hận phân chia, làm nát tan lòng mẹ” – Phạm Duy Mở đầu của phần này là câu ca dao được cải biên: Chiều chiều ra đứng bờ sôngMuốn về quê MẹMuốn về quê MẹMà không có đò Nói về phần này, tác giả ghi: Người vợ nào đã sống theo chồng thì cũng thường hay nhớ đến quê mẹ, muốn về quê mẹ những ra tới bến sống thì không thấy có chuyến đò ngang nào. Sông núi cách ngăn, đường về quê mẹ vốn đã xa xôi, này vì thời ly loạn mà càng thêm xa vời vợi. Khoan hời hò khoan, ơi khoan khoan hò hò khoanAi bảo là sông, ơi sông không có đò ngangKhoan hời hò khoan, ơi khoan khoan hò hò khoanAi bảo là sông, ơi sông không chờ người sang Sông Hồng cuộn sóng lôi cuốn Sông LôSông Đà, Sông Đuống trôi xuống Sông CầuNghe Bạch Đằng Giang chôn bao nhiêu xác quân TầuSông nào cũng muốn đến trước tranh lấy công đầu Khoan hời hò khoanSông còn ngổn ngang cho nên chưa được bình anKhoan hời hò khoanSông còn mải mê cho nên chưa về Mẹ quêKhoan hời hò khoan Khoan hời hò khoan Thời điểm bài trường ca ra đời, đất nước bị chia rẽ sâu sắc. Những con sông cũng giống như những người con đất Việt, vì sự tranh giành công lao quyền lực làm mẹ Việt Nam buồn tủi. Trường đoạn này được nhạc sĩ đặt tên là Sông Còn Mải Mê, với ý nghĩa là các dòng sông cùng chung mẹ Việt Nam nhưng còn mải mê tranh công đầu với nhau, dẫn đến vùi chôn hình ảnh Mẹ như trong trường đoạn tiếp theo. Nhớ xưa, nhớ Mẹ, nhớ Mẹ xưaMẹ xuống sông rửa nhục anh hùngMẹ trôi trên dòng sông HátNước ngược xuôi đưa Mẹ đi muôn nơiNhớ chăng, nhớ Mẹ, nhớ Mẹ chăng? Chôn đáy sông mối hận yêu chồngChàng Trương có buồn thương khócRước Mẹ lên, nước thiêng sẽ giải oan Nhớ Mẹ, nhớ MẹYêu đàn con, thương đàn conNên trao thân cho nước ngoan. Nhớ Mẹ, nhớ MẹTrên trường giang mong đàn conSông trôi suốt đời trong trắng Hỡi ôi! Có ngày, có Mẹ vuiÔm sóng bơi, vớt củi sông dàiNgờ đâu sông đảo điên say máuNước cuộn mau khiến cho Mẹ chìm sâu. Nhắc về những con sông đã lưu trong sử xanh, không thể nào quên được dòng Hát giang, tức sông Đáy, là nơi hai bà Trưng đã gieo mình tự tận, sông vùi chôn thân mẹ. Nhạc sĩ cũng nhắc lại tích thiếu phụ Nam Xương, vợ của chàng Trương Sinh, vì bị nghi oan nên chỉ còn cách rửa nhục trên sông. Những câu cuối của trường đoạn này nhắc lại hình ảnh mẹ ôm sóng vớt củi sông dài và chìm sâu, gợi nhớ đến câu chuyện Anh Phải Sống của nhà văn Khái Hưng. Trong hoàn cảnh éo le, mẹ vì con mà phải hy sinh và chìm sâu xuống nước, để lại đàn con lạc đường về, như trong trường đoạn tiếp theo: Khoan hời hò khoan ơi khoan khoan hò hò khoanAi bảo là sông, ơi sông không dìm Mẹ oanKhoan hời hò khoan, ơi khoan khoan hò hò khoanAi bảo là sông, ơi sông không đổi mầu luôn Sông đỏ như māu tranh đấu sông nâuSông nghèo xanh yếu kêu cứu sông giầuSông nhuộm vàng mau chia nhau uốn khúc khoe mầuSông rồng lôi kéo lũ rắn đi cắn sông đào Khoan hời hò khoanSông tìm vẻ vang cho nên quên lời Mẹ khuyênKhoan hời hò khoanKhông tìm tình thương cho nên không đường về timKhoan hời hò khoan khoan hời hò khoan. Đoạn này có âm điệu “hò khoan” giống với đoạn 12. Về nội dung, nếu như đoạn 14 nói về sự mải mê tranh giành của các dòng sông, đại diện cho sự chia rẽ của đàn con, thì đoạn này là sự phê phán quyết liệt hơn, thể hiện qua các hình ảnh ẩn dụ: Sông nghèo xanh yếu kêu cứu sông giầuSông nhuộm vàng mau chia nhau uốn khúc khoe mầuSông rồng lôi kéo lũ rắn đi cắn sông đào.… Sông tìm vẻ vang cho nên quên lời Mẹ khuyên… Trong lịch sử, đã có những con gắn với những chiến công oanh liệt như là sông Bạch Đằng, nhưng cũng có những dòng sông tủi nhục, biểu tượng cho lòng chia rẽ, như là sông Bến Hải, sông Gianh (tức Ranh), là ranh giới của đất mẹ, của lòng người, nhuốm màu thù hận tranh giành lẫn nhau. Đó là ý nghĩa của trường đoạn tiếp theo: NHỮNG DÒNG SÔNG CHIA RẼ Nước đi là nước không vềChia đôi dòng nước chia lìa dòng sôngChia đôi bên bờ bến lạnh lùngCho Ngưu Lang và Chức Nữ ngại ngùng Chia đôi dòng sông ThươngNước bên đục bên trongNước ân tình đổi thành ra nước căm hờnChia sông Gianh phân tranh mộng đồ vươngChia con sông Bến Hải buồn thương Nước yên vui từ nguồnBỗng gây nên điều buồnDòng lệ tuôn thành sông không có linh hồnChia anh em vì quên tiếng gia đìnhChia tay chân và cắt đứt ngang mình Chia thân hình yêu đươngCắt da thịt chia xươngTrái tim buồn còn hằn in vết thương lòngSông tang thương trôi nghiêng nhịp cầu sươngCho thê lương điếm cỏ Hiền Lương Nước sông trôi bềnh bồngThiếu bao nhiêu mặn nồngVì dòng sông, dòng sông chia rẽ đôi đườngLũ con lạc lối đường xaCó con nào nhớ Mẹ ta thì về. Nhạc sĩ kết thúc phần 3 bằng một lời khuyên cho những đứa con lạc lối, sau đó là thức tỉnh tinh thần dân tộc của những người con vốn cùng một Mẹ ở trong phần 4. Bản Trường ca này tràn ngập giai điệu dân gian mà lại chuyên chở bằng những tiếng hát đầy tình tự dân tộc đó là Thái Thanh, Duy Khánh, Trần Ngọc và sự trợ lực của nhóm hòa ca Thái Hằng, Kim Tước, và Nhật Trường. Phần hòa âm và trình tấu dàn nhạc do các nhạc sĩ Nghiêm Phú Phi (dương cầm), Y Vân, Đan Thọ (vĩ cầm) và các nhạc sĩ khác đảm trách. Click để nghe Ban Hoa Xuân hát Biển Mẹ trong bản thu âm đầu tiên năm 1965 Nội dung của phần 3 – Sông Mẹ là những lo âu của Mẹ Việt Nam đối với đàn con lạc lối không tìm được đướng về, đến phần 4 thì Biển Mẹ đã bạc đầu và già đi. Về ý nghĩa của trường đoạn cuối cùng này, nhạc sĩ Phạm Duy nói: “Tôi sống vào thời đại nhiễu nhương, tình cảnh đảo điên, đạo lý xáo trộn, không còn tư vô tả, tâm vô giữ. Nên giấc mơ của tôi rất ngắn ngủi, tôi chỉ mơ sông về đến biển, đến biển rồi thi 2 sông Thương, sông Ngô, sông Bến Hải hay sông Thái Bình, sông nào cũng chỉ là sông thôi và đó là hình ảnh Biển Mẹ” Sóng vỗ miên man như câu ru êm của Mẹ dịu dàngNước biếc mênh mông như đôi tay ôm của Mẹ trùng dươngMẹ Việt Nam cho quê hương muối trắngThêm thơm mâm cơm mặn nồng Mẹ còn cho conLuôn luôn tôm to cá lớn tươi ngon đầy thuyềnMẹ hiền không lên bão tốMẹ già không đem nỗi khóMẹ là mẹ nhà cho mưa với gió hiền khô Ngày ngày vươn vaiRa khơi đón ánh dương soi con tim bồi hồiChiều chiều chơi vơiKhông nguôi thương thương nhớ nhớ con trong cuộc đời Mẹ tìm con trong gió BắcMẹ về phương Nam nắng gắtTình nhà mở cửa đem ra góp với bao laSóng vỗ êm êm như khuyên con nên trở lại Mẹ hiềnGió rít thông reo như kêu con mau trở về Mẹ yêu. Mở đầu trường đoạn là một âm điệu miên man, ấm áp, đằm thắm và nhẹ nhàng: “Sóng vỗ miên man như câu ru êm của Mẹ dịu dàngNước biếc mênh mông như đôi tay ôm của Mẹ trùng dương” Đó là tiếng vỗ về của mẹ khuyên con trở về sau khi tìm con trong gió phương Bắc và nắng phương Nam. Hình ảnh Mẹ được nhạc sĩ đồng hóa với biển, buổi sớm vươn vai đón ánh dương, chiều thì chơi vơi như nằm trong nỗi thương nhớ những đứa con xa. Mẹ cho con tôm to cá lớn thơm ngon đầy thuyền, Mẹ trùng dương không đem đến bão tố hay là nỗi khó, mà chỉ có những cơn mưa gió hiền lành vỗ về đàn con trở về. Trường đoạn này cũng thường được các ca sĩ hát riêng thành ca khúc mang tên là Mẹ Trùng Dương. Biển là biển Đông sóng gợnBiển Đông gợn sóng tứ bềGọi thuyền viễn xứ quay về Biển ĐôngHà à a hơ ơ hờ Sông ra đi từ khi non dạiTừ miền ngoài sông lại Việt NamCó từ Hi Mã Lạp SơnCũng về biển Mẹ thành con một nhàHà à a hơ ơ hờ Đoạn nhạc này rất ngắn, nhưng mang ý nghĩa về sự hòa hợp dân tộc. Dựa trên nền nhạc là tiếng ru hời của mẹ, lời hát là nội dung kêu gọi những đứa con xa xứ hoặc lầm lạc hãy mau quay trở về dưới chung một mái nhà, vì đều là con chung của một mẹ Trùng Dương – mẹ Việt Nam. Từ đó có đoạn tiếp theo, mô tả những đoàn con trở về: THÊNH THANG THUYỀN VỀ Buồm căng, buồm căng, lộng gió, gió thênh thangThênh thang thuyền vềTrên sóng trường giang thênh thang thuyền vềThuyền về trên lớp sóng vui, trên sóng vuiThuyền về trên lớp sóng vui, vui vui vui là vui Đàn con về với, với, với biển khơi, khơi Mẹ giàMẹ già đang đón chờ ta, đang đón taMẹ già đang đón chờ ta, đang đón taCó đàn chim én, én, én từ xa về rồi Quê ta đẹp lắm Mẹ ơi, ơi Mẹ ơi!Quê ta đẹp lắm Mẹ ơi, ơi Mẹ ơi!Biển êm sóng lặng, lăng, lắng nước nôi, nôi hiền lànhVề đây xây đắp mối tình, một mối tìnhVề đây xây đắp mối tình ôi tình Việt Nam Yêu nhà yêu nước, nước, nước và thương thương mọi ngườiTình tính tang tang tính tình, yêu Mẹ già, thương Mẹ taĐàn con nhớ, nhớ yêu nhauĐàn con nhớ, nhớ thương nhau. Những đứa con lưu lạc – được tượng trưng là những chiếc thuyền – dường như đã thức tỉnh khi nghe được tiếng gọi của Biển mẹ nên đã “thênh thang thuyền về”, háo hức về lại cố xứ với quyết tâm xây đắp lại tình người, dựng lại quê hương. Đêm qua chớp bể mưa nguồnĐể người trong nước hết buồn lại vuiVui buồn chút lệ rơiVui buồn khóc lại cười Mẹ cười Mẹ bốc thành hơiMây từ biển quý lên ngôi trời giàMây về khắp cõi đờiMưa rửa lỗi con người. Chớp bể mưa nguồn hàm ý nói về những thay đổi lớn lao trong đời. Ở đây, sự thay đổi đó chính là từ những thức tỉnh của đàn con làm cho mẹ mừng khóc rồi lại cười. Từ biển cả, mẹ thành mây bay khắp cõi đời rồi làm từng cơn mưa tuôn để gột rửa hết lỗi lầm của đàn con, thành những bụi phù sa vun đắp cho đời như trong đoạn tiếp theo: PHÙ SA LỚP LỚP MÂY TRỜI CUỘN BAY Triều dâng, triều dâng, ngọn sóng, sóng theo trăngTheo trăng vào bờ, ôm lớp phù sa, theo trăng vào bờNgọn triều dâng sóng nhấp nhô, sóng nhấp nhôNgọn triều dâng sóng nhấp nhô, xa xa xa là xa Đồng chua rộng nới, nới, nới thành ra, ra ruộng mềmĐền bồi cho máu về tim, lên cõi timĐền bồi cho máu về tim, lên cõi tim Có đàn cháu bé, bé, bé nhìn chim, chim ngoài trờiMây bay đẹp lắm Bà ơi, ơi Bà ơi!Mây bay đẹp lắm Bà ơi, ơi Bà ơi! Làn mây trắng cuộn, cuộn, cuốn khắp nơi, nơi đợi chờLàn mây che nắng bốn mùa, cả bốn mùaLàn mây che nắng bốn mùa, bốn mùa mộng mơHay là cho nước, nước, nước Mẹ mưa, mưa ngọt bùi Tình tính tang tang tính tìnhCho đời người thêm đẹp tươiVì đã biết, biết yêu nhauVì đã biết, biết thương nhau. Mẹ Việt Nam ơi! Mẹ Việt Nam ơi!Chúng con đã về khát khao hơi MẹChúng con xin thề giữ thơm quê MẹCuộc đời rồi phai tàn sau thế giớiChỉ còn tình yêu của Mẹ mà thôiÔi! Mẹ Việt Nam! Đoạn khúc này chỉ có vài câu, như là lời kinh cầu nguyện mang âm điệu du dương tha thiết mang lời thề của đứa con muốn “giữ thơm quê mẹ”, và hiểu rằng cuộc đời dù có phai tàn như thế nào thì thế giới sẽ vẫn “còn tình yêu mẹ mà thôi”. Đoạn kết của trường là một thông điệp về tình yêu với Mẹ Việt Nam, cũng là đoạn nổi tiếng nhất trong toàn bộ trường ca mẹ Việt Nam: Chung khúc: VIỆT NAM, VIỆT NAM Việt Nam, Việt Nam, nghe tự vào đờiViệt Nam, hai câu nóiBên vành nôi: Việt Nam, nước tôi Việt Nam, Việt Nam, tên gọi là ngườiViệt Nam, hai câu nóiSau cùng khi lìa đời. Việt Nam đây miền xinh tươiViệt Nam đem vào sông núiTự Do, Công Bình, Bác Ái muôn đời Việt Nam không đòi xương máuViệt Nam kêu gọi thương nhauViệt Nam đi xây đắp yên vui dài lâu Việt Nam trên đường tương laiLửa thiêng soi toàn thế giớiViệt Nam ta nguyện tranh đấu cho đời Tình Yêu đây là khí giớiTình Thương đem về muôn nơiViệt Nam đây tiếng nói đi xây tình người Việt Nam! Việt Nam!Việt Nam quê hương đất nước sáng ngờiViệt Nam! Việt Nam!Việt Nam muôn đời! Phần “chung khúc” này ca ngợi hình ảnh đất nước và con người Việt Nam, cùng với chí hướng, ước mơ vươn đến những điều tốt đẹp. Không lâu trước khi qua đời, nhạc sĩ Phạm Duy nói về đoạn nhạc này: “Ca khúc có tính chất xưng tụng nước ta nhan đề VIỆT NAM, VIỆT NAM rút trong trường ca Mẹ Việt Nam, là một tổ khúc kêu gọi sự đoàn kết dân tộc dưới bóng Mẹ Tổ Quốc thiêng liêng và độ lượng”. Rất nhiều người đã đánh giá cao phần xưng tụng tinh thần Việt Nam trong trường đoạn này, với những lời kêu gọi thương nhau, hòa hợp dân tộc để cùng xây đắp yên vui dài lâu. Một điều có lẽ ít người biết, là Trường Ca Mẹ Việt Nam có tổng cộng 22 đoạn, nhưng đến nay cho có duy nhất 4 đoạn được cấp phép ở Việt Nam, theo quyết định số 486/QĐ-CNTBD ngày 15/11/2012, đó là Lúa Mẹ, Mẹ Ta, Mẹ Xinh Đẹp, Mẹ Chờ Mong, đều ở trong phần 1 – Đất Mẹ. Để kết thúc bài viết, xin trích lại lời nhận xét của tác giả Đặng Tiến: Trường Ca Mẹ Việt Nam tổng hợp tất cả tình cảm của Phạm Duy đối với quê hương và những trầm luân của mệnh nước nổi trôi qua hình ảnh người mẹ, đồng thời cũng diễn tả trọn vẹn ơn sâu nghĩa nặng của cuộc đời đối với chúng ta. Gọi là Mẹ Việt Nam vì một cách nói, chứ Mẹ là Nguồn vốn không có quốc tịch. Nghe lại Mẹ Việt Nam, trở lại Mẹ hiền, là về lại Yêu Thương, về lại Cội Nguồn, về với Bản Thân. Nguyễn Minh Phước biên soạnĐông Kha hiệu đínhBản quyền bài viết của nhacxua.vn Phạm Duy viết về mùa Xuân rất nhiều. Ở đây, tôi xin nêu một vài cảm nhận về mùa Xuân... Trong số những ca khúc viết thời đi kháng chiến của nhạc sĩ Phạm Duy, hầu hết là những ca... Những ca khúc tân nhạc viết về Mùa Xuân được sáng tác vào đầu những năm 1950 vốn không phải... Trong tân nhạc Việt Nam, nhạc sĩ Phạm Duy có thể không phải là người tài năng nhất, không phải... Sau đây là bài viết của cố danh ca Quỳnh Giao nói về Đường Chiều Lá Rụng, một ca khúc... Sau khi vào tới miền Nam, hát xong tại Sài Gòn, gánh hát Đức Huy khởi sự xuống Lục tỉnh.... © 2020NhacXua.VN- Nhạc Xưa Thời Báo.
Sáng tác vào năm 1962 tại bãi biển Quy Nhơn đầy nắng gió, "Biển nhớ" ghi lại những hoài niệm ngọt ngào của Trịnh Công Sơn thời trai trẻ. Nguồn cảm hứng sâu đậm của ca khúc bắt nguồn từ bóng dáng thanh khiết của một người con gái tên là tôn nữ Bích Khê, người đã để lại dấu ấn sâu sắc trong lòng nhạc sĩ trước khi cô đi du học. Tiếng sóng vỗ triều dâng cùng những hàng dương xanh rì rào trong gió đêm Quy Nhơn đã khơi nguồn cảm hứng cho nhạc phẩm lãng mạn vô song này. Bài hát đưa người nghe về với không gian ngập tràn nỗi nhớ thương da diết, biến Quy Nhơn thành một địa danh âm nhạc đầy chất thơ của tân nhạc Việt Nam.
“Dạ Khúc Cho Tình Nhân” là một trong những bài hát nổi tiếng nhất của nhạc sĩ Lê Uyên Phương. Cũng như các ca khúc khác của ông,Dạ Khúc Cho Tình Nhânchất chứa trong đó những sự yêu thương, niềm nhớ nhung quyến luyến và nỗi đợi chờ trong vô vọng. Bài hát này được nhạc sĩ Lê Uyên Phương viết năm 1968, khi mà ông còn ở Đà Lạt, còn người yêu của ông là Lê Uyên – Lâm Phúc Anh đang bị gia đình “giam lỏng” ở Chợ Lớn – Sài Gòn để chia cách tình yêu của họ. Trong tình cảnh đó, Lê Uyên Phương cảm thấy cuộc tình mong manh và buồn như nỗi chết. Ông viết trong niềm nhớ tình nhân không nguôi: Tình nhân đã xa xôiÐời ngăn cách nhau hoàiMột lần thôi đã không thôiYêu nhau trong lo âuBiết bao lần tha thiết nhớ mong... Dạ Khúc Cho Tình Nhân – Lê Uyên & Phương hát trước 1975 Bài hát có những ca từ rất trừu tượng mà người nghe nhạc khó có thể hiểu ý nghĩa nếu chỉ nghe thoáng qua một vài lần: Ngày em thắp sao trờiChờ trăng gió lên khơiMà mưa bão tơi bờiMột ngày mưa bão không rời. Có thể thấy nhạc sĩ đã sử dụng những hình ảnh đầy tính ẩn dụ thường thấy trong thơ văn, như là “sao trời”, “trăng gió” và “mưa bão” vào ngay đoạn đầu tiên của bài hát với nhịp điệu rất vội vã, như là để thể hiện cơn sóng lòng đang rất dữ dội và rối bời của tác giả. Thật khó để biết hình tượng “sao trời” trong câu hát là đại diện cho điều gì. Để tìm hiểu điều đó, xin lật lại tập sáchKhông Có Mây Trên Thành Phố Los Angelesđược nhạc sĩ Lê Uyên Phương phát hành tại Mỹ năm 1990, ông có nhắc đến ca khúc “Dạ Khúc Cho Tình Nhân”, nhắc đến “ánh sao trời” của cuộc đời mình, từ đó có thể giải thích được phần nào ý nghĩa của bài hát này. Với đa số mọi người, tuổi hai mươi là tuổi của thanh xuân với sức sống căng tràn, của nhiều niềm mơ ước và hy vọng đến tương lai. Tuy nhiên với nhạc sĩ Lê Uyên Phương, ông đã phải trải qua một thời thanh xuân đầy chán nản, bao giờ cũng cảm thấy nhiều bất hạnh đang chờ đợi mình ở phía trước. Khi đó, cuộc đời của ông như là một bầu trời đêm u tối không một vì sao nào thắp sáng. Rồi trong bóng tối định mệnh đó, chợt một ngày có một người tình đến bên cạnh để thắp lên vì sao sáng duy nhất trong đời của ông. Đó là ngày mà nhạc sĩ đã nhắc tới trong câu đầu tiên của bài hát:“Ngày em thắp sao trời”, để thắp lên hy vọng về một ngày trăng gió lên khơi để tình nhân cùng nhau phiêu du trong vùng trời viễn mộng. Trong những tháng ngày dài buồn bã lê thê không tìm thấy niềm vui, đã có một người đến bên cạnh và làm cho cuộc đời trở nên bừng sáng. Nhưng cơn vui chỉ vừa đến thì nỗi buồn cũng nhanh chóng theo sau, làm nên những cơn“mưa bão tơi bời”, “mưa bão không rời”… “Ngày em thắp sao trời”là ngày mà cô tiểu thư Sài Thành gốc Hoa vừa tròn 15 tuổi tên là Lâm Phúc Anh (sau này là ca sĩ Lê Uyên), tình cờ gặp ông giáo 26 tuổi ở xứ lạnh Đà Lạt. Họ yêu nhau từ cái nhìn đầu tiên, sau tiếng sét ái tình, và khởi đầu cho một cuộc tình đầy giông bão sau này. Không chấp nhận con gái mình yêu một nghệ sĩ, một thầy giáo nghèo, gia đình của Lê Uyên – Lâm Phúc Anh đã ra sức ngăn cản, chia cắt. Khoảng cách 11 tuổi là quá lớn và đặc biệt là hầu như không một gia đình người Hoa nào muốn gả con gái họ cho một người khác tộc, Lâm Phúc Anh ngay lập tức bị bắt ép trở về Sài Gòn theo lệnh cha mẹ. Ánh sao trời vừa mới thắp lên đã bị mưa bão làm cho rơi rụng cùng với cơn mộng tàn. Trong những tháng ngày xa biền biệt đó, nhạc sĩ Lê Uyên Phương đã viết: Trên đôi vai thanh xuânƯớp hôn nồng bên gối đắm sayÁnh sao trời theo gió rụng rơi đầy… Cùng rót bao nhiêu ngày hoangCùng đếm bao nhiêu mộng tànRu người yêu dấu trong vùng trời đêm… Khi hát bài này trên sân khấu, có lẽ là lần cuối cùng vào năm 1999 – chỉ vài tháng trước khi qua đời – nhạc sĩ Lê Uyên Phương nói rằng ca khúcDạ Khúc Cho Tình Nhânđược ông viết vào thời điểm một ngày vừa chấm dứt để chuẩn bị cho một ngày kế tiếp. Nguyên văn lời ông nói:“Sự kết thúc của một ngày, có thể là ngày bình an cho một ngày kế tiếp bình an, cũng có thể là một ngày bất an cho ngày kế tiếp bất an. Đứng trước sự chuyển biến của thời gian, trong bóng tối, tôi đã nghĩ tới người yêu. Trong đáy sâu của tâm hồn, tôi ước ao rằng khi bình minh trở lại thì những đôi tình nhân lại có được cùng chung một số phận trong cuộc đời”. Nhạc sĩ Lê Uyên Phương nói về Dạ Khúc Cho Tình Nhân năm 1999 Không phải ước ao cùng chung đôi, chung giường chung chiếu, mà là ước ao“cùng chung một số phận trong cuộc đời”để yêu nhau, hiểu nhau, để cùng dìu dắt nhau đi đến cuối cuộc đời. Cần biết rằng, khi những giai điệu đầu tiên của bài hát này được hình thành, nhạc sĩ đang trên chuyến xe đò từ Sài Gòn trở về Đà Lạt. Lúc đó nhạc sĩ vẫn đang đi dạy ở vùng cao nguyên, còn Lê Uyên đã bị gia đình đưa về Chợ Lớn. Cuối tuần nào thầy giáo Lê Uyên Phương cũng bắt xe đi nhiều tiếng đồng hồ từ Đà Lạt về Sài Gòn chỉ để gặp người yêu trong phút chốc rồi vội vã trở về ngay trong đêm, để sáng hôm sau kịp đi dạy học. Ở tại thời điểm đó, đây chỉ là niềm ước ao của chàng trai trẻ bị chia cắt với người yêu, trong nhớ nhung, mộng tưởng nhưng lại thể hiện sự già dặn, sâu sắc của chàng nhạc sĩ si tình Lê Uyên Phương ngay khi còn rất trẻ. Những cuộc gặp gỡ vội vã rồi chia ly nhung nhớ, gần đó rồi xa đó. Miệng vừa cười, môi vừa chạm đã phải xa xôi.Mặc cho“đời ngăn cách nhau hoài”,họ vẫn yêu nhau dù phải chịu cảnh“yêu nhau trong lo âu”,bởi đôi tình nhân không thể biết được rằng sớm mai đây, ngày mới sẽ là một ngày bình an hay là bất an… Vừa hoa nở tươi môiTình nhân đã xa xôiÐời ngăn cách nhau hoàiMột lần thôi đã không thôi Yêu nhau trong lo âuBiết bao lần tha thiết nhớ mongLá hoa rừng mau xóa đường quay về… Tạm biệt người yêu để quay về, nhưng chân không muốn bước, lòng không muốn về, vẫn tha thiết nhớ mong. Trong phút chốc, người nghệ sĩ đó chỉ mong rằng“lá hoa rừng mau xóa đường quay về”, để kẻ si tình được quay trở lại nơi con tim muốn ở. Rồi khi về đến với căn phòng với 4 bức tường cô đơn và lạnh lẽo, khi chỉ còn lại một mình đối diện với khoảnh khắc đêm tàn ngày lên, với cảnh đêm tịch mịch như thể mở huyệt sâu để chôn trọn được thân người trong nỗi u buồn cô đơn vô tận, nghe lòng tê tái và cảm giác như vì sao duy nhất cũng vụt tắt mất rồi: Màn đêm mở huyệt sâuMộng đầu xin dài lâuMột vì sao lạ rơi, nghe hồn tê táitrên dòng hương khói bay… Trong nhạc của Lê Uyên Phương, hơn một lần ông nhắc về cái chếƭ. Ở thời đại của ông, người ta sống trong lo âu và đối diện với cái chế t thường trực. Và nếu có được nhau thì họ đều đã sống rất vội vã, sống trọn vẹn bên nhau, bởi vì có thể ngày mai, hay là sớm hơn vài phút nữa, vài tiếng đồng hồ nữa thôi là có thể không còn nhau được nữa. Giấc mơ xưa khăn phủ vành sôCó yêu nhau ngọt ngào tìm nhauChết bên nhau thật là hồn nhiên! Những lời ca giản dị của Lê Uyên Phương, vì đó, cho ta một cảm giác đắm say, ngây ngất, đồng thời lại chán chường rã rời kỳ lạ của tình yêu. Trong nhạc Lê Uyên Phương, như nhạc sĩ Cung Tiến đã từng nhận xét:“người ta thấy được nhiều đau đớn, nức nở. Không phải là niềm đau mê man, mà là niềm đau sáng suốt: Mở mắt thật lớn, ta nhìn nó đi thẳng vào tim ta đau nhói”. Thật vậy, giọng ca của Lê Uyên não ruột, ma quái, hơn bất cứ người ca nữ nào khác. Giọng hát chân thật hầu như luôn luôn muốn vỡ tung ra thành tiếng khóc, tiếng nức nở dài ôm nặng những lời vĩnh biệt. Bài: Đông KhaBản quyền bài viết của nhacxua.vn Đôi nghệ sĩ, đôi tình nhân, đôi vợ chồng Lê Uyên & Phương là một trường hợp rất đặc biệt... Câu chuyện tình của Lê Uyên & Phương đã trở thành một huyền thoại của làng nghệ thuật Việt Nam,... Trong làng nhạc miền Nam trước năm 1975, dòng nhạc Lê Uyên Phương có một chỗ đứng độc tôn, khác... Uống Nước Bên Bờ Suối là một trong số 12 ca khúc trong tập nhạc "Tình Khúc Lê Uyên Phương... Chuyện tình Lê Uyên & Phương đã trở thành huyền thoại trong âm nhạc Việt Nam, được khởi đầu vào... Những ca khúc nhạc Lê Uyên Phương rất khác biệt với hầu hết các ca khúc khác của nhạc trữ... © 2020NhacXua.VN- Nhạc Xưa Thời Báo.
Lan Và Điệp là cái tên nổi tiếng trong làng nghệ thuật Việt Nam, bắt đầu từ tiểu thuyết mang tên Tắt Lửa Lòng của nhà văn Nguyễn Công Hoan sáng tác năm 1933. Câu chuyện nói về mối tình lãng mạn, đầy trắc trở của cô gái tên Lan và chàng trai tên Điệp. Do mắc mưu của ông quan Phủ ở tỉnh lẻ, Điệp – học sinh nghèo – phải phụ tình vị hôn thê là Lan để cưới Thúy Liễu, con gái ông Phủ. Lan ôm mối tình tuyệt vọng bỏ nhà đến chùa để cắt tóc đi tu. Cao trào của câu chuyện khi Điệp tìm được ngôi chùa mà Lan đang tá túc, thì cũng đúng lúc nàng trút hơi thở cuối cùng. Tác phẩm “Tắt lửa lòng” nhanh chóng thu hút được sự chú ý của công chúng và được các nghệ sĩ chuyển thể ra nhiều hình thức khác nhau. Ngay từ năm 1936, soạn giả Trần Hữu Trang biên kịch lại Tắt Lửa Lòng và chuyển thể thành vở cải lương Hoa Rơi Cửa Phật năm 1936. Sau đó soạn giả Loan Thảo cũng chuyển thể thành vở mang tên Lan Và Điệp, và đây cũng là cái tên nổi tiếng nhất của câu chuyện Tắt Lửa Lòng. Năm 1964, bộ 3 nhạc sĩ Lê Dinh, Minh Kỳ, Anh Bằng sáng loạt loạt 3 ca khúc Truyện Tình Lan Và Điệp và ăn khách chưa từng thấy, đến năm 1972 đạo diễn Lê Dân làm cuốn phim Lan Và Điệp với dàn diễn viên nổi tiếng, đều xuất phát từ sân khấu cải lương là Thanh Nga, Thanh Tú, Bạch Tuyết. Cái tên Lan Và Điệp dễ gợi nhớ và dễ gọi hơn cái tên gốc của tiểu thuyết, nên từ đó phổ biến rộng rãi trong công chúng. Tác giả Nguyễn Công Hoan kể lại trong hồi ký như sau: “Trong các truyện dài của mình, có truyện Tắt Lửa Lòng và Lá Ngọc Cành Vàng chuyển thể thành cải lương. Không biết ai chuyển thể vì không ai xin phép mình. Một lần, có gánh hát cải lương về Thái Bình. Họ quảng cáon diễn vở Tắt Lửa Lòng của Nguyễn Công Hoan. Có lẽ họ không biết mình ở đấy, hoặc biết mà cố tình lờ đi không nói với mình một tiếng, nên mình cáu lắm, mới tìm đến người chủ gánh hát và cấm diễn. Tối hôm ấy, họ không dám diễn vở Tắt Lửa Lòng. Nhưng vài tối sau thì mình thấy quảng cáo là vở Lan Và Điệp, không nói tên tác giả. Từ đó Tắt Lửa Lòng đổi thành Lan Và Điệp” Trở lại với tác phẩm chuyển thể đầu tiên của Tắt Lửa Lòng là vởcải lươngHoa Rơi Cửa Phật của soạn giả Trần Hữu Trang với sự trình diễn của nghệ sĩ Năm Phỉ, Tư Út. Tác giả Ngành Mai kể lại: Buổi trình diễn khi vở hát mới ra đời ấy, do cô đào Năm Phỉ đóng vai Lan, kép Tư Út đóng vai Điệp, đôi nghệ sĩ tiền phong thượng thặng này đã mở đầu cho hai nhân vật chính Lan-Điệp trở thành bất tử với thời gian (nữ nghệ sĩ tài danh Năm Phỉ từng được huy chương của chính phủ Pháp, của Vua Miên, Quốc Vương Lào, và Hoàng Đế Bảo Đại). Trong lịch sử nghệ thuật sân khấu chưa có vở hát nào được giới mộ điệu ưa thích, đến đỗi càng về sau câu chuyện càng mở rộng xâm lấn sang các lãnh vực văn nghệ khác. Năm 1948, hãng dĩa ASIA đã cho thu âm vở cải lương này vào 4 đĩa nhựa với tựa đề “Hoa rơi cửa Phật”, với sự tham gia của các danh ca Tư Sạng (Lan), Năm Nghĩa (Điệp), Tám Thưa (Hòa thượng), Hồng Châu (Tiểu Huệ Thông). Đĩa nhạc nhanh chóng phổ biến từ Nam chí Bắc, lan đến Cao Miên và Lào. Theo như nhà phát hành lúc ấy cho biết, kiều bào xứ Chùa Tháp tiêu thụ dĩa hát này nhiều gấp 3, 4 lần đại lý dĩa hát ở Cần Thơ. Do ở đất Miên dễ làm ăn, người ta dám mua sắm, vả lại số người sang đây lập nghiệp đại đa số là người Nam Kỳ Lục Tỉnh, mà cổ nhạc cải lương đã gắn liền với đời sống tinh thần của họ. Click để nghe lại Hoa Rơi Cửa Phật thu âm năm 1948 Dĩa “Hoa Rơi Cửa Phật” cũng được đưa sang Lào và cả ở bên trời Tây, do vậy mà kiều ở Pháp vẫn còn những người lưu giữ các dĩa hát xưa ấy. Song song đó cuốn bài ca “Hoa Rơi Cửa Phật” cũng được ra đời bán ở các chợ miền quê, chợ nhỏ, lớn nào cũng có người bán. Rồi cũng từ đó các gánh hát bầu tèo (gánh hát nhỏ) ở thôn quê đã sao chép lời ca, lời đối thoại, rồi thêm thắt vào dựng lên tuồng cải lương “Lan và Điệp” phục vụ bà con ở thôn quê và cũng được hoan nghinh. Năm 1970, khi phong trào kịch nói lớn mạnh, ban kịch Kim Cương đã trình diễnvở kịch nói “Lan và Điệp”,do chính nghệ sĩ Kim Cương thủ vai Lan (Kim Cương là cháu ruột của nghệ sĩ Năm Phỉ – người đầu tiên đóng vai Lan). Vở kịch này cũng thu hút được sự chú ý của khán giả không kém cải lương và nhanh chóng được phát trên truyền hình lúc đó. Cùng thời điểm này, kịch bản cải lương Chuyện tình Lan và Điệp của tác giả Loan Thảo với sự trợ giúp của soạn giả Thế Châu đã được thu thanh và trở thành bản ghi âm chuẩn mực nhất cho vở tuồng này tính đến hiện tại. Tham gia vở diễn là các giọng ca nổi tiếng như Chí Tâm (Điệp), Thanh Kim Huệ (Lan), Tú Trinh (Thúy Liễu), Hữu Phước (ông Tú – ba của Lan),… Nghe tuồng Lan Và Điệp thập niên 1970 Lan Và Điệp cũng đi vàotân nhạctừ năm 1964, trở thành bài hát đầu tiên mở màn thành công rực rỡ cho sự kiết hợp của bộ 3 nhạc sĩ Lê Minh Bằng. Vào khoảng năm 1964-1965, khi cái tên Lê Minh Bằng chưa được sử dụng thì 3 nhạc sĩ Lê Dinh, Minh Kỳ và Anh Bằng đã thử nghiệm sáng tác cùng nhau, và 1 trong những ca khúc đầu tiên chính làChuyện Tình Lan Và Điệp 1(tên chính xác làTruyện Tình Lan Và Điệp – ca khúc 1)– Bài hát có doanh số bán nhạc tờ được hàng triệu bản, một kỷ lục vào thời đó. BàiTruyện Tình Lan Và Điệpđược ký tên sáng tác là Mạc Phong Linh – Mai Thiết Lĩnh – một cái tên rất lạ, được nhạc sĩ Lê Dinh giải thích là một phần muốn gây sự chú ý đến công chúng, một phần là vì cả 3 không tự tin về sự thành công của một ca khúc “ăn theo” tuồng cải lương rất nổi tiếng thời ấy, nên không muốn lấy bút danh chính vì lỡ có ca khúc bị thất bại thì không bị ảnh hưởng đến danh tiếng nhiều năm của các nhạc sĩ. Trái ngược với sự lo sợ đó,Truyện Tình Lan Và Điệpcó được thành công chưa từng có, làm tiền đề để họ cùng sáng tác thêm Lan Và Điệp 2,3 – cũng đều rất ăn khách. Trong vài chục sáng tác nổi tiếng của nhóm Lê Minh Bằng, bộ 3 ca khúc Truyện Tình Lan Và Điệp vẫn là ăn khách và bán chạy nhất. Bài hát này được Nhật Trường và Hoàng Oanh thu thanh lần đầu trong dĩa nhựa và liên tục được phát trên đài phát thanh những năm giữa thập niên 1960. Khán giả yêu cầu phát thanh“Truyện Tình Lan và Điệp”hàng ngày, hàng tuần, liên tiếp trong nhiều tháng trời, tầng suất phát gấp chục lần các bài hát khác. Click để nghe Truyện Tình Lan Và Điệp (Nhật Trường – Hoàng Oanh) Các bản nhạc tờ của bài hát được in ra không đủ bán. Nhà in Tương Lai ở đường Trần Hưng Đạo có bao nhiêu máy in cũng được sử dụng để in “Truyện Tình Lan và Điệp 1″ (Sau đó là Lan và Điệp 2,3) ròng rã suốt ngày đêm, nhạc sĩ Lê Dinh phải xuống nhà in ngủ lại để giám sát việc in ấn, đề phòng nhà in cho in nhiều hơn số lượng đặt hàng để tuồn bán lậu. Tổng cộng là gần 4 triệu rưỡi bản nhạc (của 3 ca khúc) được in ra trong vòng hai năm. Mỗi bản nhạc được bán ra 5 đồng thì tổng thu về được gần 15 triệu đồng, sau khi đã trừ chi phí. Nhạc sĩ Lê Dinh kể lại: “Chúng tôi không bao giờ có thể ngờ được những bài như “Truyện Tình Lan và Điệp”, “Cô Hàng Xóm” và nhiều bài khác – cũng thuộc loại bài có lời ca hợp với đa số người bình dân – lại được phần đông mến chuộng. Bằng cớ là mỗi lần xuất bản đến 10.000 bài, chỉ trong vòng một tuần lễ là hết sạch. Các đại lý yêu cầu tái bản tới tấp, chúng tôi phải có mặt suốt đêm trong nhà in Tương Lai, đường Trần Hưng Đạo, để lo in cho kịp. Có nhiều bài có mức phát hành lên đến cả trăm ngàn bản. Chúng tôi đã đúc kết được điều quý giá, là muốn một bài nhạc được phổ thông và được chấp nhận thật sâu trong dân chúng, ngoài nét nhạc dễ thuộc, dễ nhớ… còn phải thật dễ thương. Nghĩa là âm điệu phải uyển chuyển, có hồn nhạc, thính giả dễ nhớ thoang thoáng âm điệu khi nghe qua lần đầu. Về phần lời ca, đừng quá giản dị (đại loại như “Ước gì mình đừng ngăn cách, nhà mình chung vách, hai đứa mình thức trắng đêm nay”), nhưng cũng đừng quá cầu kỳ, đừng bắt người ta nghe nhưng không hiểu gì hết…” Ngòi ra, Lan Và Điệp cũng được đưa lênmàn ảnh rộngnăm 1972, đó là cuốn phim mang tên Tình Lan Điệp của hãng Dạ Lý Hương Phim. Lời giới thiệu của phim được ghi như sau: Sau lần đầu tiên thành công vượt bực về phim Quái Đản “Con Ma Nhà Họ Hứa”, năm 1972 Dạ Lý Hương Phim long trọng trình chiếu một xuất phẩm giá trị Nghệ thuật và Kỹ thuật: Tình Lan Và Điệp. Phóng tác theo tiểu thuyết tình cảm bất hủ “Tắt Lửa Lòng” của cố văn sĩ lừng danh Nguyễn Công Hoan. Một bộ phim đen trắng 35mm “Tình Lan và Điệp”, dài 1 giờ 30 phút do đạo diễn Lê Dân thực hiện công phu và tốn kém nhất. Dàn cảnh vĩ đại với đền đài dinh thự, y trang cổ truyền thuần túy Việt Nam đúng theo nguyên tác “Tắt Lửa Lòng”. Phim có sự góp mặt của các diễn viên: Thanh Nga (vai Lan), Thanh Tú (Điệp), Bạch Tuyết (Thúy Liễu), Ba Vân (Ông Phủ), Ngọc Giàu (Bà Phủ), Năm Châu (Ông Giáo), Dũng Thanh Lâm (Cai Tư), Út Bạch Lan, Bé Bự, hai vua hề Tùng Lâm, Thanh Hoài, Phương Quang, Bảy Ngọc, Kiều Mai Lý, Tư Rợm… và trên 20 nghệ sĩ tên tuổi. Địa điểm quay nồng cốt là một ngôi chùa trên núi Bửu Long, đường cheo leo hiềm trở và chuyên viên phải dựng lên những chiếc lều cây khổng lồ để đặt máy lấy hình. Địa điểm kế là một ngôi nhà uy nghi rộng rãi và giàu sang, ngôi nhà đó là của ông Mười Công một nhân vật có tiếng vùng Nhà Bè, tại ngôi nhà này từng là nơi đoàn của Thẩm Thúy Hằng quay phim “Ngậm Ngùi”, đoàn Kim Cương quay phim “Mưa Trong Bình Minh”. Từ lĩnh vực cải lương, qua đến điện ảnh thì Thanh Nga vẫn tiếp tục được giao cho vai Lan – người sư nữ trẻ đẹp lòng còn vướng víu nợ trần ai. Ba Vân và Ngọc Giàu trong vai ông bà Phủ hóa trang theo lối xưa, đeo thật nhiều trang sức, bới tóc cổ điển, áo bà ba quần satin đen bóng loáng. Đặc biệt là cô dâu Bạch Tuyết trong vai Thúy Liễu con gái ông bà Phủ, mặc áo thụng lòe loẹt, tóc quấn với khăn vành và nón quai thao thật xưa, chân đi hài con rồng, dáng đi yểu điệu. Thanh Tú vai Điệp với áo dài khăn đóng màu đen. Đạo diễn Lê Dân đã có sáng kiến dựng lại một đám cưới xưa thật xưa và công phu nhất, một chiếc xe thổ mộ thật xưa kết đầy hoa lá xanh đỏ, một dây pháo dài 25 thước đã được đốt lên rộn rã trong ngày tân hôn. Câu chuyện nói về một thanh niên tên Điệp (Thanh Tú đóng), nhà nghèo, nhưng nhờ mẫu thân buôn tần bán tảo ngược xuôi, và nhờ một người bạn thân với cha chàng khi xưa là ông Giáo (Năm Châu) giúp đỡ nên chàng vẫn được tiếp tục theo đuổi việc học, lúc nào chàng cũng mong mình sớm thành đạt để có dịp đi làm, đền đáp lại công ơn của mẹ già. Ông Giáo có một người con gái tên Lan (Thanh Nga), đã cùng Điệp đính ước rằng sau này sẽ nên duyên vợ chồng. Chuyện tình của họ đã diễn ra thật thơ mộng êm đềm trong vòng lễ giáo và được sự chấp thuận của cha mẹ hai bên. Kỳ thi đó Điệp đậu bằng Thành chung, chàng về quê báo tin mừng cho mẹ, ông Giáo và Lan hay. Chính vì chuyện thi cử này mà cuộc đời Điệp bắt đầu đã vào một khúc quanh mới với nhiều sóng gió. Quan Phủ sở tại (Ba Vân) có cô con gái là Thúy Liễu (Bạch Tuyết), vì mê đàn hát nên thất thân với Cai Tư (Dũng Thanh Lâm). Muốn cho gia đình khỏi mang tiếng xấu vì con gái chửa hoang, Quan Phủ đã cố tìm cách gài bẫy để bắt buộc Điệp phải nhận lời lấy Thúy Liễu về làm vợ. Một hôm Quan Phủ cho mời Điệp đến dùng cơm. Trong bữa tiệc, quan cố nài Điệp uống rượu thật say. Khi chàng quá chén không còn biết trời trăng gì nữa, Quan cho khiêng chàng vào nằm trên giường của Thúy Liễu. Sáng hôm sau Quan giả vờ làm dữ khi bắt gặp quả tang Điệp trong buồng của con gái mình. Dù biết mình bị gài bẫy, nhưng Điệp không có cách gì để chống lại ý muốn của Quan Phủ, chàng đành phải nhận lời lấy Thúy Liễu với cõi lòng tan nát khi nghĩ tới Lan. Một đám cưới đã được cử hành rấp rút và thật linh đình giữa chàng thư sinh tên Điệp và con gái Quan Phủ. Cũng chính trong ngày hôm đó, Lan đã âm thầm bỏ nhà tìm đến một ngôi chùa ở một miền hẻo lánh nọ để xin cắt tóc đi tu… Câu chuyện gốc trong tiểu thuyết Tắt Lửa Lòng: Truyện kể về cuộc tình lãng mạn, bi ai giữa chàng học trò nghèo tên Điệp và cô gái cùng quê tên Lan, tại làng Văn Ngoại, khu vực chợ Gỏi thuộc vùng Hải Dương xưa, thời kỳ Nguyễn Công Hoan đang dạy học ở đó. Vũ Khắc Điệp là con ông Cử làm nghề dạy học. Ông Cử kết giao với ông Tú, bố của Nguyễn Thị Lan và hai gia đình hứa gả con và kết tình thông gia với nhau. Khi ông Cử mất, mọi công việc lo toan cho Điệp học hành đều do ông Tú đảm nhiệm. Tình cảm hai nhà gắn bó keo sơn. Trần Thúy Liễu là con gái ông Phủ Trần, tính cách xấu xa, tinh nghịch, phải lòng và có bầu với Tư Kềnh, một lính khố xanh đóng gần nhà Thúy Liễu. Điệp sau khi thi lần đầu bằng Thành Chung bị trượt, đến khi thi lần hai thì gặp ông Phủ Trần là bạn học khi xưa với ông Cử – bố của Điệp, ông Phủ có hứa giúp đỡ Điệp đỗ kỳ thi này và còn tìm việc làm cho tại Phủ. Điệp ở nhà ông Phủ Trần và bị mắc lừa nằm ngủ với Thúy Liễu trong lúc say rượu, nên ông Phủ Trần tìm mọi cách ép Điệp cưới Thúy Liễu để tránh mọi dị nghị của xã hội và kiếm cho con mình một tấm chồng hợp pháp. Đồng thời ông Phủ Trần cũng đuổi mọi người làm việc ở Phủ để không ai còn biết Thúy Liễu có quan hệ trước đó với Tư Kềnh. Sau khi nhờ một ông chánh án Phủ Trần để giúp đỡ thi đậu thì Điệp mắc ơn ông Phủ Trần đó và bị ông ta dụ uống say và bỏ vào chung phòng với cô con gái mập và không được nết na lắm của ông ta tên là Thúy Liễu. Bị vu cho ngủ chung với Thúy Liễu, thế nên ép Điệp phải cưới cô ta. Gia đình Lan và Điệp hết sức buồn rầu vì việc này. Ngày Điệp cưới Thúy Liễu cũng là ngày Lan cắt tóc đi tu. Nhưng chỉ sau vài tháng thì cãi nhau và Điệp li dị với Thúy Liễu. Rồi Điệp đi tìm đến ngôi chùa nơi Lan tu và giật chuông nhưng Lan không những không tiếp mà còn cắt dây chuông. Vậy nên Điệp thất vọng đi luôn, và muốn gầy dựng cơ nghiệp trước rồi quay lại chuyện nhân duyên sau. Sau đó Thúy Liễu lấy chồng khác là Hoàng Xuân Long – một ông quan Phủ và có 3 đứa con, có một người tên là Hoàng Trần Vũ cùng họ với Vũ Khắc Điệp. 13 năm sau, cha mẹ của Lan, Điệp và Thúy Liễu đều mất. Người con tên Vũ bị đối xử lạnh nhạt, cả gia đình không yêu thương và cả mẹ và cha nuôi cũng ghẻ lạnh. Vũ biết Điệp là chồng trước của mẹ mình và khi cha nuôi hắt hủi đưa địa chỉ thì Vũ đến tìm Điệp. Điệp kể lại sự oan trái của cả hai và đưa địa chỉ của cha đẻ cho Vũ. Vũ đi tìm cha và biết được sự thật rằng ngày ấy Thúy Liễu đã quyến rũ người canh gác tên Cách này, và khi sinh ra Vũ bị Thúy Liễu bóp cổ nhưng Vũ vẫn không chết. Vũ quay về bệnh viện nơi Điệp làm việc và định gửi hai hộp kẹo có thuốc độc cho ba và mẹ mình nhưng bị Điệp biết nên tráo lại. Cũng vào ngày đó, Điệp nhận được một bệnh nhân sắp chết là Lan. Điệp khi đó mới biết rằng, Lan vì quá buồn nên không đọc thư của Điệp và ôm hận một mình trong lòng mà gây bệnh. Đông Kha – nhacxua.vn Ngày 22/8/2024, khi ở tuổi 61, Trường Vũ - ca sĩ nổi tiếng với các ca khúc "Thân phận nghèo",... Giai điệu Bolero, với xuất xứ từ các thể loại nhạc như Rumba, Habanera, Valse và Tango, đã du nhập... Việc tặng bông trong các buổi đờn ca tài tử đã trở nên phổ biến trong những thập kỷ gần... Trong bài hát "Chiều Trên Phá Tam Giang" của nhạc sĩ Trần Thiện Thanh có câu: "Giờ này Thương Xá... Trong những thập niên 1950, 1960 và 1970, hình ảnh những chiếc taxi hai màu xanh - trắng (hoặc vàng... Những ai từng học ở trường Đại học Văn Khoa xưa, nay là trường Đại học Khoa học Xã hội... © 2020NhacXua.VN- Nhạc Xưa Thời Báo.
Ra đời trong giai đoạn Trịnh Công Sơn đã trải qua bao sóng gió thăng trầm thời cuộc và bắt đầu tìm thấy sự thanh thản từ triết lý Phật giáo. Tác phẩm ví cuộc đời con người như một hành trình loanh quanh vượt qua bao dâu bể cuối cùng cũng quay về với cội nguồn đất mẹ tĩnh lặng. Những nốt nhạc thong thả trầm mặc tựa tiếng chuông chùa thanh lọc tâm hồn, giúp người nghe buông bỏ phiền muộn, chấp nhận lẽ vô thường của tạo hóa bằng sự thanh thản tự tại vô biên.
Tổng quan “Diễm xưa” là tình khúc tiền chiến diễm lệ và nổi tiếng nhất của Trịnh Công Sơn, sáng tác năm 1960 tại cố đô Huế. Tác phẩm lấy cảm hứng từ...
Tác phẩm mới được tổng hợp và đưa vào hệ thống.
Tác phẩm mới được cập nhật vào kho lưu trữ kỹ thuật số.
Tháng 5 năm 2014: Hiện tượng "Chắc ai đó sẽ về" làm khuynh đảo các bảng xếp hạng V-Pop, đồng thời mở ra cuộc tranh luận lớn nhất về vấn đề bản quyền trong lịch sử âm nhạc Việt Nam.
Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại gia tài âm nhạc đồ sộ với hơn 600 ca khúc, trong đó phần lớn là các bản tình ca buồn.
Khám phá mạng lưới kết nối giữa các nhạc sĩ và ca sĩ định hình âm nhạc đại chúng Việt Nam những năm 1990-2000.
Khám phá bản đồNhững câu chuyện thâm cung bí sử, hoàn cảnh sáng tác phía sau những bài hát bất hủ.
Sự giao thoa tuyệt đẹp giữa thi ca và âm nhạc. Những bài thơ được chắp cánh bởi giai điệu.
Một góc nhìn sâu sắc về các trào lưu âm nhạc đa dạng đã nảy nở tại Sài Gòn.